Để học tốt môn này học sinh cần phải nắm vững kiến thức của bộ môn Toán và vận dụng một cách linh hoạt, bên cạnh đó môn học còn rèn luyện cho học sinh một khả năng tư duy, sáng tạo thông
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
1.MỞ ĐẦU 2
1.2.Lý do chọn đề tài 2
1.3 Mục đích nghiên cứu: 3
1.4.Đối tượng nghiên cứu: 3
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCHTHÀNH
TRƯỜNG THCS DÂN TỘC NỘI TRÚ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI
“HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 8 XÁC ĐỊNH BÀI TOÁN VÀ
MÔ TẢ THUẬT TOÁN”
Người thực hiện: Lê Thị Tân Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Dân tộc nội trú SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tin học
Trang 21.5.Phương pháp nghiên cứu: 3
2NỘI DUNG 3
2.1 Cơ sở lý luận 3
2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu: 4
2.3 Các giải pháp thực hiện 4
2.3.1 Hướng dẫn cho học sinh hiểu sâu hơn về khái niệm thuật toán, xác định bài toán 4
2.3.2 Hướng dẫn cho học sinh các cách mô tả thuật toán 6
2.3.3 Rèn luyện khả năng xác định bài toán và mô tả giải thuật cho học sinh thông qua các giờ dạy lý thuyết và các giờ bài tập 10
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 15
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 16
3.1 Kết luận: 16
3.2 Kiến nghị đề xuất : 17
1 MỞ ĐẦU
1.2 Lý do chọn đề tài
Với cuộc cách mạng 4.0 vạn vật kết nối internet, thông tin bùng nổ đã tác động mạnh mẽ, làm thay đổi hình thức, nội dung hoạt động kinh tế, văn hoá và xã hội loài người, vì vậy quá trình truyền tri thức, trao đổi kinh nghiệm giữa con người với con người cũng cần có sự thay đổi cho phù hợp Đối với nước ta ý nghĩa và tầm quan trọng của công cuộc cách mạng 4.0 đã đặt ra cho ngành giáo dục nhiệm vụ lớn đó là đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá hướng tới nền kinh tế trí thức.Trong nhà trường, việc ứng dụng công nghệ thông tin đã đem lại hiệu quả rõ rệt, biến những buổi học nhàm chán trở nên sinh động thông qua việc áp dụng các bài giảng điện tử, các phần mềm học tập… [3]
2
Trang 3Xuất phát từ quan điểm đường lối của Đảng, Chính phủ, từ hoàn cảnh, điều kiện, yêu cầu thực tế về phát triển kinh tế xã hội và giáo dục của nước ta, môn Tin học được đưa vào giảng dạy ở trường THCS Ngoài những chương trình Tin học ứng
dụng thì “Lập trình đơn giản” chính thức được đưa vào dạy học ở lớp 8 từ năm học
2008-2009 Điều đó chứng tỏ Đảng và nhà nước rất quan tâm đào một đội ngũ học sinh có kiến thức, hiểu biết sâu về nghành Công nghệ thông tin
Ngôn ngữ lập trình Pascal là bước khởi đầu của các môn học lập trình Đây là
một môn học khó đối với học sinh Để học tốt môn này học sinh cần phải nắm vững kiến thức của bộ môn Toán và vận dụng một cách linh hoạt, bên cạnh đó môn học còn rèn luyện cho học sinh một khả năng tư duy, sáng tạo thông qua việc phân tích thuật giải để tìm ra hướng đi đúng đắn cho bài toán lập trình Xuất phát từ yêu cầu của bộ môn và thực trạng học tập của học sinh, nên tôi chọn đề tài nghiên cứu
“Hướng dẫn học sinh lớp 8 phân tích và mô tả thuật toán”
1.3 Mục đích nghiên cứu :
- Nhằm thu thập, trau rồi kiến thức cho bản thân
- Hướng dẫn học sinh có phương pháp xác định bài toán, phân tích bài toán và
mô tả thuật toán trên máy tính một cách phù hợp nhất cho học sinh lớp 8
1.4.Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh lớp 8A
- Kiến thức, các dạng bài tập liên quan đến việc phân tích và mô tả thuật toán trong pascal
1.5.Phương pháp nghiên cứu:
- Qua kiểm tra, khảo sát thực tế học sinh lớp 8 năm học 2018-2019 để thấy những bất cập mà học sinh đang gặp phải
- Tìm hiểu tài liệu từ các giáo trình, và tham khảo tài liệu trên mạng Internet
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý luận
Pascal là một ngôn ngữ lập trình cho máy tính thuộc dạng mệnh lệnh, lập trình với pascal thuộc kiểu lập trình có cấu trúc, ngôn ngữ này rất logic và chặt chẽ và đòi
hỏi người lập trình phải có kiến thức toán học vững chắc, vì thế đây là một môn học khó đối với học sinh [5]
Khi học môn học này giúp học sinh có khả năng phát triển tư duy logic, phát triển khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và giải quyết vấn đề học lập trình sẽ gia tăng sự làm việc của trí óc, từ đó, học sinh biết cách tư duy logic để giải quyết vấn
đề Khi lập trình, học sinh cần tìm ra đáp án cho bài toán lớn thông qua việc chia nó
Trang 4ra thành từng miếng nhỏ - tương ứng với một vấn đề Tiếp đến, học sinh cần vận dụng khả năng tư duy logic để tổng hợp, sắp xếp các giải pháp theo một trình tự phù hợp
2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu :
Bước đầu làm quen với lập trình các em còn rất bỡ ngỡ, lúng túng trong việc xây dựng thuật toán, thường gặp khó khăn khi biểu diễn thuật toán, mà đây lại là một bước vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng một bài toán trên máy tính.Trong
SGK tin học quyển 3 chỉ có 1 tiết để giới thiệu cho học sinh biết về thuật toán và cách mô tả thuật toán, thời lượng như vậy là quá ít, đẫn đến việc các em hiểu mơ hồ
là điều không tránh khỏi Từ những điều kiện trên đã dẫn đến việc ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng môn học
Đa số học sinh chưa có kỹ năng phân tích thuật giải, việc xác định các bước cần thực hiện khi giải bài toán còn thiếu chính xác, đôi khi chưa chủ động sáng tạo, dẫn đến đi chệch hướng trong khi lập trình, vì vậy kết quả học tập không cao
Kết quả kiểm tra giữa học kỳ I như sau
Năm học Giữa
HK
Khối Tổng
số
Chất lượng Giỏi Khá TrungBình Yếu
2019-2020 I 8 60 4 6,6 20 33,3 26 43,3 10 16,8
2.3 Các giải pháp thực hiện
Trong việc lập trình, ngôn ngữ lập trình không quan trọng bằng phương pháp lập trình Lập trình với một ngôn ngữ cụ thể chỉ là bước cuối cùng để giải quyết vấn đề Bước trước đó là tìm ra phương pháp giải quyết, đó chính là bước mô tả thuật giải.[4]
Vì vậy để học sinh có được kỹ năng phân tích thuật giải thì ở các tiết dạy, các tiết bài tập, nhất là ở mỗi bài tập cụ thể giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kỹ năng phân tích bài toán (ở đây tôi dùng thuật ngữ bài toán tức là chỉ một lớp các bài toán
cụ thể thuộc cùng 1 loại) và kỹ năng mô tả thuật toán thông qua một số giải pháp sau:
2.3.1 Hướng dẫn cho học sinh hiểu sâu hơn về khái niệm thuật toán, xác định bài toán.
- Thuật toán (còn gọi là giải thuật) để giải 1 bài toán nào đó là một dãy hữu hạn
các thao tác đơn giản được sắp xếp theo một trật tự xác định rõ ràng và kết thúc sau một dãy hữu hạn các bước nhằm biến đổi dữ liệu vào của một bài toán thành dữ liệu
ra mô tả lời giải bài toán đó [4] Cần chỉ rõ cho học sinh thấy: Mô tả thuật giải cốt để
ta chyển giao công việc cho máy tính, là để yêu cầu, chỉ thị máy thực hiện, giải quyết
1 công việc, bài toán cụ thể nào đó của cuộc sống Bản thân máy tính là vật vô tri, do
đó, khi chuyển các bước thực hiện bài toán thành các tín hiệu điện tử thì máy tính có thể xử lý các tín hiệu điện tử đó một cách rất đơn giản (nhưng với tốc độ cực kỳ nhanh) Như vậy từ đây học sinh có thể hình dung được thuật toán chính là dãy những công việc được sắp xếp theo thứ tự để giao cho máy làm thông qua 1 chương trình nào đó mà máy có thể hiểu đươc, vì vậy việc am hiểu và sử dụng đúng thuật
4
Trang 5toán, sẽ giúp bạn giải quyết một cách dễ dàng, cùng với độ chính xác cao trong thời gian ngắn nhất
- Khi tìm giải thuật cho bài toán thì cần phải hướng dẫn cho học sinh biết cách
xác định bài toán: Phải xác định được dữ liệu vào (Những điều kiện cho trước của
bài toán INPUT) xác định dữ liệu ra (Kết quả thu được của bài toán OUTPUT) và mối quan hệ giữa chúng để có thể lựa chọn thuật toán và phương pháp lập trình thích hợp Đây là bước đơn giản nhưng lại vô cùng quan trọng, nếu ta xác đinh bài toán đúng thì hướng đi tiếp theo của bài toán mới mong đúng được
Vi dụ 1: Thuật giải Ơclid của nhà bác học cổ Hy lạp đề xuất cho bài toán tìm USCLN của 2 số nguyên a và b.
- Xác định bài toán như sau:
+ Inphut : a, b nguyên dương
+ Output: UCLN của a, b
Ví dụ 2: Tìm số lớn nhất trong dãy A các số a1,a2, …, a n
- Xác định bài toán như sau: Ta sẽ dùng biến Max để lưu giá trị phần từ lớn nhất của A
+ Input : dãy A các số a1,a2, …, an (n ≥1)
+ Output: Giá trị Max = max {a1,a2, …, an.}
* Tìm ý tưởng giải thuật: Sau khi đã xác định bài toán thì đòi hỏi học sinh phải
có ý tưởng giải thuật, đây là bước vô cùng quan trọng, phải có được ý tưởng giải thuật thì ta mới thực hiện được các bước tiếp theo
Ví dụ: Trở lại với bài toán tìm số lớn nhất trong dãy A các số a1,a2, …, an.
- Ý tưởng
+ Khởi tạo giá trị Max= a1
+ Lần lượt với i từ 2 đến N so sánh ai với Max, nếu ai>Max thì Max= ai
* Bước tiếp theo là xây dựng thuật giải.Việc xây dựng thuật giải đòi hỏi ở mỗi
bước các thao tác phải hết sức rõ ràng, không thể gây nên sự nhập nhằng, tuỳ tiện Nói cách khác, trong cùng một điều kiện, hai bộ xử lý (người hoặc máy) thực hiện cùng một bước của thuật giải thì phải cho cùng 1 kết quả[4]
Như vậy khi xây dựng giải thuật phải đảm bảo được các tính chất sau:
- Tính tổng quát: Thuật toán không đề cập chỉ một bài toán đơn lẻ mà bao hàm một lớp bài toán thuộc cùng một kiểu [4]
- Thuật giải khi xây dựng phải có tính dừng: Tức là phải dừng sau một số hữu hạn
bước thực hiện [4]
Lưu ý cho học sinh khi diễn đạt thuật giải ta ngầm định rằng nếu không gặp phép chuyển điều kiện thì bộ xử lý sẽ thực hiện tuần tự : sau bước thứ i sẽ là bước thứ i+1 Cũng cần lưu ý thêm rằng trong một số trường hợp, mặc dù số bước của một công việc nào đó là hữu hạn nhưng có thể công việc đó không có tính dừng
Ví dụ: Công việc sau đây chỉ gồm 3 bước nhưng không có tính dừng:
Bước 1: viết 1 số tự nhiên n
Bước 2: Viết số tự nhiên liền sau số n
Bước 2: quay về bước 1
- Tính xác định: Sau khi thực hiện một thao tác thì hoặc là thuật toán kết thúc
hoặc là có đúng một thao tác xác định để được thực hiện tiếp theo [4]
- Tính đúng đắn: Sau khi thuật toán kết thúc ta phải nhận được Output cần tìm [4].
Trang 6Qua đây giáo viên cũng cần phân tích cho học sinh thấy tính hiệu quả của 1 thuật giải Với cùng một bài toán (cùng điều kiện cho trước, cùng kết quả thu được) nhưng
có thể có nhiều thuật giải khác nhau Tuy nhiên cần phân tích để chọn thuật giải tốt nhất Tiêu chí “tốt” ở đây có thể hiểu là : Thuật giải phải thực hiện nhanh, ít lưu trữ
dữ liệu và các kết quả trung gian (tốn ít bộ nhớ máy tính) và nó phải áp dụng được cho bất kỳ bài toán nào trong một lớp các bài toán
2.3.2 Hướng dẫn cho học sinh các cách mô tả thuật toán.
- Khi mô tả thuật toán thì HS có thể phân làm các loại:
+ Thuật toán không phân nhánh
+ Thuật toán có phân nhánh
+ Thuật toán theo chu trình có bước lặp xác định và không xác định
* Cần chỉ rõ cho học sinh thấy có 2 phương pháp mô tả thuật giải được sử dụng phổ biến đó là :
2.3.2.1 Mô tả thuật giải bằng lưu đồ
Lưu đồ là công cụ giúp ta diễn đạt thuật giải một cách trực quan Lưu đồ được tạo
ra bởi 4 khối nối với nhau bằng các cung [5]
* Các ký hiệu trên lưu đồ
1 Khối bắt đầu Dùng để mở đầu hoặc kết thúc một chương trình
2 Khối vào ra Đưa số liệu vào hoặc in kết quả
3
Khối thao tác Biểu diễn các công thức tính toán và thay đổigiá trị của biến 4
Khối điều kiện
Dùng để phân nhánh chương trình: Tuỳ theo giá trị của biểu thức lôgic mà việc thực hiện tiếp theo sẽ chỉ dẫn đến cung nào
5 Cung Chỉ hướng truyền thông tin, liên hệ các khối
Ví dụ 1: Thuật giải cho bài toán nhập vào 1 số nguyên bất kì, kiểm tra xem số
đó có phải bội của 5 hay không, và in ra thông báo
6
Đúng Sai
Băt đầu
Đọc vào N
r = 0
N là bội của 5
N không là bội của 5
Kết thúc
Tìm số dư r của
N chia cho 5
Trang 7Ví dụ 2 : Thuật giải Ơclid của nhà bác học cổ Hy lạp đề xuất cho bài toán tìm USCLN của 2 số nguyên a và b như sau:
Tuy sơ đồ khối thể hiện rõ quá trình xử lý và sự phân cấp các trường hợp của thuật toán nhưng lại cồng kềnh Ðể mô tả một thuật toán nhỏ ta phải dùng một không gian rất lớn Hơn nữa, lưu đồ chỉ phân biệt hai thao tác là rẽ nhánh (chọn lựa có điều kiện) và xử lý mà trong thực tế, các thuật toán còn có thêm các thao tác lặp Ngoài việc sử dụng sơ đồ khối ta có thể sử dụng phương pháp liệt kê các bước hoặc phương pháp giả mã lệnh
2.3.2.2 Mô tả thuật giải bằng phương pháp liệt kê các bước:
“Tức là người lập trình nêu ra tuần tự các bước cần tiến hành, các bước được diễn đạt bằng ngôn ngữ thông thường và các ký hiệu toán học
Ngôn ngữ liệt kê từng bước nội dung như sau:
- Thuật toán: Tên thuật toán và chức năng
- Vào: Dữ liệu vào với tên kiểu
- Ra: Các dữ liệu ra với tên kiểu
- Biến phụ (nếu có) gồm tên kiểu
- Hành động là các thao tác với các lệnh có nhãn là các số tự nhiên.” [4]
Ví dụ : Thuật giải cho bài toán nhập vào 1 số nguyên bất kì, kiểm tra xem số đó có
phải bội của 5 hay không, và in ra thông báo
Bước 1: Nhập vào số nguyên N
Bước 2: Chia N cho 5 tìm số dư
Bước 3: Nếu r = 0 chuyển đến bước 5 ngược lại chuyển đến bước 4
Đúng
Sai
Bắt đầu
Đọc vào a và b
r = 0
Kết thúc
Tìm số dư r của
a chia cho b
Trả lời : USCLN là b Gán b cho a
Gán r cho b
Trang 8Bước 4 : Thông báo N không là bội của 5
Bước 5 : Thông báo N là bội của 5
Bước 6 : Kết thúc
Ví dụ : Trở lại với Thuật giải Ơclid của nhà bác học cổ Hy lạp đề xuất cho bài toán tìm USCLN của 2 số nguyên a và b như sau:
+ Inphut : a, b nguyên dương
+ Output: UCLN của a, b
Bước1 : Nhận vào số a, b
Bước 2 : Chia a cho b tìm số dư r
Bước 3 : Nếu r = 0 thì chuyển đến bước 5
Bước 4 : Gán giá trị b cho a, gán r cho b và quay về bước 2
Bước 5 : Thông báo kết quả UCLN là b
Bước 6 : Kết thúc
Khi lấy ví dụ này giáo viên cần phân tích cho học sinh thấy có các thao tác gồm:
- Nhập vào 2 số a và b
- Phép tìm dư : Chia số nguyên a cho b để tìm số dư
- Kiểm tra điều kiện và chuyển điều kiện để thực hiện tiếp một bước khác
- Phép gán giá trị: Đưa 1 giá trị cụ thể vào một biến nào đó
- Phép lặp : cho phép quay lại thực hiện từ bước 2 Trong trường hợp này bộ xử
lý lại chuyển về thực hiện bước 2
- Thông báo kết quả và cho biết đáp số của bài toán
- Kết thúc và dừng thuật giải
Như vậy qua đây ta cũng thấy Phương pháp biểu diễn này không yêu cầu người
viết thuật toán cũng như người đọc thuật toán phải nắm các quy tắc Tuy vậy, cách biểu diễn này thường dài dòng, không thể hiện rõ cấu trúc của thuật toán, đôi lúc gây hiểu lầm hoặc khó hiểu cho người đọc Gần như không có một quy tắc cố định nào trong việc thể hiện thuật toán bằng ngôn ngữ tự nhiên Tuy vậy, để dễ đọc, ta nên viết các bước con lùi vào bên phải và đánh số bước theo quy tắc phân cấp như 1, 1.1, 1.1.1,
2.3.2.3 Mô tả thuật giải bằng giả mã lệnh
Ngoài hai phương pháp mô tả thuật giải trên còn có cách mô tả thuật giải bằng phương pháp giả mã lệnh
Khi thực hiện thuật giải bằng giả mã lệnh, ta sẽ vay mượn cú pháp của một ngôn ngữ lập trình nào đó Dùng giả mã lệnh vừa tận dụng được khái niệm trong ngôn ngữ lập trình, vừa giúp người cài đặt dễ dàng nắm bắt nội dung thuật giải Tuy nhiên vẫn dùng 1 phần ngôn ngữ tự nhiên, nhưng khi vay mượn cú pháp và khái niệm của ngôn ngữ lập trình nào thì giả mã lệnh sẽ phụ thuộc vào ngôn ngữ lập trình đó [4]
Giả mã đóng vai trò như bản hướng dẫn không chính thống, là một công cụ hỗ trợ cho việc nghĩ ra hướng giải quyết vấn đề của chương trình, và cũng là một công cụ giao tiếp có thể giúp người lập trình, trình bày ý tưởng của mình với những người khác [1]
“* Các cấu trúc điều khiển có thể viết dưới dạng tựa như Tiếng Việt
- Lệnh gán
Tên biến := Biểu thức
- Lệnh rẽ hai nhánh
+ Dạng khuyết
8
Trang 9Nếu điều kiện thì câu lệnh X.nếu (đọc là “xong nếu”) + Dạng đầy đủ
Nếu điều kiện thì câu lệnh 1 Còn Câu lệnh 2
X.nếu
- Rẽ nhiều nhánh
Chọn biểu thức phụ thuộc vào
Nhãn 1: Câu lệnh 1;
Nhãn 2 : Câu lệnh 2;
…
Nhãn n : Câu lệnh n
Còn câu lệnh n+1 ;
X.Chọn
- Lệnh lặp
+ Lặp với điều kiện trước
Khi điều kiện làm câu lệnh
X.khi
+ Lặp với điều kiện sau
Lặp
Câu lệnh
Đến điều kiện;
+ Lặp với số lần định trước
Với biến := biểu thức 1 đến biểu thức 2 làm câu lệnh
X.với.” [4]
Ví dụ 1: Thuật giải cho bài toán nhập vào 1 số nguyên bất kì, kiểm tra xem số đó
có phải bội của 5 hay không, và in ra thông báo Viết thuật giải cho bài toán này
Dùng giả mã lệnh, thuật giải được mô tả như sau:
+ Inphut : N nguyên dương
+ Output: N có phải là bội của 5
Băt đầu;
Nhập vào N;
r := N mod 5;
Nếu r = 0 thì thông báo N là bội của 5
Còn thông báo N không là bội của 5
X.nếu
Kết thúc
Ví dụ 2: Bạn An nghĩ trong đầu 1 số nguyên X nằm trong đoạn từ 1 đến 100 Bạn
bình hỏi, bạn An trả lời hoặc đúng, hoặc sai Sau không quá 7 lần bạn Bình biết được
số X là số nào Viết giải thuật cho bài toán này
Dùng giả mã lệnh, thuật giải được mô tả như sau:
Biến nguyên không âm T,P,X,G;
Bắt đầu
T:= 1; P := 100;
Lặp:
G := (P+T) div 2;
Trang 10Nếu X >G thì T := G+1 còn P := G;
X.nếu;
Đến khi T = P ;
X Khi
Thông báo X = P
Kết thúc
2.3.3 Rèn luyện khả năng xác định bài toán và mô tả giải thuật cho học sinh thông qua các giờ dạy lý thuyết và các giờ bài tập
- Khi dạy tiết 25,26 ( bài 5): Từ bài toán đến chương trình – [1]
- Để minh hoạ ngoài các ví dụ SGK, GV lấy một số ví dụ sau:
Ví dụ 1[2]: Tìm thuật giải cho bài toán: Nhập vào 3 số bất kỳ rồi kiểm tra xem 3 số
đó có phải là 3 cạnh của tam giác hay không Nếu đúng hãy tính chu vi và diện tích tam giác
*Sử dụng phương pháp liệt kê các bước
+ Inphut : a, b, c
+ Output: Chu vi, diện tích tam giác
Bước 1: Nhập vào a, b, c
Bước 2 : Kiểm tra điều kiện (a+b) < c hoặc (a+c) < b và (b+c) < a đến bước 5
Bước 3: Gán : p:=(a+b+c)/2; S :=Căn bậc hai(P*(p-a)*(p-b)*(p-c)); CV=p*2;
Bước 4: In ra màn hình chu vi, diện tích
Bước 5 : Kết thúc
- Ở SGK học sinh chỉ mới biết đến mô tả thuật giả bằng phương pháp liệt kê các bước, giáo viên hướng dẫn thêm cho học sinh các phương pháp giả mã lệnh và phương pháp mô tả bằng sơ đồ
*Sử dụng phương pháp giả mã lệnh
Biến không âm a, b, c, p, CV, S
Bắt đầu
Nhập a, b, c;
Nếu (a+b)>c và (a+c)>b và (b+c)>a thì
P := (a+b+c)/2;
S := SQRT(p*(p-a)*(p-b)*(p-c)); CV := p*2;
Còn Thông báo a, b, c không phải là 3 cạnh của tam giác;
X.nếu;
Kết thúc
*Hướng dẫn học sinh cách mô tả thuật giải bằng sơ đồ để học sinh về nhà thực hiện
Ví dụ 2: Viết giải thuật cho bài toán tìm MAX của ba số a, b, c bất kỳ được nhập vào
từ bàn phím
*Sử dụng phương pháp liệt kê các bước
+ Inphut : a, b, c
+ Output: Max(a, b, c)
Bước 1: Nhập a, b, c;
Bước 2: Gán Max : = a;
Bước 3 : Nếu Max < b thì max := b
10