Do đó, nếu biết tích hợp nội dung về an toàn thực phẩm vào dạy học một cách hợp lý thì có thể giáo dục các em trong việc bảo vệ ATTP cho bản thân và gia đình,xem đây là biện pháp hữu hiệ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA 4
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
LỒNG GHÉP GIÁO DỤC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM CHO HỌC SINH QUA
MỘT SỐ CHỦ ĐỀ BÀI HỌC Ở MÔN CÔNG NGHỆ 10
Người thực hiện: Trịnh Thị Vân Anh Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Công nghệ
THANH HÓA NĂM 2020
Trang 2MỤC LỤC
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 2
1.4.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 2
2 NỘI DUNG 2
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.1.1 Tổng quan nghiên cứu 2
2.1.2 Một số khái niệm về vệ sinh ATTP 3
2.2 Cơ sở thực tiễn 3
2.2.1 Thực trạng vấn đề vệ sinh ATTP 3
2.2.2 Thực trạng giảng dạy giáo dục vệ sinh ATTP ở môn Công nghệ 10 ở các trường THPT hiện nay 4
2.2.2.1 Thực trạng giáo viên 4
2.2.2.2 Thực trạng học sinh 4
2.2.3 Giải pháp khắc phục 5
2.3 Nội dung giáo dục vệ sinh ATTP cho học sinh thông qua một số chủ đề bài dạy ở môn Công nghệ 10 5
2.3.1 Yêu cầu nội dung 5
2.3.2 Phương pháp giáo dục 5
2.3.3 Nội dung đã thực hiện để giáo dục vệ sinh ATTP cho học sinh thông qua một số chủ đề dạy học ở môn Công nghệ 10 6
2.4 Một số lưu ý và khái niệm rút ra từ quá trình giảng dạy 13
2.5 Kết quả thực nghiệm 14
2.5.1 Kết quả định lượng 15
2.5.2 Kết quả định tính 15
2.5.3 Kết luận chung về thực nghiệm 16
3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 16
3.1 Kết luận 16
3.2 Kiến nghị 16
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Thực phẩm là nguồn cung cấp dinh dưỡng không thể thiếu trong cuộc sốngcủa con người Tuy nhiên, hiện nay con người đang phải đối mặt với “ma trận”thực phẩm bẩn, không đảm bảo vệ sinh về chất lượng, về độ an toàn trong sảnxuất, bảo quản, chế biến An toàn thực phẩm đang trở thành vấn đề nhức nhốitrong xã hội khi ngày càng có nhiều người mắc các bệnh do ăn phải thực phẩmbẩn, kém chất lượng
Trước thực trạng về thực phẩm bẩn, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệtChiến lược quốc gia ATTP giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn 2030[4] Tuynhiên, hiện nay nhận thức của học sinh về bảo vệ ATTP còn hạn chế, một trongnhững nguyên nhân do việc giáo dục vệ sinh ATTP ở nhà trường ít được quantâm, dạy đơn lẻ, thiếu đồng bộ, không thường xuyên nên hiệu quả giáo dục chưacao
Là giáo viên đang trực tiếp giảng dạy bộ môn Công nghệ 10, với nhữngkiến thức liên quan nhiều đến vấn đề vệ sinh ATTP như: Trồng trọt, phân bón,sâu bệnh, thuốc hóa học BVTV, chăn nuôi, thủy sản, bảo quản, chế biến Do
đó, nếu biết tích hợp nội dung về an toàn thực phẩm vào dạy học một cách hợp
lý thì có thể giáo dục các em trong việc bảo vệ ATTP cho bản thân và gia đình,xem đây là biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất
Từ những thực tế trên, cùng với việc thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW
về đối mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; thực hiện Công văn4612/BGDĐT về dạy học phát triển phẩm chất và năng lực học sinh Tôi nhậnthấy việc tích hợp giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm vào giảng dạy sẽ mang lạihiệu quả cao, phù họp với đối tượng học sinh, gây được sự hứng thú học tập chocác em
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã tiến hành dạy học: “Lồng ghép giáodục vệ sinh an toàn thực phẩm cho học sinh qua một số chủ đề bài học ở môn
công nghệ 10”, hiệu quả mang lại là rất khả quan cả về nhận thức và hành động
trong nâng cao ý thức bảo vệ vệ sinh ATTP
1.2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về dạy học, về mất vệ sinhATTP đề xuất phương pháp dạy học tích hợp ở môn Công nghệ 10 nhằm giáodục cho các em có kỹ năng, thói quen, ý thức đảm bảo vệ sinh ATTP cho bảnthân và gia đình
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Các nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm cho học sinh thông quadạy học ở môn Công nghệ 10 Đối tượng là học sinh khối 10
Hệ thống hóa các vấn đề về vệ sinh ATTP
Trang 4Đánh giá thực trạng dạy học, thực trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm.
Đề xuất biện pháp giáo dục an toàn vệ sinh thực phẩm cho học sinh thôngqua một số chủ đề bài học ở môn Công nghệ 10
Cung cấp những kiến thức về vệ sinh ATTP… gần gũi với thực tiễn địaphương
Tạo không khí học tập tích cực, phát huy tính tự giác, sáng tạo của họcsinh, nâng cao hiệu quả lĩnh hội tri thức thông qua các hoạt động dạy học
Góp phần giáo dục ý thức vệ sinh ATTP cho học sinh Từ đây, chính các
em sẽ tuyên truyền cho người thân, gia đình và địa phương cùng chung tay đảmbảo vệ sinh ATTP
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống, khái quát hóa các tài liệu lý luận và vănbản về môi trường, ATTP
Nghiên cứu về cấu trúc, nội dung chương trình Công nghệ 10, kiến thức vềphân bón, sâu bệnh, thuốc BVTV, bảo quản chế biến sản phẩm và các nội dungliên quan đến ATTP
1.4.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra, quan sát thực tiễn: Để thu thập các thông tin, số liệu,
mô hình, mẩu chuyện, trò chơi về an toàn vệ sinh thực phẩm để sử dụng vàoquá trình giảng dạy
Phương pháp chuyên gia, tổng kết kinh nghiệm: Gặp gỡ, trao đổi, tiếp thu ýkiến của các đồng nghiệp, tổng kết kinh nghiệm tham khảo làm cơ sở cho việcnghiên cứu đề tài
Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm dạy học tại các lớp đểđánh giá hiệu quả của đề tài nghiên cứu
Phương pháp trò chuyện, vấn sâu: Gặp gỡ, trò chuyện với người dân, họcsinh từ đó nắm bắt các thông tin có liên quan phục vụ cho đề tài
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Tổng quan nghiên cứu
An toàn thực phẩm đang là vấn đề cấp bách của toàn xã hội khi mà tìnhhình mất vệ sinh ATTP ngày càng nặng nề và nghiêm trọng Với thực trạng nhucầu sử dụng thực phẩm ngày càng cao của con người thì vấn đề đảm bảo vệ sinhATTP hiện nay càng trở nên báo động hơn bao giờ hết Ở Việt Nam, tình hìnhATTP trong cả nước, nhất là khu vực đô thị, đang tạo nhiều lo lắng cho ngườidân Sức khỏe là vốn quý của mỗi con người và của toàn xã hội, do đó vấn đề
Trang 5ATTP ngày càng trở nên nóng bỏng và được cộng đồng hết sức quan tâm.
Trước thực trạng trên, thực hiện Chỉ thị số 34/CT-TTg ngày 11/12/2014của Thủ tướng Chính phủ và căn cứ thực tế công tác bảo đảm ATTP trong thờigian qua và dự báo diễn biến tình hình năm 2018, Ban chỉ đạo liên ngành về vệsinh ATTP vừa ban hành Kế hoạch số 225/K.H-ATTP ngày 13/03/2018 triểnkhai “Tháng hành động vì an toàn thực phẩm” năm 2018 (gọi tắt là “Tháng hànhđộng”)[4]
Tuy nhiên, tại một số địa phương, tình trạng vi phạm pháp luật về ATTPcòn khá phổ biến; sử dụng chất cấm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm vẫndiễn ra ở nhiều nơi; một lượng lớn thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ,không bảo đảm an toàn vẫn lưu thông trên thị trường; điều kiện chăn nuôi, cơ sởgiết mổ còn nhiều yếu kém; tình hình ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền quathực phẩm diễn ra khá nghiêm trọng; yếu tố môi trường tự nhiên, sản xuất, kinhdoanh thực phẩm chưa được quan tâm đúng mức
Từ thực tế báo động về tình hình mất vệ sinh ATTP như hiện nay gây ảnhhưởng đến sức khỏe người dân Trong khi môn Công nghệ 10 ít được quan tâmđổi mới và ít giáo dục vệ sinh ATTP thông qua dạy học về thực trạng mất vệsinh ATTP cho học sinh tham gia Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài theo hướngtrên là rất cần thiết
2.1.2 Một số khái niệm về vệ sinh ATTP
Thực phẩm: Là những thức ăn, đồ uống của con người dưới dạng tươi sốnghoặc đã qua sơ chế, chế biến; bao gồm cả đồ uống, nhai ngậm và các chất đãđược sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm[4]
Vệ sinh thực phẩm: Là mọi điều kiện và biện pháp cần thiết để đảm bảo sự
an toàn và phù hợp của thực phẩm ở mọi khâu thuộc chu trình thực phẩm[4]
An toàn thực phẩm: Là sự bảo đảm thực phẩm không gây hại cho ngườitiêu dùng khi nó được chuẩn bị hoặc ăn theo mục đích sử dụng[4]
Định nghĩa vệ sinh ATTP: Vệ sinh an toàn thực phẩm là tất cả điều kiện,biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyểncũng như sử dụng nhằm bảo đảm thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại chosức khoẻ, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, khôngchứa các tác nhân vật lý, hoá học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép,không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sứckhỏe con người[4]
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thực trạng vấn đề vệ sinh ATTP
Hiện nay thực phẩm bẩn đang tràn lan trên thị trường, không đảm bảo vềchất lượng, không rõ nguồn gốc, cộng với nhịp sống hối hả hiện nay, khiếnngười tiêu dùng khó để nhận biết và lựa chọn được đâu là thực phẩm sạch đâu làthực phẩm bẩn
Trang 6Theo báo cáo của cơ quan Chỉ đạo liên ngành Trung ương về ATTP chobiết tính đến hết tháng 10/2019, toàn quốc ghi nhận 73 vụ ngộ độc thực phẩmvới 1.950 người mắc, 1.874 người đi viện và 8 trường hợp tử vong Các bộngành, địa phương đã thành lập 21.811 đoàn thanh tra, kiểm tra tại 427.842 cơ
sở, phát hiện trên 65.000 cơ sở vi phạm, xử phạt gần 12.000 cơ sở với tổng sốtiền 43 tỷ đồng Ngoài ra, các đoàn thanh tra, kiểm tra đình chỉ lưu hành 169 sảnphẩm, tiêu huỷ sản phẩm của gần 3.000 cơ sở[4]
Bởi lẽ, ngày càng có nhiều người lạm dụng chất cấm, hóa chất, chất phụgia trong sản xuất, kinh doanh, chăn nuôi, bảo quản, chế biến nông thủy sản Dùng nước thải sinh hoạt, nước thải chăn nuôi để tưới rau làm cho hàm lượngkim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh trong rau, quả cao hơn nhiều so với quyđịnh Nhiều cơ sở chế biến không đảm bảo vệ sinh ATTP, máy móc không đảmbảo đúng quy định
Ngoài ra, việc sử dụng hóa chất BVTV gây ô nhiễm môi trường cũng nhưtồn dư các hóa chất này trong thực phẩm Việc bảo quản lương thực thực phẩmkhông đúng quy cách tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm mốc phát triển dẫn đếncác vụ ngộ độc thực phẩm, gây rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể, trong
đó có bệnh tim mạch và ung thư
Cùng với đó, các thông tin vê ngộ độc thực phẩm, tình hình vi phạm tiêuchuẩn ATTP, dịch bệnh gia súc, gia cầm xảy ra ở một số nơi, càng làm chongười tiêu dùng thêm hoang mang, lo lắng
2.2.2 Thực trạng giảng dạy giáo dục vệ sinh ATTP ở môn Công nghệ 10 ở các trường THPT hiện nay
2.2.2.1 Thực trạng giáo viên
Thực tế giảng dạy môn Công nghệ 10 ở trường THPT cho thấy, phần lớn
do các giáo viên ở các bộ môn khác đảm nhận nên sự “đầu tư” giảng dạy chưacao, việc giáo dục vệ sinh ATTP qua môn học này lại càng ít được thực hiện.Việc sử dụng các PPDH truyền thống càng làm cho HS có cách nhìn tiêu cực vềmôn học này, và nhiều HS ngày càng “ngán” môn Công nghệ Đồng thời, việctích hợp kiến thức liên môn vào dạy học ở môn Công nghệ 10 còn hạn chế.Phần lớn các giáo viên còn ngại đổi mới và lúng túng trong việc soạn giáo
án theo hướng phát huy các năng lực, vận dụng kiến thức nhằm giải quyết cácvấn đề trong học tập và thực tiễn Chưa thực sự tổ chức được phương pháp tựhọc cho học sinh, việc học tập cá nhân và hợp tác của học sinh còn hạn chế.Ngoài ra, giáo viên cũng chưa kết hợp được sự đánh giá của giáo viên và sự tựđánh giá của học sinh trong quá trình dạy học
2.2.2.2 Thực trạng học sinh
Việc học của học sinh còn bị động, phụ thuộc vào giáo viên Ít thực hànhtrực quan và tự liên hệ với thực tế cuộc sống Chưa tự rèn luyện phương pháp tựhọc, tự nghiên cứu để hoàn thành thói quen học suốt đời
Trang 7Đa số học sinh hiện nay ý thức tự giác về đảm bảo vệ sinh ATTP chưa cao.Bên cạnh đó ý thức sử dụng bừa bãi thuốc BVTV, hóa chất trong sản xuất, bảoquản, chế biến của người dân địa phương còn hạn chế nên ảnh hưởng đến các
em Hơn nữa, công việc sản xuất, trồng trọt, chế biến chủ yếu do người lớnlàm, mà đối tượng này thường có suy nghĩ “bảo thủ” nên để thay đổi ý thức đảmbảo vệ sinh ATTP không phải là dễ
Công nghệ 10 là môn học có nhiều kiến thức cơ bản về trồng trọt, phânbón, thuốc hóa học BVTV, chăn nuôi, thủy sản, bảo quản, chế biến Những nộidung trên liên quan nhiều đến vấn đề vệ sinh ATTP và rất gần gũi với học sinhđặc biệt là ở các vùng nông thôn Vì vậy, giáo dục vệ sinh ATTP qua môn họcnày là rất cần thiết và hiệu quả
2.2.3 Giải pháp khắc phục
Xuất phát từ những thực trạng trên, tôi đã thực hiện nhiều giải pháp trongviệc giáo dục vệ sinh ATTP cho các em Trong đó, với vai trò là giáo viên đangtrực tiếp giảng dạy Công nghệ 10, tôi đã mạnh dạn vận dụng kiến thức về vệsinh ATTP vào dạy học một số chủ đề, góp phần giáo dục vệ sinh ATTP chohọc sinh một cách tích cực và mạng lại hiệu quả tốt
2.3 Nội dung giáo dục vệ sinh ATTP cho học sinh thông qua một số chủ đề bài dạy ở môn Công nghệ 10
2.3.1 Yêu cầu nội dung
Trên cơ sở những hướng dẫn của Sở GD&ĐT Thanh Hóa, kế hoạch dạyhọc của nhà trường, tôi lựa chọn nội dung phù hợp nhưng dựa trên các yêu cầu:
- Chọn lọc những nội dung gần gũi, sát với thực tiễn sản xuất ở địa phương, đemlại hiệu quả cao nhất nhưng vẫn tự nhiên và nhẹ nhàng Từ đó HS có thể vậndụng và tham gia có hiệu quả việc sử dụng thực phẩm an toàn, hiệu quả ở địaphương, gia đình
- Phải làm cho bài học sinh động, gắn liền với thực tế và không bị quá tải
- Phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
- Đảm bảo tính đặc trưng và tính hệ thống của bộ môn, tránh mọi sự gượng ép
- Phải luôn phù hợp, dựa trên thực tiễn cuộc sống của bản thân HS
2.3.2 Phương pháp giáo dục
Có nhiều phương pháp để giáo dục an toàn thực phẩm cho học sinh, tuynhiên tôi chủ yếu sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
- Phương pháp đóng vai, trò chơi
- Phương pháp giải quyết vấn đề
- Phương pháp hoạt động nhóm
Trang 8Chủ đề 1: Phân bón (3 tiết - gộp bài 12, 13)
Ở chủ đề này, tôi đã sử dụng phương pháp “đóng vai” và phương pháp
“trường hợp điển hình” để giáo dục vệ sinh ATTP
Cách thực hiện:
GV tổ chức Hội thảo xây dựng mô hình “vườn rau an toàn kiểu mẫu” Hội
thảo được tổ chức theo trình tự như sau:
Bước 1: Giáo viên chọn 1-2 người làm dẫn chương trình (MC), chia lớpthành 3 nhóm, tương ứng với bà con nông dân 3 xóm sử dụng 3 loại phân bón.+ Nhóm 1: Xóm A - có các mô hình vườn rau sử dụng Phân hóa học hiệu quả + Nhóm 2: Xóm B - có các mô hình vườn rau sử dụng Phân hữu cơ hiệu quả+ Nhóm 3: Xóm C - có các mô hình vườn rau sử dụng Phân vi sinh vật hiệu quảMỗi nhóm cử nhóm trưởng, thư ký Giáo viên yêu cầu trong thời gian 10phút các nhóm cùng nghiên cứu, soạn thảo xây dựng “kịch bản” đóng vai là bàcon nông dân 3 xóm sử dụng 3 loại phân bón Sau đó mời đại diện 3 nhóm lênlần lượt đóng vai nông dân giới thiệu về phân bón đã sử dụng cho vườn rau nhàmình (mỗi nhóm trình bày 3 phút) GV đóng vai trò là Ban cố vấn và giúp đỡcác nhóm (nếu cần)
Bước 2: Các nhóm thảo luận, xây dựng “kịch bản” và phân công đóng vai.Bước 3: Đóng vai “kịch bản” MC giới thiệu lần lượt các nhóm lên đóngvai Sau khi “Hội thảo” nghe phần trình bày của 3 nhóm (chính là phân loại, đặcđiểm, tính chất, cách sử dụng 3 loại phân bón) Bà con rất băn khoăn chưa biếtlựa chọn mô hình sử dụng loại phân nào hiệu quả để tuyên dương điển hình tiêu
biểu (đảm bảo tiêu chí vệ sinh rau sạch, không làm chua đất, không gây ô
nhiễm, xanh - sạch - đẹp, tiết kiệm )
Lúc này MC sử dụng tình huống mở này để cho bà con các nhóm cùngtranh luận, phân tích, đặt câu hỏi, phản biện lẫn nhau
Nếu các nhóm không hỏi, MC có thể đưa ra một số câu hỏi có vấn đề:
?1 Vì sao bà con thường ủ hoai mục các loại phân hữu cơ trước khi bón chocây mà không dùng trực tiếp?
Trang 9?2 Có ý kiến cho rằng, các loại rau chủ yếu lấy lá nên bón nhiều phân đạm
cho sạch và nhanh cho thu hoạch, lại không ảnh hưởng gì đối với người sử dụng.
Bà con nhận định gì về ý kiến này?
?3 Phân vi sinh vật là phân có chứa vi sinh vật sống nên bón cho cây sẽ rấtnguy hiểm Bà con có đồng ý với nhận định này không? Vì sao?
Mục đích qua thảo luận bà con lựa chọn loại phân bón an toàn nhất, đảmbảo vệ sinh ATTP (phần này MC điều hành các nhóm thảo luận sôi động càngtốt)
Bước 4: HS các nhóm tham gia trao đổi, thảo luận đưa ra lời khuyên dựavào nội dung bài học và sự hiểu biết của mình Qua việc các em hiểu và tư vấnđược, sẽ có ý thức trong việc cần phải sử dụng phân bón hợp lý, đảm bảo antoàn cho cây trồng, bảo vệ đất, hạn chế dư lượng phân bón trong sản phẩm.Bước 5: Giáo viên kết luận, nhận xét, đánh giá
* Kinh nghiệm:
Từ đặc điểm, tính chất của từng loại phân bón, giáo viên cho học sinh liên
hệ với địa phương từ đó đưa ra được kỹ thuật sử dụng hợp lý, góp phần bảo vệđất, bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm
Giáo viên cho HS liên hệ với thực tiễn cách bón phân của từng gia đình,từng địa phương mình (thường bón phân theo “kinh nghiệm”) Từ đó cho các
em thấy rõ được rằng, phân hóa học phải sử dụng hợp lý, không quá lạm dụngphân hóa học tránh làm đất bị chua Phân hữu cơ (đặc biệt phân chuồng) phải ủhoai, không sử dụng phân tươi, chưa qua xử lý
Điều quan trọng nhất là phải “thay đổi ý thức” người dân trong việc đảm
bảo vệ sinh ATTP Trước hết là không bón phân tươi, phân chưa qua xử lý,không bón quá nhiều phân hóa học, đảm bảo thời gian cách ly hạn chế dư lượngphân bón trong sản phẩm
Chủ đề 2: Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến quần thể sinh vật và môi
trường (2 tiết - gộp bài 19 và 20) Đây là chủ đề có nội dung thiết thực và lồng ghép nhiều kiến thức về bảo vệ môi trường, về an toàn thực phẩm.
- Cách thực hiện:
Để tích hợp giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm, tôi tổ chức dạy học dướihình thức tổ chức “Hội thảo – Thuốc bảo vệ thực vật”
Sử dụng các phương pháp: Hoạt động nhóm, vấn đáp, đàm thoại
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ
Trước khi hội thảo, GV cử 1 MC, chia lớp thành các nhóm (tùy số lượngHS), phát giấy AO, bút, bảng phụ, phấn Yêu cầu các nhóm cử nhóm trưởng,thư ký Quan sát tiểu phẩm, kết hợp nghiên cứu SGK và suy luận, trả lời các câuhỏi sau:
Trang 10?1 Em hãy nêu tính chất hai mặt của thuốc BVTV?
?2 Sử dụng thuốc BVTV không đúng gây tác động xấu như thế nào?
?3 Tại sao ăn rau của nhà Nam có thể bị ngộ độc thực phẩm?
?4 Ở địa phương em đã áp dụng những biện pháp gì trong sản xuất nôngnghiệp để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường?
?5 Trách nhiệm của bản thân em trong việc đảm bảo vệ sinh ATTP, BVMTkhi sử dụng thuốc BVTV?
Sau khi GV giao nhiệm vụ xong, cho HS diễn tiểu phẩm:
Tiểu phẩm: “Chỉ bán không ăn!”
(Trước 1 tuần GV chọn 3 HS đóng tiểu phẩm (ưu tiên tinh thần xung phong))
MC Hôm ấy, Tùng sang nhà Nam chơi, vừa thấy Tùng, Nam đang giúp mẹ
ngoài vườn ngừng nhổ rau chạy vào vui vẻ:
Nam A! Tùng, lâu rồi không gặp nhau nhỉ, vào nhà đi cũng đến bữa rồi đểmình chạy ra chợ mua ít đồ về làm bữa cơmTùng Thôi, chỉ cần bữa rau xanh quê là được rồi!
Nam Ngần ngại lắc đầu: “rau này trồng để bán chứ không để ăn”
Tùng Thắc mắc: Sao nhà trồng mà không dám ăn?
Nam Ngần ngại đáp: Rau mẹ mình mới phun thuốc, chiều kịp nhổ đi chợ!Tùng Ngạc nhiên hỏi: Sao vừa phun thuốc xong mà bán, không sợ người taăn vào bị ngộ độc à?Nam
lại đáp: “người ăn một ít chứ có ăn hết đâu mà lo bị ngô độc, vả lại ở
đây ai chẳng thế, cứ hễ thấy rau giá cao dù chỉ mới kịp phun thuốccũng phải nhổ để bán hết, chứ để cách ly đúng ngày có mà cả nhà húp
cháo ăn thôi”
Tùng
nhỏ nhẹ từ từ nói: “Bán người ta ăn mỗi ngày một ít, lâu ngày tích lũy
nhiều và đến khi tới một lượng nhất định nó sẽ gây ra các căn bệnhđáng sợ như: Tim mạch, ung thư Mà những người mua rau của cậu làmua bằng niềm tin, tin rau cậu là rau sạch, nếu họ mà biết rau cậu phun
thuốc, không cách ly đúng ngày thì sao?” Các cụ đã dạy rằng: “Cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra” và chính việc làm của cậu đã tự
loại mình ra khỏi xã hội
Nam ngạc nhiên: Thế cơ à? Nó có tác hại ghê gớm nhỉ? Vậy mà nhà tớ chỉbiết cái lợi trước mắt mà không nghĩ tới những hệ lụy mà nó đưa lại.
MC
Câu chuyện là thế đó, chúng ta không thể thờ ơ trước vấn đề về ATTPđang tác động đến chính cuộc sống của chúng ta và cả thế hệ mai sau.Vậy thuốc BVTV vì sao có tác hại và có tác hại như thế nào? Nhờcác nhóm chuyên gia ở đây cùng đưa ra các giải pháp nhằm giảm thiểutác hại của chúng! (các đội có 10 phút suy nghĩ, ghi ra giấy và trình
bày)
Trang 11Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ hoạt động nhóm: (Mỗi nhóm 4 - 6 HS)
Áp dụng “kỹ thuật mảnh ghép” để tổ chức cho HS hoàn thành nhiệm vụ.
Thực hiện qua 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Hoạt động nhóm “chuyên sâu” Mỗi nhóm HS được giao
thực hiện một nhiệm vụ (có đánh số thứ tự 1-5) Các nhóm thảo luận để tìm câutrả lời được giao (yêu cầu tất cả các thành viên phải hiểu rõ và trình bày đượccâu trả lời của nhóm)
+ Giai đoạn 2: Hoạt động nhóm “mảnh ghép” Thành lập nhóm mới của
các thành viên của các nhóm chuyên sâu Từng thành viên của nhóm chuyên sâulần lượt trình bày câu trả lời của nhóm mình (tất cả các thành viên phải hiểu rõcâu trả lời trong phiếu học tập)
Bước 3: Báo cáo, thảo luận
+ Cử một nhóm “mảnh ghép” báo cáo kết quả (có thể chụp sản phẩm chiếu lên).Các nhóm khác nghe, nhận xét, bổ sung, nêu ý kiến thắc mắc và trình bàythêm các biện pháp bằng thơ ca, hò vè (nếu có)
+ GV nhận xét, giải thích (những nội dung HS chưa hiểu rõ) và kết luận:
Ảnh hưởng xấu của thuốc BVTV (tác hại) đến quần thể sinh vật, môitrường và con người, đó là:
+ Đối với quần thể SV: Hủy hoại quần thể sinh vật có ích đang sống trongmôi trường đất, nước, không khí; phá vỡ sự cân bằng đã ổn định của quần thểsinh vật
+ Đối với con người, động, thực vật: Khi bị nhiễm quá nhiều thuốc BVTV,chúng sẽ tồn lưu trong sản phẩm gây ảnh hưởng đến chất lượng nông sản, thủysản Từ đó gây ngộ độc thực phẩm cho con người, vật nuôi khi sử dụng gâynên các bệnh hiểm nghèo
+ Đối với môi trường: Gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí
Biện pháp hạn chế:
+ Chỉ sử dụng thuốc hóa học BVTV khi dịch hại tới ngưỡng gây hại
+ Đảm bảo thời gian cách ly (ít nhất 7 ngày trước khi sử dụng)
+ Sử dụng thuốc có tính độc chọn lọc cao, phân hủy nhanh
+ Sử dụng đúng thuốc, đúng thời gian, đúng nồng độ và liều lượng
+ Tuân thủ nghiên ngặt quy định về an toàn lao động và vệ sinh môi trường+ Khuyến khích sử dụng các chế phẩm sinh học
Và bổ sung thêm các giải pháp hay mà HS đã trình bày _
* Kinh nghiệm:
GV phải tổ chức HS thảo luận nêu được những tác hại của thuốc BVTV
Trang 12Con đường đi của thuốc BVTV (vào đất, nước, không khí ), đi vào cây trồng,vật nuôi, rồi cuối cùng đi vào con người Vì khi sử dụng quá nhiều thuốc BVTV,chúng sẽ tồn lưu trong đất, nước, sản phẩm nông sản, thủy sản gây ngộ độc thựcphẩm cho con người, vật nuôi khi sử dụng.
Từ đó, sẽ giáo dục cho các em có ý thức đảm bảo vệ sinh ATTP trong việc
sử dụng thuốc BVTV, đơn giản như: Đảm bảo thời gian cách ly; dùng các chếphẩm sinh học; đeo khẩu trang, đồ bảo hộ khi phun thuốc; phải theo nguyên tắc
“4 đúng”
Chủ đề 3 : Bảo quản sản phẩm lương thực, thực phẩm
(5 tiết = 2 lý thuyết + 3 thực hành tìm hiểu các phương pháp bảo quản ở địaphương)
Ở chủ đề này, tôi đã sử dụng phương pháp “nghiên cứu trường hợp điểnhình” để giáo dục vệ sinh ATTP
Cách thực hiện:
+ Giáo viên cho HS xem một số video và cung cấp thông tin số liệu điểnhình về thực trạng bảo quản thực phẩm bằng hóa chất hiện nay
+ Yêu cầu HS thảo luận nhóm theo các câu hỏi hướng dẫn của GV:
?1 Qua trường hợp trên, em hãy cho biết phương pháp bảo quản trên có táchại gì?
?2 Chúng ta phải làm gì để hạn chế các tác hại đó?
?3 Ở địa phương em việc bảo quản sản phẩm được thực hiện như thế nào?
+ HS suy nghĩ trả lời, các nhóm khác nhận xét, bổ sung hoặc đặt câu hỏi
Tình trạng lạm dụng hóa chất trong bảo quản hiện nay ngày càng nghiêm
trọng, trong đó có nguyên nhân chính là do “ý thức” và “hám lợi” nên nhiều
người “nhắm mắt làm ngơ” vì lợi nhuận đã sử dụng các hóa chất bảo quản.Đồng thời người tiêu dùng ít quan tâm đến vấn đề vệ sinh ATTP Do đó, giáoviên phải giáo dục cho HS ý thức mua bán, sử dụng các sản phẩm không sửdụng các chất bảo quản, hình thành “thói quen” xem hạn sử dụng của sản phẩmtrước khi sử dụng
Chủ đề 4: Chế biến sản phẩm lương thực, thực phẩm (2 tiết lý thuyết)
Ở chủ đề này, tôi đã sử dụng phương pháp “giải quyết vấn đề” để giáo dục
vệ sinh ATTP
Trang 13Cách thực hiện:
+ GV đặt vấn đề đó là: Chế biến sản phẩm an toàn, hợp vệ sinh
+ HS thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề chế biến sản phẩm
+ Liệt kê những cách giải quyết: Đó chính là các phương pháp chế biến + Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết: Là ưu, nhược điểm mỗiphương pháp
+ So sánh kết quả các cách giải quyết: So sánh các phương pháp
+ Lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất: Chọn phương pháp chế biến tốtnhất
+ Rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác: Đó
là tùy từng sản phẩm, tùy điều kiện từng nơi mà lựa chọn phương pháp chếbiến phù hợp nhất đảm bảo vệ sinh ATTP
* Kinh nghiệm:
- Thông qua chủ đề trên, HS lựa chọn được các phương pháp bảo quản vàchế biến thóc, ngô, khoai lang, sắn, khoai tây, rau, hoa, quả tươi, thịt, cá phùhợp Các em sẽ có ý thức sử dụng sản phẩm sạch, an toàn, đảm bảo hợp vệ sinhATTP trong quá trình bảo quản và chế biến
- Hiện nay vấn đề mất an toàn vệ sinh thực phẩm, sử dụng sản phẩm thịt,nội tạng động vật bị ôi thiu, bị mắc bệnh đang là vấn đề được cả xã hội quantâm Do đó, GV phải giáo dục được cho các em ý thức vệ sinh ATTP sạch sẽtrong bảo quản và chế biến, sử dụng sản phẩm hợp vệ sinh, hạn chế sử dụng cácsản phẩm chứa chất bảo quản, thuốc BVTV
Đơn giản như: Cách mua được rau sạch rau an toàn, ăn hoa quả rửa sạchgọt vỏ hạn chế thuốc BVTV; cách bảo quản rau hoa quả tươi được lâu; cáchmua được thịt, cá ở chợ tươi ngon; cách chế biến sản phẩm đảm bảo vệ sinhATTP
Chủ đề 5: Tích hợp Bảo vệ môi trường (5 tiết = 2 lý thuyết + 3 tiết thực
hành dọn vệ sinh môi trường, thu gom chai lọ bao bì thuốc BVTV)
Là giáo viên dạy môn Công nghệ 10 ở trường, tôi có “mong muốn nho
nhỏ” là thiết kế chủ đề này với mục đích mong muốn các em có thể vận dụng
được tất cả kiến thức đã học về Nông - Lâm - Ngư nghiệp và bảo quản, chế biếnvào thực tiễn ở địa phương, đặc biệt về vấn đề vệ sinh ATTP, bảo vệ môitrường
Ở chủ đề này, đòi hỏi các em phải liên hệ được nội dung của các bài từchương Trồng trọt, đến chương bảo quản và chế biến nông, lâm, thủy sản Quaviệc tìm hiểu các nguyên nhân làm mất vệ sinh an toàn thực phẩm (VS ATTP),khai thác nông lâm thủy sản quá mức, ô nhiễm trong quá trình sản xuất, bảoquản, chế biến nông lâm thủy sản Học sinh sẽ đưa ra được các biện pháp hạn
Trang 14chế và liên hệ trách nhiệm của bản thân Qua đó giáo dục cho các em ý thức:+ Vệ sinh ATTP, bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất, bảo quản, chếbiến nông lâm thủy sản
+ Khai thác nông lâm thủy sản hợp lý
+ Sử dụng sản phẩm vệ sinh ATTP
Ở tiết 2 chủ đề này, tôi sử dụng phương pháp “hoạt đông nhóm” để tíchhợp giáo dục VS ATTP
Cách thực hiện:
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ
GV chia lớp thành 3 nhóm, phát bảng phụ, phấn, phát phiếu học tập và giaonhiệm vụ cho 3 nhóm: Yêu cầu các nhóm cử nhóm trưởng, thư ký, thảo luận,hoàn thành phiếu học tập
Sau 10 phút cử đại diện lên bảng trình bày
Nguyên nhân Biện phápMất vệ sinh an toàn thực phẩm
Khai thác N-L-TS quá mức
Ô nhiêm môi trường trong sản
xuất, công nghiệp
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ hoạt động nhóm:
Áp dụng “kỹ thuật mảnh ghép” để tổ chức cho HS hoàn thành nhiệm vụ.Thực hiện qua 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Hoạt động nhóm “chuyên sâu” Mỗi nhóm HS được giao
+ Giai đoạn 2: Hoạt động nhóm “mảnh ghép”: Thành lập nhóm mới của
các thành viên của các nhóm chuyên sâu Từng thành viên của nhóm chuyên sâulần lượt trình bày câu trả của nhóm mình (yêu cầu tất cả các thành viên phải hiểu
rõ câu trả lời trong phiếu học tập)
Bước 3: Báo cáo, thảo luận
+ Cử một nhóm “mảnh ghép” báo cáo kết quả