TABLE OF CONTENTSỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG THPT BA ĐÌNH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN ÔN LUYỆN CÁC DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VỀ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN XUÔI CHO HỌC SINH LỚP 1
Trang 1TABLE OF CONTENT
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT BA ĐÌNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN ÔN LUYỆN CÁC DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VỀ NHÂN VẬT
TRONG TÁC PHẨM VĂN XUÔI CHO HỌC SINH LỚP 12 THPT
Người thực hiện: Trần Thị Thái
Chức vụ: Giáo viên SKKN thuộc môn: Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2020
Trang 2Mục lục
1 Mở đầu 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2
2.1 Cơ sở lí luận 2
2.2 Thực trạng vấn đề 2
2.3 Giải pháp 3
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 18
3 Kết luận, kiến nghị 19
3.1 Kết luận 19
3.2 Kiến nghị 20
Trang 31 Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài.
Trong chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông, làm văn nghị luận vănhọc luôn là phần khó bởi đặc trưng là yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức vănhọc vào viết một bài văn Nghị luận văn học thường có hai dạng chính: nghịluận về một bài thơ, đoạn thơ và nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi.Đặc biệt trong dạng bài nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi thì nghịluận về nhân vật văn học là một dạng đề rất phổ biến, thường xuất hiện trongcác đề thi THPT Quốc gia, thi học sinh giỏi các cấp
Trong một tác phẩm văn xuôi thì nhân vật là một thành phần trung tâmcủa tác phẩm, là yếu tố quyết định tạo thành cốt truyện, là nơi để tác giả gửi gắmnhững tâm tư, tình cảm, khát vọng, cách nhìn, cách cảm nhận về con người vàcuộc đời Nhân vật trong tác phẩm tự sự thường được khắc họa qua các khíacạnh như: lai lịch, số phận, ngoại hình, ngôn ngữ, hành động, nội tâm Khókhăn mà phần nhiều các em học sinh thường gặp khi làm dạng bài này là thườngtìm hiểu phân tích nhân vật một cách chung chung mà không làm nổi bật đượcnhân vật Trong khi đó, ở chương trình Ngữ văn lớp 12, phân môn Làm vănchiếm vị trí nhỏ bé, chưa hình thành cho học sinh những kỹ năng phân tích cácdạng đề, cách xây dựng luận điểm…
Để giúp các em làm tốt kiểu bài nghị luận về nhân vật văn học, tôi đã
mạnh dạn áp dụng đề tài: Hướng dẫn ôn luyện dạng đề nghị luận về nhân vật trong tác phẩm văn xuôi cho học sinh lớp 12 THPT
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Đưa ra đề tài này, thông qua việc hướng dẫn các em học sinh cách làmbài, tôi muốn nâng cao chất lượng làm bài dạng nghị luận về nhân vật trong tácphẩm văn xuôi tự sự trong các kì thi của học sinh THPT nói chung, học sinhtrường THPT Ba Đình nói riêng, nhất là các em thi học sinh giỏi môn Văn, thiTHPT Quốc gia và năm 2019-2020 là thi tốt nghiệp THPT
Trong phạm vi đề tài này tôi chỉ đưa ra một vài kinh nghiệm của bản thân
đã làm để giúp đối tượng học sinh lớp 12 THPT có phương pháp, kĩ năng làmbài Mục đích chính của đề tài này:
- Giúp học sinh hiểu thế nào là nghị luận về nhân vật văn học
- Các dạng đề nghị luận về nhân vật trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi
- Cách tạo lập dàn ý, dựa vào dàn ý để viết từng phần bài văn cho đúngvới yêu cầu nội dung và hình thức của một bài văn nghị luận về nhân vật vănhọc
- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
- Đề tài này cũng có thể coi là tài liệu để các giáo viên tham khảo khi dạycác tiết tự chọn, tiết ôn tập, ôn thi tốt nghiệp, ôn thi THPT Quốc gia, ôn thi họcsinh giỏi
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Với đề tài này người viết nghiên cứu trong diện hẹp:
- Học sinh lớp 12 trung học phổ thông.
- Dạng đề nghị luận về nhân vật trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi tự sự
ở chương trình Văn học lớp 12
Trang 4Cụ thể hóa vấn đề này ở một số truyện ngắn trong chương trình Ngữ vănlớp 12 như: Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt, Chiếc thuyền ngoài xa
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài này, người viết đã sử dụng kết hợp các phương phápnghiên cứu lý luận và phương pháp thực nghiệm (thông qua thực tế giảng dạytrên lớp), chủ yếu là một số phương pháp sau:
- Đọc và nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thực nghiệm - ôn luyện
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận.
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được thểhiện trong Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấphành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đàotạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướngXHCN và hội nhập quốc tế:
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại;phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng củangười học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tậptrung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tựcập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực [1]
Quán triệt thực hiện Nghị quyết 37/2004/QH XI ngày 03 tháng 12 năm
2004 của Quốc hội về giáo dục “Tiếp tục cải tiến công tác thi cử theo hướng gọnnhẹ, hiệu quả, thiết thực” [2] Ngành giáo dục và đào tạo chủ trương: Nâng caochất lượng thi cử, kiểm tra đánh giá để đảm bảo đây là khâu quan trọng tác độngtích cực mạnh mẽ trong quá trình dạy và học, phải đồng thời vừa đổi mới kiểmtra đánh giá thường xuyên, định kì ở các bậc học, vừa đổi mới kì thi THPT Quốcgia Trong kiểm tra đánh giá ở môn Ngữ văn 12 có 4/6 bài kiểm tra định kìthuộc nghị luận văn học Trong các kì thi THPT Quốc gia những năm gần đây
và theo đề tham khảo thi tốt nghiệp THPT năm học 2019-2020, đề thi môn Ngữvăn có 5/10 điểm thuộc nghị luận văn học
2.2 Thực trạng vấn đề.
Xuất phát từ thực trạng làm kiểu bài nghị luận văn học của học sinh, qua
thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý, viết đoạn văncủa học sinh rất yếu, các em không có thói quen phân tích đề, lập dàn ý trướckhi viết bài, nên khi bắt tay tay vào viết rất lúng túng, viết không đúng yêu cầucủa đề bài và lạc đề
Thông thường học sinh lớp 12 khi viết bài văn nghị luận văn học nóichung và kiểu bài nghị luận về nhân vật nói riêng, thường mắc các lỗi cơ bảnsau:
- Học sinh không xác định được dạng bài, không xác định đượcluận điểm, luận cứ của bài văn nghị luận văn học
Trang 5- Học sinh viết theo cảm tính, nghĩ gì viết đấy không cần biết có đúng yêucầu hay không
- Ngoài ra thì học sinh còn mắc một số lỗi như: Lỗi diễn đạt, lỗi chính tả,không biết lựa chọn dẫn chứng phù hợp với nội dung luận điểm
Nghị luận văn học là kiểu bài có phạm vi rộng Trong khuôn khổ của đềtài tôi chỉ đề cập đến một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh ôn luyện dạng đềnghị luận về nhân vật văn học trong tác phẩm văn xuôi tự sự lớp 12
2.3 Giải pháp.
Những giải pháp mà tôi đang nghiên cứu và ứng dụng có thể không hoàntoàn mới lạ nhưng trong những năm thực hiện tôi nhận thấy nó có nhiều ưu điểm
và căn bản là tôi đã đưa ra được một số giải pháp hợp lí và thiết thực, cụ thể hóa
để phù hợp với đối tượng học sinh Trước hết, đề tài này đã góp phần cải thiệnrất nhiều kĩ năng làm văn của học sinh những lớp tôi dạy
2.3.1 Tích lũy kiến thức:
Nghị luận về nhân vật trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi tự sự là kiểubài văn hướng tới các vấn đề đặt ra đối với nhân vật Đòi hỏi học sinh phải nắmđược những kiến thức cơ bản sau:
+ Nghị luận về nhân vật văn học: là trình bày những nhận xét, đánh giá
của mình về nhân vật
+ Những yếu tố thuộc về nhân vật như: ngoại hình, số phận, tính cách,
phẩm chất diễn biến tâm lí của nhân vật, vẻ đẹp nhân vật
Nguồn hình thành kiến thức:
+ Đối với các tác phẩm văn học được học trong chương trình Tôi hướngdẫn các em cách đọc - hiểu văn bản Đọc và tóm tắt được tác phẩm theo nhânvật chính và hiểu được về hình tượng nhân vật đó
+ Bên cạnh việc tìm đọc các tác phẩm văn học để tích lũy kiến thức, tôikhuyến khích học sinh khi đọc phải có thói quen ghi chép lại khái quát một sốvấn đề liên quan đến nhân vật như: Lai lịch, số phận, tính cách, lời nói, cử chỉ,
vẻ đẹp nhân vật, những câu văn hay về nhân vật, những nhận xét, đánh giá banđầu về nhân vật đó
2.3.2 Xác định các dạng đề nghị luận về nhân vật và cách lập dàn ý.
Thực tế cho thấy dạng đề nghị luận về nhân vật có thể phân chia thành rấtnhiều loại nhỏ Bằng sự trải nghiệm của bản thân, dựa vào tổng kết các đề thicủa các năm trước và xu hướng ra đề tham khảo thi tốt nghiệp THPT năm 2019-
2020, tôi thống kê và khái quát lại thành những dạng đề nghị luận về nhân vật vàđưa ra một vài ví dụ mang tính chất tham khảo
Dạng đề:
- Căn cứ vào câu lệnh của đề bài:
+ Dạng đề 1: Suy nghĩ/cảm nhận về nhân vật, một khía cạnh nhân vật + Dạng đề 2: Phân tích nhân vật, một khía cạnh nhân vật.
Đối với hai dạng đề này học sinh thường hay nhầm lẫn, giáo viên phảihướng dẫn học sinh biết phân biệt rõ thế nào là suy nghĩ, cảm nhận về nhân vật?Thế nào là phân tích nhân vật?
+Suy nghĩ/ cảm nhận là nghiêng về cảm nhận chủ quan của người viết về
nhân vật hoặc một khía cạnh nào đó về nhân vật (không nhất thiết phải phân tích
Trang 6đầy đủ từng đặc điểm của nhân vật mà có thể chọn những gì mình cảm nhận sâusắc nhất, về nét nổi bật của nhân vật
+Phân tích là yêu cầu người viết tìm hiểu, đánh giá và nhận xét đầy đủ
Tâm trạng nhân vật Vẻ đẹp nhân vật
Mở bài + Giới thiệu về tác
giả, tác phẩm
+ Giới thiệu nhân
vật
+ Giới thiệu về tácgiả,tác phẩm
+ Giới thiệu về nhânvật
+ Khái quát diễnbiến tâm lí của nhânvật
+ Giới thiệu về tácgiả,tác phẩm
+Giới thiệu về nhânvật
+ Giới thiệu vẻ đẹpcủa nhân vật
Thân
bài:
+ Giới thiệu chân
dung, lai lịch của
-> Giá trị nội dung,
tư tưởng được thể
hiện qua nhân vật
+ Nghệ thuật miêu tảtâm lí nhân vật củanhà văn
+ Giới thiệu chândung, lai lịch, số phận+Vẻ đẹp ngoại hình(nếu có)
+ Vẻ đẹp tâm hồn+ Tổng hợp, đánh giá:-> Giá trị nội dung, tưtưởng được thể hiệnqua nhân vật
-> Nghệ thuật xâydựng nhân vật
Kết bài + Đánh giá nhân vật
+ Cảm nhận của bản thân về nhân vật
+ Đánh giá nhân vậtđối với sự thành côngcủa tác phẩm
+ Cảm nhận của bảnthân về vẻ đẹp củanhân vật đó
2.3.3 Đề tham khảo và gợi ý làm bài:
Trang 7Đề số 1: Trình bày cảm nhận của anh/chị về hình tượng nhân vật
nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của
Nguyễn Minh Châu [5].
GỢI Ý LÀM BÀI
1 Mở bài:
- Nhà văn Nguyễn Minh Châu được coi là một trong những cây bút tiênphong của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới Sau 1975, khi văn chương chuyểnhướng khám phá trở về với đời thường, Nguyễn Minh Châu là một trong sốnhững nhà văn đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức thế sự
- Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Minh
Châu ở thời kỳ sau, được sáng tác năm 1987 Tác phẩm kể lại chuyến đi thực tếcủa nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng Qua đó, Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm nhữngchiêm nghiệm sâu sắc của ông về nghệ thuật và cuộc đời
2 Thân bài:
a Hình tượng nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng:
* Phùng là người nghệ sĩ yêu nghề, có trách nhiệm với nghề: Anh đã
phục kích mấy buổi sáng mà chưa chụp được bức ảnh nào Sau gần một tuần lễ
suy nghĩ, tìm kiếm anh mới chụp được bức ảnh ưng ý->Phùng không đơn giản, qua loa với công việc mà anh luôn hết lòng vì công việc.
* Phùng là người nghệ sĩ tài năng: Anh đã phát hiện bức tranh thiên
nhiên giàu giá trị nghệ thuật:
- Trước mặt Phùng là một khung cảnh thiên nhiên như “bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ”.
- “Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng nhưsữa có pha đôi chút màu hồng hồng của mặt trời chiếu vào”
- “Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”.
- Khung cảnh được nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới giữa hai
chiếc gọng vó giống hệt “cánh một con dơi”, đẹp từ đường nét đến ánh sáng
->Phùng là người nghệ sĩ luôn đi tìm cái đẹp Anh thực sự biết quan sát bằng đôi mắt tinh tường, "nhà nghề” để lựa chọn cái đẹp hài hoà giữa thiên nhiên, cảnh vật, con người - vẻ đẹp mà cả đời bấm máy anh chỉ gặp một lần
* Phùng là người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm trước cái đẹp: Cái đẹp
đã làm Phùng xúc động và nhận ra sự rung cảm của tâm hồn mình
- Anh phát hiện ra “bản thân cái đẹp chính là đạo đức”.
- Và trong giây phút bối rối anh tưởng chính mình vừa khám phá thấy“cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn".
->Người nghệ sĩ cảm thấy hạnh phúc khi khám phá và sáng tạo, khi cảm nhận cái đẹp hài hoà, lãng mạn giữa thiên nhiên và cuộc đời Trong hình ảnh
“chiếc thuyền ngoài xa” giữa biển trời mờ sương, Phùng đã cảm nhận cái đẹp toàn bích và thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên trong trẻo, tinh khôi
* Phùng là người nghệ sĩ có tấm lòng nhân hậu:
- Chưa thoả thuê ngắm bức ảnh“chiếc thuyền ngoài xa” thì ngay lúc ấy,
chiếc thuyền đâm thẳng vào nơi Phùng đứng
Trang 8- Người nghệ sĩ đã tận mắt chứng kiến: từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như
mơ bước ra một người đàn bà xấu xí, một lão đàn ông thô kệch, dữ dằn, đánh vợnhư một phương cách để giải tỏa những uất ức, khổ đau Đây là hình ảnh đằng
sau cái đẹp “toàn bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên biển Nó hiện ra bất
ngờ, trớ trêu như trò đùa quái ác của cuộc sống
+ Chứng kiến cảnh ấy, Phùng đã “kinh ngạc đến mức (…) há mồm ra mà nhìn” rồi sau đó thì “vứt chiếc máy ảnh xuống đất, chạy nhào tới” Nhưng anh
chưa kịp xông ra thì thằng Phác (con lão đàn ông) đã kịp tới để che chở chongười mẹ
+ Đến lần thứ hai, bản chất người lính ở người nghệ sĩ được thể hiện Anhxông ra buộc lão đàn ông phải chấm dứt hành động độc ác … Hành động củaPhùng cho thấy anh không thể làm ngơ trước sự bạo hành của cái ác
->Đằng sau cái đẹp “toàn bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên mặt biển xa lại chẳng phải là “đạo đức”, là “chân lí của sự toàn thiện” mà nó là những ngang trái, xấu xa, những bi kịch còn tồn tại trong cuộc sống
* Phùng là người nghệ sĩ luôn ý thức để hoàn thiện nhân cách:
- Tận mắt chứng kiến vẻ đẹp của bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa”, cảnh
người đàn ông đánh vợ và khi lắng nghe câu chuyện của người đàn bà hàng chài
ở toà án, Phùng đã nhận ra rất nhiều điều qua các cảnh ấy
+ Đằng sau bức ảnh như “bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ”
là những điều nghịch lý trong cuộc sống đời thường với biết bao số phận, baomảnh đời éo le
+ Phùng đã hiểu về người đàn bà hàng chài kia: Ẩn bên trong sự xấu xí,nhẫn nhục là vẻ đẹp tình mẫu tử đầy vị tha, là khát khao hạnh phúc bình dị đờithường của người phụ nữ còn đói nghèo, lạc hậu
- Nỗi trăn trở của Phùng trong nhiều năm dài về hình ảnh người đàn bà
hàng chài cứ hiện ra sau mỗi lần anh ngắm bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa”
chính là quá trình tự ý thức của Phùng để hoàn thiện nhân cách của mình
b Qua nhân vật Phùng, nhà văn Nguyễn Minh Châu gửi gắm quan niệm.
- Quan niệm về nghệ thuật: nghệ thuật chân chính bao giờ cũng bắt nguồn
từ cuộc sống và phục vụ cho cuộc sống; người nghệ sĩ phải có tài năng, có sựlao động miệt mài và phải có sự xúc động trước cái đẹp thì mới sáng tạo đượcnhững tác phẩm có giá trị
- Cách nhìn về cuộc sống: Cần phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều đểphát hiện ra bản chất sau vẻ đẹp của hiện tượng
c Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
- Sử dụng ngôn ngữ linh hoạt
- Đặt nhân vật trong những tình huống để tính cách nhân vật được bộc lộ
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật
3 Kết bài.
- Đánh giá khái quát về nhân vật
- Nhấn mạnh đóng góp quan trọng của nhân vật vào việc thể hiện tư tưởngcủa tác giả, chủ đề của tác phẩm
Trang 9Đề số 2: Cảm nhận của anh/chị về khát vọng sống của nhân vật người
vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân Từ đó, nhận xét về giá trị
nhân đạo mà nhà văn thể hiện qua nhân vật này
GỢI Ý LÀM BÀI
1 Mỏ bài:
- Giới thiệu vài nét về tác giả Kim Lân, tác phẩm Vợ nhặt
- Nhân vật người vợ nhặt: Khi thị xuất hiện với bộ dạng thiểu não trongtruyện ngắn Vợ nhặt thì không phải Kim Lân đang gia công bêu xấu con người
mà nhà văn muốn thể hiện những điều cao cả hơn thế nữa
2 Thân bài:
a Khái quát về người vợ nhặt:
- Thị xuất hiện trong trang văn của Kim Lân là một nhân vật khá độc đáo:Người phụ nữ này không có tên, không tuổi, nhà văn chỉ gọi là “thị”,
-Trước khi trở thành vợ Tràng, thị có một cảnh ngộ rất tội nghiệp:
+ Không gia đình, quê hương, không việc làm, bị cái đói đẩy ra lề đường
Mỗi bận qua cửa nhà kho là thấy mấy chị con gái ngồi vêu ra ở đấy Họ ngồi đấy nhặt hạt rơi hạt vãi hay ai có công việc gì gọi đến thì làm
+Đói khổ đã làm thị tiều tụy về hình hài: Hôm nay thị rách quá, áo quần
tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt Thị chẳng khác gì con ma đói Thị là nạn nhân của cái đói.Với
ngoại hình tố cáo rõ hiện thực cái đói và tội ác của bọn phát xít thực dân
+ Cái đói không chỉ tàn phá ngoại hình Thị mà còn cả tính cách Cái đói
ấy đã đẩy Thị trở nên chao chát, chỏng lỏn, đanh đá, liều lĩnh, mất lòng tự trọng
b Cảm nhận về khát vọng sống của nhân vật người vợ nhặt.
- Khát vọng mãnh liệt được sống qua nạn đói:
+ Người đàn bà bám víu vào câu hò của Tràng: Khi nghe Tràng hò, thị
cong cớn, rồi vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng Lần thứ hai,
Tràng vừa trả hàng xong, ngồi uống nước ở ngoài cổng chợ tỉnh thì thị ở đâu
sầm sập chạy đến, rồi sưng sỉa nói
+ Gợi ý để đòi ăn: Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu
+ Khi được Tràng đồng ý đãi bánh đúc ở ngoài chợ: Hai con mắt trũng
hoáy của thị tức thì sáng lên thị ngồi sà xuống ăn thật Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì Ăn xong thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng, thở
Cái đói làm con người tha hóa về nhân cách, chấp nhận miếng ăn làmiếng nhục để tồn tại; cái đói làm con người bất chấp cả nhân cách, thể diện…chỉ mong có cái ăn để được sống, khát vọng vượt qua cái chết để hướng đếntương lai
- Khát vọng về hạnh phúc gia đình, về tương lai:
+ Thể hiện ở sự đúng mực, ý tứ trong bữa cơm đầu tiên của thị ở nhà
chồng- bữa cơm ngày đói: khi nhận bát “chè khoán” từ mẹ chồng: “Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại Thị điềm nhiên và vào miệng.” Thị chấp nhận ăn bát cháo cám là chấp nhận hiện thực phải ăn cả
cháo cám để cầm hơi, để bấu víu, hi vọng vào tương lai Đồng thời cũng chính
là sự đồng cảm của thị với bà cụ Tứ, cảm thông cho sự nghèo khổ của gia đình
Trang 10chồng, chấp nhận ở lại với Tràng để cùng nhau vượt qua nạn đói, hướng đếntương lai.
+ Thể hiện qua hành động thị cùng mẹ chồng dậy sớm quét dọn nhà cửa:Thị dậy sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp, quét tước nhà cửa Tràng nom thị hômnay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không có vẻ gì chaochát, chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh
+ Sự xuất hiện của nàng dâu mới đã đem đến một không khí đầm ấm, hoàhợp cho gia đình Thị chính là người thắp sáng trong Tràng niềm tin vào tươnglai Chính chị cũng thắp lên niềm tin và hi vọng của mọi người khi kể chuyện ởBắc Giang, Thái Nguyên phá kho thóc Nhật chia cho người đói
- Nghệ thuật thể hiện khát vọng sống của nhân vật người vợ nhặt: Đặt thịvào một tình huống đặc biệt éo le, đi sâu khai thác tâm lí nhân vật cùng với khắchọa nhân vật bằng lời nói, cử chỉ, hành động, nhà văn Kim Lân đã cho ta thấylòng ham sống, khát vọng sống và ý thức vươn lên giành lấy sự sống vô cùng
- Thể hiện tấm lòng thương người, hiểu được và đồng cảm với nỗi đaukhổ của con người trong nạn đói; ngợi ca sức sống tiềm tàng, mãnh liệt, khátvọng sống, khát vọng vượt qua cái chết để hướng đến tương lai
Đề số 3: Bàn về Nguyễn Minh Châu và những trăn trở đổi mới tư duy
nghệ thuật, nhà nghiên cứu văn học Lã Nguyên khẳng định: “Ngòi bút của
ông luôn hướng tới những biểu hiện đầy biến động của các quá trình tư tưởng, tình cảm, tâm lí để nắm bắt cái con người đích thực ở bên trong con người’’ [10]
Qua việc tìm hiểu nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện
ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, anh/chị hãy bình luận
Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa rất tiêu biểu cho phong cách tự sự
-triết lí của Nguyễn Minh Châu trên chặng đường sáng tác mới Trong tác phẩm
Trang 11này, ngòi bút của nhà văn đã “hướng tới những biểu hiện đầy biến động của các quá trình tư tưởng, tình cảm, tâm lí để nắm bắt cái con người đích thực ở bên trong con người”
- Dẫn vào nhân vật người đàn bà hàng chài
2 Giải quyết vấn đề
Nhân vật người đàn bà hàng chài hiện lên qua cái nhìn của Phùng người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã tình cờ chứng kiến những “bi kịch ở gia đình củachị Từ điểm nhìn này, nhà văn đã miêu tả những biến đổi trong lời lẽ, cử chỉ,suy nghĩ của nhân vật để khám phá “con người ở bên trong con người”:
Con người “bên ngoài”: xấu xí, thô kệch, cam chịu đến nhẫn nhục: + Khi bước ra từ chiếc thuyền: người đàn bà hàng chài xuất hiện với dáng
vẻ thô kệch, xấu xí Thân hình cao lớn, khuôn mặt rỗ sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”, dáng điệu mệt mỏi, bộ quần áo
bạc phếch và rách rưới Khi bị gã chồng đánh đập, người đàn bà ấy còn cam
chịu, nhẫn nhục: “không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy”
+ Khi xuất hiện ở tòa án huyện, người đàn bà hàng chài vẫn “mệt mỏi, chậm chạp như một bà già”, vẫn mặc “chiếc áo nâu bạc phếch vì nước mặn”, một miếng vá bằng vải xanh bằng bàn tay trên vai Chị lúng túng, sợ sệt “tìm đến một góc tường để ngồi rón rén đến ngồi ghé vào mép chiếc ghế và cố thu người lại” Chị còn cầu khẩn, van xin vị chánh án đừng bắt mình phải li hôn với
gã chồng vũ phu: “Con lạy quý tòa Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”
- Cái nhìn hướng tới sự phát hiện con người “bên trong”: với sự từng trải,thâm trầm, sâu sắc và tâm hồn nhân hậu, bao dung, vị tha:
+ Khi người đàn bà hàng chài kể câu chuyện cuộc đời mình, dáng vẻ chị
đột nhiên thay đổi: “Đang ngồi cúi gục xuống, người đàn bà bỗng ngẩng lên nhìn thẳng chúng tôi, lần lượt từng người một, với một vẻ ban đầu hơi ngơ ngác” Rồi chị thay đổi cả cách xưng hô: “Chị cám ơn các chú! Lòng các chú tốt nhưng các chú đâu có phải người làm ăn cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của những người làm ăn lam lũ, khó nhọc” Cái vẻ ngoài khúm núm, sợ sệt bỗng nhiên biến mất nhưng chị cũng chỉ “để lộ ra cái vẻ sắc sảo chỉ đến thế”
+ Những lời kể của chị đã thể hiện cái con người bên trong:
++ Người vợ bao dung (chị không căm hận gã chồng vũ phu, thấu hiểunỗi khổ của chồng )
++ Nngười mẹ hết lòng yêu thương con: “Ông trời sinh ra người đàn bà
là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ! Đàn bà ở trên thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được!” Hóa ra, chị không thể bỏ chồng vì cuộc sống trên thuyền
không thể thiếu một người đàn ông, các con chị phải nuôi nấng, được lớn lên
+ Người phụ nữ xấu xí, đau khổ ấy còn gạn lọc từng chút niềm vui trong
cái kiếp sống khốn cùng: “ở trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”
Trang 12Đề số 4: Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, khi Mị bị A Sử trói vào
cột, Tô Hoài viết:
Trong bóng tối, Mị đứng im như không biết mình đang bị trói Hơi rượu còn nồng nàn Mị vẫn nghe thấy tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi " Em không yêu, quả pao rơi rồi Em yêu người nào, em bắt pao nào!" Mị vùng bước đi Nhưng chân đau không cựa được Mị không nghe tiếng sáo nữa Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa.
Chó sủa xa xa Chừng đã khuya Lúc này, lúc trai đang đến gò vách làm hiệu, rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi.
Cả đêm Mị phải trói đứng như thế Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức Lúc lại tràn trề tha thiết nhớ Hơi rượu toả Tiếng sáo Tiếng chó sửa xa xa Mị lúc mê, lúc tình Cho tới khi trời tang tảng rồi không biết sáng từ bao giờ.
Mị bàng hoàng tỉnh Buổi sáng âm âm trong cái nhà gỗ rộng Vách bên cũng im ắng Không nghe tiếng lửa réo trong lò nấu lợn Không một tiếng động Không biết bên buồng quanh đấy, các chị vợ anh, vợ chú của A Sử có còn ở nhà, không biết tất cả những người đàn bà khốn khổ sa vào nhà quan
đã được đi chơi hay cũng đang phải trói như Mị Mị không thể biết.
Ðời người đàn bà lấy chồng nhà giàu ở Hồng Ngài, một đời người chỉ biết đi theo đuổi con ngựa của chồng Mị chợt nhớ lại câu chuyện người ta vẫn kể: đời trước, ở nhà thống lý Pá Tra có người trói vợ trong nhà ba ngày rồi đi chơi, khi về nhìn đến, vợ chết rồi Mị sợ quá, Mị cựa quậy Xem mình còn sống hay chết Cổ tay, đầu, bắp chân bị dây chói xiết lại, đâu dứt từng mảnh thịt [3].
Anh/ chi hãy phân tích tâm trạng và hành động của Mị trong đoạn văn trên Từ đó nhận xét về những đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn Tô Hoài.
GỢI Ý LÀM BÀI
1 Mở bài:
- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm: Tô Hoài là một trong những
nhà văn tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam hiện đại, là người am hiểu sâu sắcphong tục tập quán của nhiều vùng miền trên đất nước Văn của ông có sức lôicuốn, lay động lòng người bởi lối trần thuật sinh động của một người từng trải
- Tác phẩm là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn cùng bộ đội giảiphóng vùng cao Tây Bắc năm 1952 Tác phẩm viết về cuộc sống tối tăm, tủi
Trang 13nhục và khát vọng sống mãnh liệt của người dân miền núi dưới ách thống trị củathực dân phong kiến
- Giới thiệu nhân vật Mị
hai nhân vật
2 Thân bài:
a Giới thiệu về nhân vật Mị.
Mị vốn là một cô gái xinh đẹp, yêu đời và hiếu thảo Vì món nợ truyềnkiếp của cha mẹ, Mị đã bị bắt về làm dâu gạt nợ cho thống lí Pá Tra Từ một côgái yêu tự do, tràn đầy sức sống, Mị trở thành nô lệ, dần dần tê liệt về tinh thần.Thế nhưng với phẩm chất tốt đẹp của người lao động, sức sống cứ tiềm tàng vẫn
cứ âm ỉ cháy
b Đoạn văn.
* Vị trí: Sau khi uống rượu, lắng nghe tiếng sáo trong không khí đêm tình
mùa xuân đang về, tâm trạng Mị có sự thay đổi Từ kiếp sống nô lệ, cam chịu,thấy mình còn trẻ, Mị muốn đi chơi và sửa soạn đi chơi Đúng lúc đó, A Sử đivào trói Mị suốt đêm trong buồng tối
* Hoàn cảnh: Bị trói suốt đêm, nhưng trong lòng Mị đang muốn đi chơi.
Và A Sử chỉ có thể trói được thân xác chứ không trói được tâm hồn Mị
* Tâm trạng và hành động của Mị trong đêm tối khi bị trói.
- Tâm hồn Mị vẫn sống trọn vẹn trong thế giới của riêng mình:
+ Mị quên mất cả hiện tại với dây trói và căn phòng giam đầy bóng tối,vẫn thả hồn theo những cuộc chơi, những tiếng sáo gọi bạn tình tha thiết bên tai
“Mị đứng lặng im, như không biết mình đang bị trói em bắt pao nào ’’
++Hơi rượu nồng nàn: Là tác nhân quan trọng thay đổi tâm lí của Mị Nó
là chất xúc tác để Mị trở về quá khứ, sống lại những tháng ngày tuổi trẻ đẹp đẽ;bất chấp hiện thực phũ phàng
++ Tiếng sáo đưa Mị theo những cuộc chơi: Tiếng sáo là biểu tượng chotình yêu, hạnh phúc, khát vọng tuổi trẻ Tiếng sáo từ ngoại cảnh trở thành tiếngsáo trong tâm tưởng, thúc giục Mị đi theo tiếng gọi của tình yêu, hạnh phúc
+ Mị vùng bước đi: Hành động cho thấy, dù thân thể bị trói đứng nhưng
tâm hồn Mị hoàn toàn tự do Khao khát cháy bỏng chuyển hóa thành hành động
Đó là khát vọng muốn vượt thoát khỏi hiện thực đau khổ, cuộc sống tù đày, kìmkẹp để tìm đến cuộc sống tự do, tình yêu và hạnh phúc
- Mị trở về đối diện với hiện thực nghiệt ngã, phũ phàng:
+ Tiếng sáo tượng trưng cho tình yêu và hạnh phúc đột ngột biến mất, chỉ
còn tiếng chân ngựa đạp vách đưa Mị trở về với hiện thực, “Mị thổn thức nghĩmình không bằng con ngựa”
+ Cả đêm ấy, Mị phải sống trong giằng xé đau đớn giữa khát khao cháy
bỏng vừa hồi sinh và thực tại phũ phàng đang hiện hữu ngay trong sợi dây trói
và căn buồng giam đầy bóng tối
+ Mị nhớ lại câu chuyện kể về người đàn bà bị trói chết trong nhà Pá Tra:người đàn bà ấy, rồi tiếp theo sẽ là Mị, số kiếp đàn bà làm dâu nhà giàu đều sẽchết, chết đứng, chết trói như người đàn bà kia Nghĩ thế Mị sợ quá: “cựa quậyxem mình còn sống hay chết” → Mị sợ chết có nghĩa là không muốn chết Mịvẫn rất ham sống và muốn sống
Trang 14=>Đoạn văn thể hiện diễn biến tâm lý của Mị trong đêm bị trói đứng xoayquanh khát vọng vượt thoát khỏi hiện thực, khao khát cháy bỏng được sống tự
do, được hưởng tình yêu và hạnh phúc Đoạn văn thể hiện sức sống tiềm tàng
mà mãnh liệt đang trỗi dậy trong tâm hồn Mị
c Những đặc sắc trong việc xây dựng nhân vật.
- Bút pháp miêu tả tâm lí sắc sảo, tinh tế
- Cách dẫn dắt tình tiết khéo léo, tự nhiên
- Giọng trần thuật của tác giả hòa vào những độc thoại nội tâm của nhânvật tạo nên ngôn ngữ nửa trực tiếp đặc sắc
- Ngôn ngữ kể chuyện tinh tế, mang đậm màu sắc miền núi
Đề số 5: Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, sau khi Mị cắt dây cởi
trói cho A Phủ, Tô Hoài viết:
Mị đứng lặng trong bóng tối.
Rồi Mị cũng vụt chạy Trời tối lắm Nhưng Mị vẫn băng đi Mị đuổi kịp
A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc, Mị nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:
- A Phủ cho tôi đi.
A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói:
- Ở đây thì chết mất.
A Phủ chợt hiểu.
Người đàn bà chê chồng đó vừa cứu sống mình.
A Phủ nới: “Đi với tôi” Và hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi [3].
Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, sau khi nghe lời khuyên
của vị chánh án, người đàn bà hàng chài đáp lời:
Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con, nhà nào cũng trên dưới chục đứa Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu Các chú đừng bắt tôi bỏ nó! [3]
Cảm nhận của anh/chị về khát vọng sống của nhân vật Mị và người đàn bà hàng chài qua hai đoạn văn trên.