Lí do chọn đề tài Tìm hiểu đề, tìm ý cho bài văn là một yêu cầu bắt buộc trong quy trình làm một bài văn ở trường phổ thông: đây là bước có ý nghĩa quan trọng, quyết địnhphương hướng lựa
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIÚP HỌC SINH LỚP 12 NÂNG CAO KĨ NĂNG
TÌM HIỀU ĐỀ, TÌM Ý CHO BÀI VĂN
Người thực hiện: Vũ Thị Cương
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ văn
Trang 2THANH HOÁ NĂM 2020
1 MỞ ĐẦU……… 2
1.1 Lí do chọn đề tài ……… 2
1.2 Mục đích nghiên cứu……… 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu……… 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu……… 3
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM……… 3
2.1 Cơ sở lí luận……… 3
2.2 Thực trạng của vấn đề ……… 3
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề: Giúp học sinh lớp 12 năng cao kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý cho bài văn……… 5
2.3.1 Giúp học sinh hiểu rõ cách ra đề làm văn theo quan điểm truyền thống và theo quan điểm mới của Bộ GD - ĐT……… 5
2.3.2 Giúp học sinh nắm vững cách thức tìm hiểu đề làm văn theo quan điểm mới ……… 7
2.3.3 Giúp học sinh nắm vững cách thức tìm ý cho bài văn theo quan điểm mới……… 9
2.3.4 Giúp học sinh vận dụng kiến thức và kĩ năng để tìm hiểu đề, tìm ý cho một số đề văn cụ thể……… 12
2.3.5 Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng sử dụng thời gian hợp lí để tìm hiểu đề, tìm ý cho bài văn ……… 17
2.3.6 Giáo viên nhận xét, đánh giá năng lực làm bài văn của học sinh qua một số bài kiểm tra cụ thể……… 17
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm……… 18
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ………. 20
3.1 Kết luận……… 20
3 2 Kiến nghị ……… 20
Tài liệu tham khảo……… 21
MỤC LỤC
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Tìm hiểu đề, tìm ý cho bài văn là một yêu cầu bắt buộc trong quy trình làm
một bài văn ở trường phổ thông: đây là bước có ý nghĩa quan trọng, quyết địnhphương hướng lựa chọn kiểu văn bản, cùng với việc sử dụng các thao tác tư duyhoặc các phương thức biểu đạt để tạo lập văn bản và nội dung bài văn Để đánhgiá một bài văn hay, căn cứ điều đầu tiên và then chốt nhất là bài văn có đáp ứngđúng yêu cầu của đề bài đặt ra không? Trong những năm gần đây, Bộ Giáo Dục– Đào Tạo đã có nhiều đổi mới ở khâu ra đề và không dễ dàng ở những năm đầuđổi mới đối với cả người dạy và người học Khi làm một bài văn nghị luận, đa
số học sinh lúng túng nhiều nhất là khâu tìm hiểu đề và tìm ý cho bài văn
Làm văn là một công việc đầy sáng tạo và khó nhọc, không chỉ đòi hỏi ởngười viết sự am hiểu chữ nghĩa, năng lực tư duy, vốn hiểu biết mà còn thửthách trình độ tạo lập văn bản và cả nhân cách, cá tính của người cầm bút Tìmhiều đề, tìm ý cho bài văn không phải là công việc mới, song việc luyện tập chohọc sinh có thói quen tìm hiểu đề và tìm ý như thế nào cho có hiệu quả thìkhông phải giáo viên nào cũng chú ý làm Trong thực tế rất nhiều giáo viên chỉcoi việc luyện tập cho học sinh tìm hiểu đề, tìm ý theo hình thức chiếu lệ, cho có
mà chưa khai thác hết vai trò của thao tác này Muốn có được điều đó, phụ thuộcrất nhiều vào tâm huyết của người giáo viên
Hiểu biết tri thức, rèn luyện nhân cách cho học sinh Đó cũng là mục đíchcao đẹp của mỗi giờ dạy học Văn nói chung trong nhà trường phổ thông Đócũng là mong muốn của bất cứ người thầy, người cô dạy Văn nào Và đó cũng là
mục tiêu cao đẹp của giáo dục: “ Đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng nhất; phát triển nhân cách…”, và để làm được điều này “ hãy tìm ra một phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn”
( A kômexki) Với suy nghĩ đó, tôi đã cố gắng tìm tòi, nghiên cứu đổi mớiphương pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các giờ dạy môn Ngữ Văn tạo hứngthú cho học sinh trong học tập Từ đó khiến các em thêm yêu thích những giờhọc Văn, không còn thấy tẻ nhạt, chán ngắt và lê thê Những cách làm ấy tuynhỏ nhưng nó đã góp phần nào trả lại vị trí xứng đáng cho môn Ngữ Văn tronglòng học sinh ở trường phổ thông hiện nay Những trình bày của bản thân tôicòn nhằm giúp cho giáo viên và học sinh bổ sung kiến thức về tạo lập văn bản,nâng cao chất lượng trong kì thi Tốt nghiệp THPT sắp tới và những năm tiếptheo
Đó chính là lí do khiến tôi chọn đề tài “ Giúp học sinh lớp 12 nâng cao kĩ
năng tìm hiểu đề, tìm ý cho bài văn” để nghiên cứu, áp dụng vào thực tế giảng
dạy ở trường THPT Yên Định 3 Hy vọng rằng những kinh nghiệm nhỏ này sẽ
có tác dụng hữu ích với học sinh và đồng nghiệp của Trường THPT Yên Định 3
1.2 Mục đích nghiên cứu
Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm:
Trang 4+ Giúp học sinh lớp 12 có thêm được các kiến thức và kỹ năng cơ bản trong
việc tìm hiểu đề, tìm ý cho bài văn, từ đó nhằm nâng cao chất lượng viết bài văn
trong các kì thi
+ Tìm cho mình một phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng họcsinh, phù hợp với đổi mới thi cử, tạo ra không khí hứng thú, giúp các em đạt kếtquả cao trong kỳ thi Tốt nghiệp THPT 2020 và các năm tiếp theo
+ Mong muốn được HĐKH các cấp nhận xét, đánh giá, ghi nhận kết quả nỗlực của bản thân, giúp cho tôi có nhiều động lực mới hoàn thành tốt nhiệm vụđược giao
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài đi vào nghiên cứu “Giúp học sinh lớp 12 nâng cao kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý cho bài văn” thuộc bộ môn Ngữ văn
- Đối tượng áp dụng: học sinh lớp 12, cụ thể là 3 lớp 12C1, 12C2, 12C3
- Thời gian áp dụng: giáo viên tiến hành áp dụng đề tài vào các buổi dạyphụ đạo, bồi dưỡng
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài“Giúp học sinh lớp 12 nâng cao kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý cho bài văn” tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Đây là phương pháp quantrọng để khảo sát các nội dung mà đề văn hướng tới
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích, tổng hợp những dạng đề cụthể để hướng dẫn học sinh cách tìm hiểu đề, tìm ý cho bài văn Phương pháp nàyđược sử dụng như một phương pháp chính trong quá trình thực hiện đề tài
- Phương pháp đối chiếu, so sánh: Đối chiếu, so sánh mức độ tiến bộ củahọc sinh trước và sau khi áp dụng đề tài
Những phương pháp trên sẽ được tôi sử dụng đan xen trong quá trìnhnghiên cứu
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Cơ sở của việc dạy học bộ môn
Dạy học là một tác động hai chiều giữa giáo viên và học sinh, trong đó họcsinh là chủ thể của quá trình nhận thức, còn giáo viên là người tổ chức các hoạtđộng nhận thức cho học sinh Nếu giáo viên có phương pháp tốt thì học sinh sẽnắm kiến thức dễ dàng, có thể giải quyết tốt các dạng đề và ngược lại
2.1.2 Cơ sở của việc nắm kiến thức, kĩ năng
- Về mặt kiến thức: Học sinh cần nắm vững kiến thức, kĩ năng tìm hiểu đề,
tìm ý cho bài văn để từ đó vận dụng vào các dạng đề cụ thể
- Về kĩ năng: Học sinh phải nắm được kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý cho bài
văn Đó là những kĩ năng cần thiết các em cần phải nhớ trước khi viết bài văn
2.2 Thực trạng của vấn đề
- Việc học của học sinh: Thực tế cho thấy, học sinh hiện nay ít mặn mà với
các môn xã hội, trong đó có môn Văn Các em học Văn chỉ với tính chất đốiphó, ít em có năng khiếu thực sự Nhiều học sinh vốn kiến thức xã hội và vănhọc quá nghèo nàn nên trong quá trình học và làm bài các em gặp rất nhiều khókhăn, nguyên nhân một phần do các em có lối học thụ động máy móc theo sách
Trang 5vở, ngại đọc, ngại tìm hiểu đề, tìm ý cho đề bài nên dẫn đến tình trạng làm bài bịlạc đề, thiếu ý hoặc lan man
- Việc thi cử: Trong thi cử, việc tìm hiểu đề, tìm ý cho bài văn là một khâu
quan trọng để các em không bị lạc đề, sa đề, thiếu ý trong quá trình làm bài Đểviết bài văn đạt kết quả cao đòi hỏi học sinh không chỉ trang bị những kiến thứcphong phú về các vấn đề xã hội mà cần tìm hiểu kĩ các tác phẩm văn học để từ
đó biết cách vận dụng vào từng đề thi cụ thể thì mới có thể đạt điểm cao
- Trong thực tế giảng dạy: Tìm hiểu đề và tìm ý là một yêu cầu bắt buộc
trước khi đặt bút viết bài văn nhằm giúp bài văn tránh được tình trạng xa đề, lạc
đề, nội dung lan man, thiếu ý, thừa ý Bản thân giáo viên cũng có lúc rất xemnhẹ việc tìm hiểu đề và tìm ý trong giờ dạy của mình Song khi thấy được tầmquan trọng, ý nghĩa của việc tìm hiểu đề và tìm ý có liên quan mật thiết tới hiệuquả tăng, giảm của chất lượng bộ môn Văn Từ đó, tôi đã tiến hành trao đổi vớicác giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ Văn tại trường THPT Yên Định 3 và
để kiểm nghiệm cho cách làm của mình, tôi đã thực hiện điều tra 120 học sinhthuộc 3 lớp 12C1, 12C2, 12C3 bằng phiếu khảo sát học sinh, với câu hỏi đặt ra
là: Em có thói quen đọc đề văn trước khi làm bài không? Em có thói quen tìm hiểu đề và tìm ý trước khi làm bài văn không?
Kết quả như sau:
- Với câu hỏi 1: Em có thói quen đọc đề văn trước khi làm bài không?
+ 110 học sinh trả lời có thói quen đọc đề trước khi làm bài ( chiếm 91,7%)+ 10 học sinh trả lời rằng em không quan tâm đọc đề trước khi làm bài ( chiếm8,3%)
- Với câu hỏi 2: Em có thói quen tìm hiểu đề và tìm ý trước khi làm bài văn không?
+ 60 học sinh trả lời không bao giờ có thói quen tìm hiểu đề, tìm ý trước khi viếtbài văn (chiếm 50%)
+ 40 học sinh trả lời có thói quen đọc đề, gạch chân các từ quan trọng nhưngchưa chú ý đến việc tìm ý cho đề bài (chiếm 33,3%)
+ 20 học sinh trả lời đó là công việc em thường làm và là điều kiện giúp cho bàivăn của em đạt kết quả cao (chiếm 16,7%)
Kết quả một số bài kiểm tra viết bài văn nghị luận khi tôi chưa áp dụng đề tài:
Lớp Bài kiểm tra Điểm < 5
( %)
Điểm 5 – <7( %)
Điểm 7- <8( %)
Điểm 8-10( %)12C1:
40 HS
Bài số 1Bài số 2
10 ( 25%) 8( 20%)
41 HS
Bài số 1Bài số 2
9 ( 22%)
7 ( 17,1%)
20 ( 48,8%) 21( 51,2%)
10 ( 24,4%)
10 ( 24,4%)
2 ( 4,8%)
3 ( 7,3%)12C3:
39 HS
Bài số 1Bài số 2
Trang 6Kết quả khảo sát cho thấy, trước một đề làm văn, phần đông số học sinhchưa có thói quen tìm hiểu đề và tìm ý Học sinh chỉ đọc đề một vài lần và viếtbài luôn, không tìm ý trước mà vừa viết vừa suy nghĩ để tìm ý, chưa biết cáchphân tích đề làm cơ sở cho việc tìm ý Đặc biệt đối với dạng đề mở, đa số các
em gặp khó khăn ở khâu xác định các phương thức biểu đạt hoặc thao tác tưduy cần sử dụng để làm bài, lúng túng ở việc tìm ý, bị động trong quá trình viếtbài; bài làm văn vừa thiếu ý, lạc ý vừa không đáp ứng đúng đặc trưng kiểu vănbản mà đề bài yêu cầu tạo lập Từ kết quả các bài kiểm tra của 3 lớp 12C1,12C2, 12C3, tôi thấy điểm dưới trung bình chiếm tỉ lệ khá cao: từ 17,1% -25,6%; điểm trung bình chiếm tỉ lệ rất cao từ 46,2% - 52,5%; điểm khá chiếm tỉ
lệ khá thấp từ 20% - 25,6% Còn điểm giỏi chiếm tỉ lệ rất thấp từ 2,5% - 7,3%
Từ thực tế trên tôi nhận thấy rằng là giáo viên trực tiếp đứng lớp 12 chúng
ta cần trang bị cho các em những kiến thức và kĩ năng cần thiết về tìm hiểu đề,tìm ý cho bài văn để các em tự tin làm tốt bài văn nghị luận, từ đó góp phầnnâng cao kết quả trong kì thi Tốt nghiệp THPT sắp tới
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề: Giúp học sinh lớp
12 nâng cao kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý cho bài văn.
2.31 Giúp học sinh hiểu rõ cách ra đề làm văn theo quan điểm truyền thống và theo quan điểm mới của Bộ GD – ĐT
2.3.1.1 Đề làm văn theo quan điểm truyền thống.
Trên thực tế, đề làm văn có nhiều dạng khác nhau ( trực tiếp và gián tiếp),nhưng có thể thấy kết cấu chung của một đề làm văn theo quan điểm truyềnthống thường có 2 phần: Nêu yêu cầu kiểu bài và giới hạn vấn đề
- Phần 1 mang đặc tính thông tin hiệu lệnh chứa đựng yêu cầu và cách làmbài như giải thích, chứng minh ( làm sáng tỏ), phân tích, bình giảng, bình luận…
- Phần 2 nhằm gợi ý định hướng nội dung cho học sinh, giúp các em trả lờicâu hỏi Viết cái gì? Trong phạm vi nào?
Ví dụ:
Đề 1 Phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ
người tử tù của Nguyễn Tuân
Đề 2 Việt Bắc cũng rất tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình, ngọt ngào tha
thiết của Tố Hữu và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc của thơ ông ( Sáchgiáo viên Văn 12, 1992)
Hãy chứng minh điều đó qua đoạn trích hai mươi câu đầu của bài thơ Việt Bắc
của Tố Hữu
Đề 3 Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của
Nguyễn Trung Thành
2.3.1.2 Đề làm văn theo quan điểm mới của Bộ GD – ĐT
Theo quan điểm mới: Đề thi phải khơi dậy những suy nghĩ riêng đồngthời rèn luyện cho học sinh óc phê phán, nhìn vấn đề trên nhiều mặt, tránh ra đề
kiểu suôn sẻ, dạng thỏa hiệp một chiều.
Với mục đích ấy, đề thi môn Ngữ văn trong những năm gần đây chủ yếu
ra đề theo hướng “ mở” – chỉ nêu ra đề tài hoặc vấn đề cần bàn bạc trong bàivăn, không giới hạn cứng nhắc việc vận dụng các phương thức biểu đạt hoặc cácthao tác tư duy để viết bài văn, khuyến khích học sinh suy nghĩ nhiều chiều và
Trang 7bày tỏ quan điểm riêng của mình trước một vấn đề Đề “ mở” khác loại đề
“đóng”, đề “ khép kín” Sử dụng loại đề này phân hóa học sinh sẽ phù hợp hơn
Dạng 1: Dạng đề chỉ nêu ra đề tài hoặc vấn đề để học sinh làm bài, không nêu yêu cầu về kiểu văn bản và cách thức làm bài.
Ví dụ 1 “ Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động” ( Ngữ văn 12,
tập 1, NXB GD, 2008)
Ví dụ 2 Người phụ nữ xưa với tình yêu và hôn nhân qua một số bài ca dao
( Ngữ văn 10, tập 1, Ban KHXH – NV, NXB GD, 2008)
Ví dụ 3 Dòng sông truyền thống trong Những đứa con trong gia đình của
Nguyễn Thi ( Ngữ văn 12, tập 2 NXB GD, 2008 – Đề thi học sinh giỏi cấp tỉnhcủa Thanh Hóa năm học 2009 – 2010)
Dạng 2: Dạng đề có kết cấu 2 phần: Phần nêu mệnh đề để làm bài và phần giới thiệu giới hạn vấn đề của đề bài.
Ví dụ 1: Nhà thơ Tố Hữu viết: “ Ôi! sống đẹp là thế nào hỡi bạn”?
Anh/ chị hãy tìm câu trả lời trong cuộc sống và trong văn học ( Ngữ văn
10, tập 2, ban KHXH-NV)
Ví dụ 2:
…Tây Tiến đoàn bình không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất , Sông Mã gầm lên khúc độc hành … (Quang Dũng - Tây Tiến, Ngữ văn 12, Tập 1, NXB Giáo dục, 2008, tr.89)
Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên, từ đó nhận xét cảm hứng lãngmạn và tính bi tráng trong cách thể hiện của tác giả
Ví dụ 3:Cho đoạn văn sau:
“…Bà lão cúi đầu nín lặng Bà lão hiểu rồi Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này Còn mình thì Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không.
Bà lão khẽ thở dài ngửng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt Bà lão nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới
có vợ được Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên
bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?
Bà lão khẽ dặng hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với "nàng dâu mới":
- Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…
Trang 8Tràng thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi Hắn ho khẽ một tiếng, bước từng bước dài ra sân Bà cụ Tứ vẫn từ tốn tiếp lời:
- Nhà ta thì nghèo con ạ Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn Rồi ra may mà ông giời cho khá Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau.”
(Trích Vợ nhặt, Kim Lân, Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục, 2008, tr 28-29)
Cảm nhận của anh/ chị về diễn biến tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ trongđoạn văn trên
2.3.2 Giúp học sinh nắm vững cách thức tìm hiểu đề làm văn theo quan điểm mới.
Đây là vấn đề khó không chỉ đối với học sinh mà ngay cả đối với giáoviên vì đề làm văn theo quan điểm hiện nay chủ yếu ra theo hướng “mở” để pháthuy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Loại đề này hay ở chỗ hạnchế được lối làm văn sao chép, tái hiện, học sinh phải tự mình suy nghĩ và nêuđược suy nghĩ của chính mình Nhưng sẽ rất khó đối với học sinh học lực yếu vàtrung bình
Theo tôi, nên dựa vào những căn cứ sau đây để tìm hiểu đề làm văn theoquan điểm mới:
- Dựa vào lời văn trong đề bài để xác định vấn đề cần nghị luận Đề ra yêucầu gì cần giải quyết
- Căn cứ vào yêu cầu của đề để xác định kiểu văn bản và dạng bài cần tạolập: đề yêu cầu kiểu văn bản nào? Thuộc dạng bài làm văn nào?
- Xác định phương thức biểu đạt hoặc các thao tác làm bài nhằm đảm bảomột số chuẩn kiến thức, kĩ năng cần đạt: các phương thức biểu đạt hoặc các thaotác tư duy nào cần được sử dụng để làm bài văn? Sử dụng chúng khi nào?
- Phạm vi tư liệu: cần bám vào yêu cầu và giới hạn của đề bài để xác địnhphạm vi tài liệu cho phù hợp
Ví dụ 1:
Nhà thơ Tố Hữu viết: Ôi! sống đẹp là thế nào hỡi bạn?
Anh/ chị hãy tìm câu trả lời trong cuộc sống và trong văn học.
Với đề bài này, quá trình tìm hiểu đề, các em cần đặt và trả lời được các câu hỏi sau:
- Học sinh cần xác định đây là kiểu bài gì?
-> Kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
- Vấn đề cần nghị luận trong câu thơ của Tố Hữu là gì?
-> Câu thơ nêu lí tưởng và hướng con người tới hành động để nâng cao phẩmchất, giá trị của mình
- Với thanh niên, học sinh ngày nay, sống như thế nào được coi là sống đẹp? Đểsống đẹp, con người cần rèn luyện những phẩm chất nào?
-> Để sống đẹp con người cần rèn luyện các phẩm chất: lí tưởng đúng đắn, tâmhồn lành mạnh, trí tuệ sáng suốt, hành động tích cực…
- Với đề bài trên, cần vận dụng những thao tác lập luận và phương thức biểu đạtnào?
Trang 9-> Vận dụng kết hợp các thao tác: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận…những biểu hiện của lối sống đẹp trong bài viết Phương thức biểu đạt chính lànghị luận.
- Bài viết cần sử dụng tư liệu thuộc lĩnh vực nào trong cuộc sống để làm dẫnchứng? Có thể nêu các dẫn chứng trong văn học được không? Vì sao?
-> Bài viết chủ yếu sử dụng tư liệu trong cuộc sống và có thể sử dụng tư liệutrong tác phẩm văn học ( vì văn học phản ánh cuộc sống)
Ví dụ 2:
Cảm nhận của anh/ chị về lời giục giã, khát vọng sống, khát vọng tình yêu của nhà thơ Xuân Diệu qua đoạn thơ sau:
Ta muốn ôm:
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta mướn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếch choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
( Trích Vội vàng, Xuân Diệu, SGK Ngữ văn 11, tập 2, NXB GD 2008)
Với đề bài này, quá trình tìm hiểu đề, các em cần đặt và trả lời được các câu hỏi sau:
- Học sinh cần xác định được đây là kiểu bài gì?
-> Kiểu bài văn nghị luận văn học (cụ thể là nghị luận về một đoạn thơ) Từ đólựa chọn cách thức làm bài phù hợp
cần lưu ý các cụm từ như “cảm nghĩ’, “cảm nhận” trong đề bài không đơn giản
là phát biểu cảm tưởng, suy nghĩ mà còn là yêu cầu nghị luận trên cở sở cảmthụ
- Phạm vi tư liệu: các tác phẩmThơ mới, nhà thơ Xuân Diệu và bài thơ Vội vàng, đoạn thơ trong đề bài.
Ví dụ 3:
Trang 10Cảm nhận của anh/ chị về hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Trung Thành ( Ngữ văn 12, tập 2, NXB GD 2008)
Với đề bài này, quá trình tìm hiểu đề, các em cần đặt và trả lời được các câu hỏi sau:
- Học sinh cần xác định đây là kiểu bài gì?
-> Kiểu bài nghị luận văn học (đề thuộc dạng nghị luận về tác phẩm tự sự)
-> Đề bài yêu cầu nghị luận về hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà
nu của Nguyễn Trung Thành Vì vậy, nghị luận là phương thức biểu đạt chủ yếu
kết hợp với yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm Các thao tác lập luận kết hợp gồmphân tích, chứng minh, so sánh, bình luận nhằm làm nổi bật số phận của rừng xà
nu trong tầm đại bác của đồn giặc, sức sống bất diệt của cây xà nu và ý nghĩabiểu tượng của cây xà nu trong truyện
- Lưu ý: Từ cảm nhận nhằm nhấn mạnh yêu cầu người làm bài phải trình bày
những nhận định, phân tích của mình Khi trình bày cảm nhận, suy nghĩ phải có
lí lẽ, lập luận, phân tích, chứng minh bằng các dẫn chứng cụ thể kết hợp linhhoạt nhiều phương thức biểu đạt và các thao tác lập luận khác
- Phạm vi tư liệu: các tác phẩm văn học, nhà văn Nguyễn Trung Thành và truyện
ngắn Rừng xà nu, đặc biệt là đoạn trích trong đề bài.
2.3.3 Giúp học sinh nắm vững cách thức tìm ý cho bài văn theo quan điểm mới.
Để học sinh không bị lạc đề, lạc ý hay sót ý trong quá trình tìm ý cho bàivăn, theo tôi có thể tiến hành các cách sau:
Cách 1: Dựa vào tính chất của dạng bài mà đề yêu cầu tạo lập để tìm ý
cho bài viết: trả lời câu hỏi viết cái gì?
Cách 2: Căn cứ vào vấn đề được nêu ra trong đề bài để đặt ra các câu hỏi
và trả lời câu hỏi Đây thực chất là yêu cầu học sinh phải đọc kĩ đề bài, lật đi lậtlại vấn đề ở nhiều mặt để tìm ý cho bài văn trước khi viết
Ví dụ 1: Tìm ý cho đề bài sau:
Nhà thơ Tố Hữu viết: Ôi! sống đẹp là thế nào hỡi bạn?
Anh/ chị hãy tìm câu trả lời trong cuộc sống và trong văn học.
Với đề bài này, giáo viên phải định hướng học sinh được các vấn đề sau:
* GV định hướng cho học sinh nắm được tính chất của dạng bài nghị luận vềmột tư tưởng, đạo lí: đó là dạng bài bàn bạc, làm sáng tỏ một vấn đề thuộc lĩnhvực tư tưởng, đạo đức, lối sống của con người, chỉ ra chổ đúng - sai của một tưtưởng nào đó nhằm thuyết phục người nghe, người đọc Cụ thể bài viết phải đảmbảo các ý sau:
- Giải thích vấn đề: giải thích từ, cụm từ, nghĩa của câu
- Bàn luận, phân tích, chứng minh khía cạnh đúng của vấn đề
- Phê phán những mặt trái của vấn đề
- Bài học về nhận thức và hành động được rút ra từ vấn đề
Trang 11* GV hướng dẫn học sinh tìm ý cho bài văn nghị luận về câu nói: Ôi! sống đẹp
là thế nào hỡi bạn? bằng cách đặt và trả lời các câu hỏi:
- Giải thích thế nào là sống đẹp? là sống có ý nghĩa, biết hi sinh; có ước mơ,
hoài bão; có tâm hồn lạc quan, yêu đời; có ý chí nghị lực và có những hành độngthiết thực…
- Bàn luận, chỉ ra những biểu hiện của lối sống đẹp?
+ Sống có lí tưởng đúng đắn, cao cả phù hợp với thời đại, xác định được vai tròtrách nhiệm của bản thân
+ Có trí tuệ mỗi ngày thêm rộng mở, sáng suốt
+ Có đời sống tâm hồn, tình cảm lành mạnh, cao đẹp, nhân ái, đúng mực, phongphú và hài hòa
+ Có hành động tích cực, đúng đắn, lương thiện
- Chứng minh một số biểu hiện của lối sống đẹp?
+ Trong văn học: ca dao, truyện cổ tích, thơ văn trung đại, thơ văn hiện đại….+ Trong cuộc sống: những tấm gương người thật, việc thật…
- Phê phán những lối sống như thế nào? phê phán những quan niệm và lối sốngkhông đẹp như: ích kỉ, vô cảm…
- Em rút ra bài học gì về nhận thức và hành động? “Đời người chỉ sống có một lần phải sống sao cho ra sống ? Phải sống sao cho trước khi nhắm mắt xuôi tay
ta không phải xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí Để trước khi nhắm mắt, xuôi tay ta có thể tự hào rằng : tất cả đời ta, tất cả sức lực
ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao quý của loài người’ Lời bất hủ của chàng thanh niên Paven Coosoghin trong tiểu thuyết “Thép đã tôi là thế đấy” cũng là
phương châm sống đẹp của tuổi trẻ chúng ta trong thời đại đất nước hội nhập vàphát triển hôm nay
Ví dụ 2:
Nhiều chuyên gia cho rằng sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội đang làm lo ngại về sự bùng phát của “ đại dịch ái kỉ” ( bệnh tự yêu mình) và việc tự chụp ảnh và đếm “ like” cho những thông tin của mình trên những trang mạng xã hội chỉ là một biểu hiện.
Trình bày suy nghĩ của anh/ chị về hiện tượng được nêu trong ý kiến trên
Với đề bài này, giáo viên phải định hướng học sinh được các vấn đề sau:
* GV định hướng cho học sinh nắm được tính chất của dạng bài nghị luận vềmột hiện tượng đời sống, đó là bàn bạc chỉ ra thực trạng, hậu quả, nguyên nhân
và biện pháp khắc phục của hiện tượng nhằm thuyết phục người đọc, ngườinghe Cụ thể bài viết phải đảm bảo các ý sau:
- Giải thích và nêu rõ thực trạng, các biểu hiện cụ thể của hiện tượng trong đờisống Yêu cầu: Cần trả lời được câu hỏi: Nó là như thế nào?
- Phân tích hậu quả, kết quả của hiện tượng Yêu cầu: phân tích hậu quả nếu làhiện tượng tiêu cực, kết quả nếu là hiện tượng tích cực
- Nêu nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên Yêu cầu: Cần nêu nguyên nhân chủquan và nguyên nhân khách quan, nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân sâu xa
- Biện pháp khắc phục hậu quả hoặc phát huy kết quả của hiện tượng Yêu cầu:Cần trả lời được câu hỏi: Cần phải làm gì?
- Liên hệ bản thân, rút ra bài học gì về nhận thức và hành động