Trong Hội nghị tổng kết, đánhgiá dạy-học trực tuyến, truyền hình với các Sở Giáo dục và Đào tạo cùng cáctrường Đại học do BGDĐT chủ trì chiều ngày 3-6-2020, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ khẳn
Trang 1MỤC LỤC
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY- HỌC TRỰC TUYẾN (DẠY- HỌC ONLINE) TRONG ÔN THI THPT QUỐC GIA
MÔN NGỮ VĂN.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Minh Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2020
Trang 22.1.2 Ưu điểm của dạy-học trực tuyến so với dạy-học trên truyền
2.3.2.2 Một số kinh nghiệm dạy-học trực tuyến phần làm văn 10
2.3.2.2.1 Một số kinh nghiệm dạy-học viết đoạn văn nghị luận xã
2.3.3 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
DANH MỤC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
PHỤ LỤC.
Trang 3CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
HS: Học sinh
GV: Giáo viên
GDĐT: Giáo dục đào tạo
BGDĐT: Bộ giáo dục đào tạo
Trang 41 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và sự ra đời của mạnginternet, đem lại cho con người nhiều ứng dụng tiện ích Trong đó, dạy-học trựctuyến (dạy học online) trở thành một giải pháp của giáo dục nhằm nâng cao chấtlượng đào tạo nguồn lực cho xã hội, phù hợp với bối cảnh hội nhập và xu thếphát triển của thế giới
Đối với Việt Nam, dạy-học trực tuyến còn là một hình thức tiến hànhcông nghiệp hóa giáo dục theo hướng phát triển Trong Hội nghị tổng kết, đánhgiá dạy-học trực tuyến, truyền hình với các Sở Giáo dục và Đào tạo cùng cáctrường Đại học do BGDĐT chủ trì chiều ngày 3-6-2020, Bộ trưởng Phùng Xuân
Nhạ khẳng định: “Việc triển khai dạy- học trực tuyến trong thời gian giãn cách
xã hội vì dịch Covid-19 bước đầu đã đạt được hiệu quả nhất định, vì vậy trong thời gian tới vẫn sẽ tiếp tục triển khai dạy-học trực tuyến và truyền hình như một phương thức cộng hưởng với dạy-học trực tiếp có hiệu quả… Bởi vậy, phương thức dạy-học trực tuyến không phải là giải pháp tạm thời trong mùa dịch mà còn là giải pháp quan trọng nâng cao chất lượng từ mầm non đến đại học”1 Chính vì thế, việc triển khai dạy-học trực tuyến là cần thiết và hình
thức học qua mạng đang ngày càng phát triển, phổ biến tại Việt Nam, mang
đến cho người học nguồn thông tin kiến thức đa dạng của nhiều quốc gia trênthế giới
Trong bối cảnh dịch Covid-19 có những diễn biến phức tạp, BGDĐT kêugọi mỗi thầy cô, gia đình và toàn xã hội chung tay, hỗ trợ, động viên, giúp đỡ
học sinh học tập thuận lợi và đạt hiệu quả Với chủ trương chỉ đạo “Tạm dừng
đến trường, không dừng học…” 2 của BGDĐT, nhiều giáo viên, học sinh trên
cả nước, cũng như địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã và đang kết nối để dạy và học mỗingày thông qua Internet Đặc biệt, với các bạn học sinh lớp 12 chuẩn bị thiTHPT thì đây là thời cơ để ôn tập môn Ngữ Văn - môn được đánh giá là môn dễghi điểm nhất-được tốt hơn Vì vậy, dạy-học trực tuyến đã giúp các em học sinh
có thêm những kinh nghiệm khi ôn tập tại nhà hiệu quả, đạt điểm cao nhất trong
kì thi sắp tới
Bên cạnh đó, có nhiều GV sử dụng công nghệ thông tin chưa thành thạo,chưa có nhiều kinh nghiệm nên rất lúng túng khi xử lí tình huống xảy ra trongquá trình dạy-học trực tuyến Có một số GV đã thực hiện dạy-học trực tuyếnnhưng hiệu quả chưa cao, tiết học nhàm chán, HS không muốn học hoặc chỉ họcđối phó Tôi cũng nhận thấy, dù dịch bệnh Covid-19 chấm dứt, không phải thựchiện giãn cách xã hội thì những kinh nghiệm để tổ chức một giờ dạy-hoc trựctuyến trong ôn thi THPT quốc gia môn Ngữ văn là rất cần thiết, giúp HS có thểhọc mọi lúc, mọi nơi, và trong mọi hoàn cảnh
Hưởng ứng chủ trương của BGDĐT trong thời gian học sinh nghỉ đểphòng chống sự lây lan của dịch bệnh Covid-19, tôi đã tiến hành dạy-học trựctuyến để ôn tập cho học sinh thi THPT quốc gia môn Ngữ văn, kết hợp với thực
tế dạy-học trên lớp và những buổi dự giờ, trao đổi chuyên môn cùng đồng
1 Mục 1.1 Đoạn “Việc triển khai….hiệu quả”, tác giả tham khảo nguyên văn từ TLTK số 8.
2 Mục 1.1 Đoạn “Tạm dừng….không dừng học”, tác giả tham khảo nguyên văn từ TLTK số 7.
Trang 5nghiệp, tôi đã tích lũy cho mình một số kinh nghiệm hữu ích trong dạy-học trựctuyến, giúp học sinh đạt hiệu quả cao nhất trong qúa trình ôn tập môn Ngữ văntại nhà.
Từ những những lí do khách quan và chủ quan như đã nêu trên, tôi chọn
đề tài “Một số kinh nghiệm dạy-học trực tuyến (dạy-học online) trong ôn thi
THPT quốc gia môn Ngữ văn” làm sáng kiến kinh nghiệm.
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Với những tiết dạy-học trực tuyến ôn thi THPT quốc gia, GV đã giúp HS
hệ thống lại kiến thức, vận dụng kiến thức lí thuyết vào làm bài một cách hiệuquả hơn, không khí lớp học sôi nổi, sinh động, HS cảm thấy yêu thích và say mêmôn học
Không những thế, tiết học còn giúp HS chủ động chiếm lĩnh tri thứcthông qua mạng internet, các kênh truyền hình, rèn luyện kĩ năng thực hành,phát triển năng lực, phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo
Đối với GV, đây là những kinh nghiệm hữu ích để thi THPT quốc gia dù
ôn thi trực tiếp trên lớp hay dạy-học trực tuyến
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh lớp 12A3, 12A4 (ban cơ bản A) trường THPT Yên Định 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình dạy-học, tôi đã phối hợp nhiều phương pháp, trong đóchủ yếu là phương pháp:
Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Đọc tài liệu tham khảo
có liên quan đến đề tài, soạn bài giảng theo phương pháp, kế hoạch đã đề ra
Phương pháp thực hành: Soạn và thiết kế bài dạy ôn tập phù hợp với
phương pháp dạy-học trực tuyến, vận dụng tích hợp kiến thức các phân mônNgữ văn vào thực hành, tiến hành thực nghiệm tại lớp 12A3 và 12A4
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề.
2.1.1 Khái niệm dạy-học trực tuyến.
Giáo dục trực tuyến (Hay còn gọi là e-learning) là “phương thức học ảo
thông qua một máy vi tính nối mạng đối với một máy chủ ở nơi khác có lưu giữ sẵn bài giảng điện tử và phần mềm cần thiết để có thể hỏi/yêu cầu/ra đề cho học viên học trực tuyến từ xa Hoặc giáo viên có thể truyền tải hình ảnh và âm thanh qua đường truyền băng thông rộng hoặc kết nối không dây (WiFi, WiMAX), mạng nội bộ (LAN) v.v…”3 Mở rộng ra, các cá nhân hay các tổ chức
đều có thể tự lập ra một trường học trực tuyến (E-school), mà nơi đó vẫn nhậnđào tạo học viên, đóng học phí và có các bài kiểm tra như các trường học khác
Nói một cách dễ hiểu là dạy - học trực tuyến là thay cho dạy-học tại lớpnhư truyền thống, GV vẫn giảng bài bình thường và HS vẫn có thể đặt câu hỏi
để được giải đáp ngay thông qua phần mềm hiện đại được sử dụng trên máy tínhhoặc điện thoại di động có kết nối internet
3 Mục 2.1.1 Đoạn “phương thức….mạng nội bộ (LAN)”, tác giả tham khảo nguyên văn từ TLTK số 9.
2.1.2 Ưu điểm của học trực tuyến so với học trên truyền hình, học truyền thống.
Trang 6dạy-Tiến sĩ Phạm Long cho rằng: “Sự khác biệt lớn nhất là dạy-học trực tuyến
có Hệ thống E-Learning, còn các bài giảng qua truyền hình thì không có”4
Dạy-học trực tuyến chỉ có thể triển khai với các trường có hệ thống côngnghệ phần mềm hiện đại và mỗi học sinh cần có máy tính hay thiết bị di độngkết nối internet Thay vì đến trường, giáo viên hoàn toàn có thể ấn định thời gianhọc và kết nối với tất cả các học sinh cùng lúc Như vậy, giáo viên vẫn quản lýđược học sinh và báo cáo lại cho từng phụ huynh về việc tham gia lớp học trựctuyến của các con, bất cứ học sinh nào vắng đều được kiểm soát ngay Học sinhbắt buộc phải tham gia nghiêm túc các bài học vì sẽ phải trả lời câu hỏi của giáoviên ngay tại buổi học này
Với bài giảng trên truyền hình, phụ huynh rất khó kiểm soát được mức độtiếp nhận của con em mình ngay cả khi các cháu ngồi trước màn hình ti vi, họcsinh không thể đặt câu hỏi, do đó chắc chắn là kết quả bị hạn chế hơn so với họctrực tuyến Hơn nữa, bài giảng trên truyền hình mang tính phổ quát, trong khi cónhiều lớp học sinh ở mức khá giỏi lại cần được học nâng cao hơn, mà điều nàychỉ có thể giải quyết ở lớp học trực tuyến, được tổ chức riêng biệt từng lớp
So với dạy-học truyền thống, dạy-học trực tuyến tiết kiệm chi phí hơn cả
về mặt thời gian đi lại và kinh tế Xây dựng cơ sở hạ tầng mạng không đòi hỏikinh tế cao như xây dựng trường học thật, không đòi hỏi giấy phép phức tạp
Mặt khác, phương pháp giáo dục truyền thống thường là giáo viên độcthoại, chủ động truyền đạt kỹ năng còn người học tiếp thu một cách thụ động,giáo viên làm mẫu còn học sinh làm theo Còn dạy-học trực tuyến có sự hỗ trợcủa thiết bị thông minh nên hình ảnh sinh động, hấp dẫn và cách truyền tải đadạng hơn, kiến thức được minh họa bằng bảng biểu sơ đồ nên dễ hiểu hơn
2.1.3 Mặt hạn chế của dạy-học trực tuyến
Ngoài những ưu điểm, tiện ích thì dạy-học trực tuyến cũng có những hạnchế cơ bản như:
Thứ nhất, học sinh không có nhiều cơ hội học hỏi trao đổi thông tin vớibạn bè, đòi hỏi học sinh phải có tính chủ động, tự lập, tích cực rất cao, nếukhông hiệu quả tiếp thu kiến thức, kĩ năng sẽ không cao
Thứ hai, môi trường học tập không triển khai thực hiện cho các vùng sâu, vùng xa chưa có kết nối internet
Thứ ba, dạy-học trực tuyến cũng làm giảm khả năng truyền đạt với lòngsay mê nhiệt huyết của giáo viên đến học sinh Giáo viên phải thành thạo máytính, xử lí các tình huống liên quan công nghệ mạng5
2.2 Thực trạng của vấn đề.
Qua khảo sát thực tế tình hình giảng dạy và học tập tại trường THPT YênĐịnh 1, tôi nhận thấy thực trạng vấn đề như sau:
2.2.1 Thuận lợi.
4 Mục 2.1.2 Đoạn “Sự khác biệt… không có”, tác giả tham khảo nguyên văn từ TLTK số 5.
5 Mục 2.1.3 Mặt hạn chế của dạy- học trực tuyến, tác giả tham khảo nguyên văn từ TLTK số 6.
- Về phía GV: Tôi rất tâm huyết, yêu nghề, tích cực áp dụng các phươngpháp giảng dạy mới, tìm tòi, sáng tạo vận dụng hiệu quả phương pháp dạy-họctrực tuyến vào ôn tập cho HS thi THPT quốc gia Đặc biệt là những ngày thực
Trang 7hiện giãn cách xã hội vì dịch bệnh Covid-19 thì những buổi dạy-học trực tuyếnthật sự hữu ích đối với HS trong quá trình ôn tập.
- Về phía HS: Trường THPT Yên Định 1, đa phần HS đều sử dụng thànhthạo máy tính, điện thoại di động và có đầy đủ điều kiện để triển khai dạy-họctrực tuyến để ôn tập cho HS kể cả khi HS nghỉ học ở trường nên việc dạy-họctrực tuyến tiến hành thuận lợi
2.2.2 Khó khăn:
- Qua thực tế giảng dạy ở trường THPT các năm qua, tôi nhận thấy xuhướng hiện nay HS không chú trọng nhiều đến môn Ngữ văn, thường cho rằngmôn Ngữ văn chỉ học để thi xét tốt nghiệp, tâm lí ngại học, học một cách hờihợt, nhàm chán nên GV cũng gặp khó khăn trong quá trình truyền đạt tri thức
- Một bộ phận HS quen với cách dạy-học truyền thống nên tiếp thu cònchậm Quá trình kiểm tra, đánh giá cũng gặp nhiều khó khăn và hạn chế vì phảiquan sát HS qua wedcam (camera)
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1 Các giải pháp chung.
Để một giờ dạy-học trực tuyến thành công thì việc chuẩn bị bài dạy vôcùng quan trọng Vì vậy, trước khi dạy, GV cần lưu ý chuẩn bị các nội dung sau:
Thứ nhất, GV thành lập nhóm zalo, facebook, messenger, đưa tất cả các
thành viên trong lớp vào nhóm, hướng dẫn HS cài đặt phần mềm mà GV dùng
để dạy trực tuyến GV có thể thử nghiệm một hôm họp lớp bằng phần mềm nàytrước khi tổ chức buổi học đầu tiên và tập cho HS quen cách sử dụng để khi vàohọc chính thức HS không mất thời gian để vào lớp học
Thứ hai, GV soạn bài dạy thật chi tiết trên phần mềm Powerpoint hoặc
Word, có cả tranh ảnh, bảng biểu, sơ đồ minh họa sinh động
Thứ ba, GV lựa chọn phần mềm giảng dạy phù hợp, có tính năng bảo mật
cao, dễ sử dụng Theo tôi nên lựa chọn phần mềm “meet.google.com/” dễ sử
dụng mà tính bảo mật cao, hình ảnh đẹp, rõ nét, đường truyền tốt GV nên lựachọn giờ dạy vào buổi sáng hoặc buổi chiều, tránh dạy vào buổi tối mạng kémgiờ dạy sẽ không hiệu quả
Thứ tư, GV nên chú ý đầu tóc, trang phục đúng tác phong như một giờ
dạy trực tiếp trên lớp vì đây vẫn là lớp học có rất nhiều HS và còn có cả phụhuynh theo dõi buổi dạy
Thứ năm, GV chú ý điều chỉnh ánh sáng, âm lượng của micro vừa phải,
tránh to quá để âm thanh phát ra dễ nghe hơn, điều chỉnh khoảng cách cameracuả máy tính sao cho hình ảnh rõ và đẹp
Thứ sáu, GV chuẩn bị bút viết, danh sách lớp/nhóm, các tư liệu cần thiết
cho tiết dạy như sách giáo khoa, sách tham khảo, giáo án
2.3.2 Các giải pháp cụ thể.
Để bài dạy hiệu quả, bám sát cấu trúc đề thi THPT, GV thiết kế bài dạyphù hợp với từng phần trong đề thi Đề thi môn Ngữ văn THPT quốc gia baogồm hai phần, đó là phần đọc - hiểu và phần làm văn Vì vậy, khi tiến hành dạymỗi phần tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm, các kinh nghiệm này không chỉ áp dụng cho dạy-học trực tuyến mà còn áp dụng cho dạy-học ôn thi trực
Trang 8tiếp trên lớp cũng rất hữu ích khi có công nghệ thông tin hỗ trợ trong quá trình dạy-học, cụ thể như sau:
2.3.2.1 Một số kinh nghiệm dạy-học trực tuyến phần đọc-hiểu.
*Hoạt động 1: khởi động.
Để có một giờ dạy sôi động, HS hứng thú tích cực tham gia các hoạt độnghọc, GV nên chú trọng xây dựng hoạt động khởi động phong phú về chủ đề, đadạng về hình thức tổ chức, nhưng dù sao cũng bám sát kiến thức đọc-hiểu, vừatạo không khí sôi nổi, vừa giúp HS nhớ lại kiến thức đã học và HS khi thực hànhlàm bài tập sẽ dễ dàng hơn
Về chủ đề, GV chú ý xây dựng các câu hỏi trắc nghiệm hoặc tự luận ngắn,kiến thức liên quan đến phần đọc-hiểu trong thi THPT quốc gia như các kháiniệm, dấu hiệu nhận biết về phương thức biểu đạt, phong cách ngôn ngữ, thaotác lập luận, biện pháp tu từ…
Về hình thức tổ chức, GV nên tổ chức theo hình thức các trò chơi “Ai
nhanh tay hơn”, “Ai thông minh hơn”, “Ô chữ bí mật” GV nêu luật chơi rõ
ràng, khi HS hiểu rõ luật chơi mới bắt đầu
Vì đây là tiết học trực tuyến, GV yêu cầu HS bật camera nhưng tắt micro,khi nào cần trả lời mới bật micro lên cho đỡ ồn GV có thể yêu cầu HS trả lời
bằng phần chat (tin nhắn) cho công bằng (Xem Phụ lục 1; Hoạt động 1: khởi
động), HS nào gửi kết quả lên trước, máy tính đã được sắp xếp sẵn theo thứ tự
thời gian, GV dựa vào đó công bố HS trả lời nhanh nhất và đúng nhất, kèm theo
số điểm quy định cho mỗi câu trả lời Kết thúc trò chơi, HS nào ghi được nhiềuđiểm nhất sẽ được nhận một món quà nhỏ GV sẽ trao vào buổi học sau ở trênlớp
GV ghi tên các HS trả lời sai hoặc không trả lời để nhắc nhở kịp thời, hạnchế số lượng HS không tham gia và tránh sự nhàm chán của buổi học
Sau đây là một trò chơi trong hoạt động khởi động tôi đã tổ chức cho HStrong một giờ dạy đọc - hiểu:
Chủ đề dạy-học: “Ôn tập phần đọc - hiểu”.
Bước 1: GV tổ chức trò chơi: “Ai nhanh tay hơn” Trò chơi chủ yếu
nhắc lại kiến thức phần phương thức biểu đạt cho HS, với 8 câu hỏi (trắc nghiệm
và tự luận ngắn), mỗi câu trả lời nhanh nhất và đúng nhất HS sẽ ghi được 5điểm, GV sẽ chiếu lên từng câu hỏi, sau khi GV đọc câu hỏi xong và nói hiệulệnh “cô nhận đáp án”, HS vào phần nhắn tin chọn đáp án đúng nhất (ví dụ: 1c,2d, 3a,…), đối với câu trả lời tự luận HS phải gõ câu trả lời đầy đủ bằng tiếngViệt, không viết tắt, có thể viết hoa hoặc viết thường để gửi lên Nếu HS gửitrước câu hiệu lệnh xem như phạm quy, dù đúng cũng không tính điểm
Bước 2: GV bắt đầu chiếu câu hỏi, HS thực hiện nhiệm vụ.
Câu 1: “Trực tiếp hoặc gián tiếp bày tỏ tư tưởng tình cảm, cảm xúc, thái độ và
sự đánh giá của người viết đối với đối tượng được nói tới.” là phương thức biểuđạt:
a Miêu tả b Biểu cảm c Tự sự d Điều hành.
Câu 2: “Dùng lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm nhằm thuyết phục
người đọc, người nghe về một tư tưởng quan điểm.” là phương thức biểu đạt:
a Thuyết minh b Điều hành c Tự sự d Nghị luận.
Trang 9Câu 3: “Ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn chương, không chỉ có
chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người Nó làngôn ngữ được tổ chức, sắp xếp, lựa chọn, gọt giũa, tinh luyện từ ngôn ngữthông thường và đạt được giá trị nghệ thuật – thẩm mĩ” là đặc trưng phong cáchngôn ngữ:
a, phong cách ngôn ngữ chính luận b, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
c, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt d, phong cách ngôn ngữ báo chí Câu 4: “Là phong cách ngôn ngữ được dùng trong lĩnh vực chính trị xã hội, có
tính công khai về quan điểm chính trị, tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận, tính truyền cảm, thuyết phục” Đây là đặc trưng của phong cách ngôn ngữ:
a, phong cách ngôn ngữ chính luận b, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
c, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt d, phong cách ngôn ngữ báo chí Câu 5: Biện pháp tu từ chính được sử dụng trong hai câu ca dao sau: “Qua đình ngả nón trông đình – Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu” là….
Câu 6: Biện pháp tu từ chính được sử dụng trong câu thơ sau: “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”(Trích “Tây Tiến”- Quang Dũng) là……
Câu 7: Xác định phương thức biểu đạt chính được dùng trong đoạn văn sau:
“Mặt lão đột nhiên co rúm lại Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước
mắt chảy ra Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít Lão hu hu khóc…” (Trích “Lão Hạc”- Nam Cao)
Câu 8: “Đưa ra ý kiến đánh giá (xác định phải trái, đúng sai, hay dở), bàn bạc
(trao đổi ý kiến) về một tình hình, một vấn đề” là thao tác lập luận…
(Đáp án: 1b; 2d; 3.b; 4.a; 5.So sánh; 6.Nhân hóa; 7.Miêu tả; 8.Bình luận).
Bước 3: GV kiểm tra đáp án và công bố HS được điểm sau mỗi câu hỏi,
đánh dấu vào danh sách những HS trả sai, những HS không tham gia trả lời để
có biện pháp nhắc nhở kịp thời
Bước 4: Hết 8 câu hỏi, GV công bố HS có số điểm cao nhất sẽ nhận một
phần qùa nhỏ vào sáng thứ 2 hàng tuần
Trên đây chỉ là một trò chơi tôi đã tổ chức, GV có thể tổ chức nhiều tròchơi khác nhưng tôi nhận ra hình thức trắc nghiệm và câu trả lời ngắn liên quankiến thức đọc –hiểu triển khai hiệu quả hơn, phù hợp hơn với chủ đề dạy- học,
HS cũng thích thú tham gia hơn GV có thể tổ chức trò chơi khác vui nhộn hơnnhưng chú ý trò chơi phải mang tính chất nhắc lại các kiến thức cơ bản hoặc bàitập nhận biết trong phần đọc- hiểu để HS vừa củng cố, vừa vận dụng thành thạokiến thức lí thuyết vào thực hành bài tập
*Hoạt động 2: Hình thành kiến thức.
Bước 1: GV giao nhiệm vụ cho các nhóm ở tiết học trước: HS hoàn thành
sơ đồ, bảng biểu của mình về các kiến thức đã học liên quan đến phần đọc-hiểu,đặc biệt các dấu hiệu nhận biết phương thức biểu đạt, phong cách ngôn ngữ,biện pháp tu từ, thao tác lập luận, thể loại văn bản, phép liên kết…và gửi vàonhóm lớp trước buổi học một ngày Vì đây là giờ dạy ôn tập nên GV cho HSnhắc lại để củng cố kiến thức trước khi làm bài tập cho tốt
Trang 10Bước 2: Vì các nhóm đã được xem sơ đồ của nhóm bạn trước đó nên GV
chiếu sơ đồ, bảng biểu của từng nhóm, gọi HS nhóm khác nhận xét bài nhómbạn
Bước 3: Sau khi HS trả lời, GV nhận xét và tổng kết lại kiến thức hệ
thống kiến thức bằng sơ đồ, bảng biểu (Xem Phụ lục 1; Hoạt động 2: hình
thành kiến thức) và kĩ năng trả lời một số dạng câu hỏi trong đọc- hiểu cho HS
dễ nhớ, dễ áp dụng HS quan sát, nghe hướng dẫn và chép vào vở ghi nhớ
Sau đây là bảng biểu minh họa về kiến thức và kĩ năng trả lời các dạngcâu hỏi đọc-hiểu chính xác, dễ nhớ nhất:
- Gọi tên và chỉ ra biện pháp tu từ cụ thể trong câu/đoạn
- Nêu tác dụng: về hình thức và nội dung, có thể áp dụng công
thức: biện pháp tu từ ẩn dụ/so sánh/nhân hóa/hoán dụ góp
phần cho câu/đoạn văn/thơ sinh động, gợi hình, hấp dẫn (phép điệp từ/điệp ngữ/điệp cấu trúc góp phần tạo âm hưởng nhịp điệu cho câu/đoạn văn/ thơ), qua đó tác gải nhấn mạnh/khẳng định/bày tỏ quan điểm về…(nêu nội dung, chủ đề cảu câu/đoạn vào).
(GV có thể dùng công thức này thiết lập tác dụng các biện pháp
- Có dạng phải tổng hợp câu trả lời từ những ý nhỏ của văn bản(nhưng ít gặp)
-Vì sao tác
giả cho
rằng…
- Đọc, gạch chân vấn đề đang hỏi trong văn bản, tìm câu trả lời
ở trước hoặc sau vấn đề đã định vị
- Đọc và tổng hợp câu trả lời từ những ý nhỏ trong văn bản,nếu câu trả lời chưa đủ thuyết phục thì HS sẽ tự đưa ra những lí
lẽ để câu trả lời được đầy đủ, thuyết phục
-Nêu nội
dung văn bản
- HS nên tìm câu trả lời theo cấu trúc: Văn bản đang bàn/đềcập/viết về vấn đề….qua đó, tác giả bày tỏ quan điểm/tháiđộ/tình cảm/cảm xúc…
- Dạng câu hỏi này thiên về bàn luận vấn đề
Trang 11- HS lí giải vì sao: HS đưa ra các lí lẽ để lập luận (Chú ý: Nếu
là vấn đề thuộc chuẩn mực đạo đức, chân lí của xã hội thì nênđưa ra vai trò, tác dụng đối với cá nhân, gia đình, xã hội Nếu
là vấn đề vi phạm chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực, chân lí của
xã hội thì nên lập luận mặt tiêu cực/mặt trái ảnh hưởng đến sựphát triển cá nhân, gia đình, xã hội) từ đó kết luận thông điệp ýnghĩa và đưa ra một lời khuyên ngắn
Bước 4: GV có thể hướng dẫn và giao cho HS về nhà lập bảng kĩ năng
trả lời các dạng câu hỏi khác trong đọc-hiểu, bởi lẽ, dù HS có thuộc khái niệm
mà không có kĩ năng trả lời đọc-hiểu thì cũng không thể lấy điểm phần đọc-hiểutối đa được nên GV cần chú trọng các kĩ năng này
*Hoạt động 3: Luyện tập.
Bước 1: GV chiếu bài tập ứng dụng, yêu cầu HS đọc câu hỏi trước và xác
định dạng câu hỏi, ứng dụng kĩ năng trả lời nào, sau đó mới đọc văn bản và thực
hành làm bài tập GV bấm thời gian khoảng 10 phút để HS làm bài tập (Lưu ý:
GV chú ý lựa chọn ngữ liệu phong phú ở các thể loại và các dạng câu hỏi, đảmbảo các mực độ trong cấu trúc đề thi HS có điều kiện thực hành và rèn luyệnđược nhiều kĩ năng nhất Từ đó, HS có thể đọc- hiểu bất cứ ngữ liệu nào) Ví dụnhư hai bài tập sau đây:
Bài tập 1: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Dịch Covid-19 cho thấy một thực tế là, loài người, cho dù đã tiến những bước dài trên con đường chinh phục tự nhiên, tích lũy được khối kiến thức khoa học khổng lồ để hiểu và chế ngự thiên nhiên, nhưng, con người vẫn dễ bị tổn thương và đe dọa bởi thiên nhiên đến nhường nào Một dịch bệnh mới vẫn luôn
có thể bùng phát bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu trên thế giới và sự chuẩn bị ứng phó, ngăn ngừa bệnh dịch của con người chưa bao giờ có thể coi là đủ được Như thế, cuộc chiến chống lại dịch bệnh của con người là không khi nào ngừng nghỉ.
Trên góc độ quốc tế, dịch bệnh là một trong những mối đe dọa an ninh phi truyền thống, nổi lên trong những thập kỷ qua khiến nhân loại phải lo ngại sâu sắc, mọi quốc gia đều phải đối mặt Dịch Covid-19 bùng phát lần này, với hậu quả và hệ lụy lớn hơn rất nhiều so với dịch SARS ở châu Á hay Ebola ở châu Phi trong quá khứ, lại cho thấy các quốc gia tùy thuộc lẫn nhau ở mức độ cao như thế nào Nguy cơ và mối đe dọa lây lan của dịch bệnh giữa các quốc gia đã lớn hơn rất nhiều, xuất phát từ sự phát triển mạnh mẽ của trao đổi, giao thương
và du lịch quốc tế Hệ lụy và sức tàn phá về kinh tế của dịch bệnh cũng nghiêm trọng hơn rất nhiều và lâu dài hơn nhiều do độ mở lớn của các nền kinh tế và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước trong chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu.
Trang 12Đối phó với dịch bệnh, mỗi quốc gia đều có nỗ lực, biện pháp riêng để bảo
vệ sự an toàn của người dân Đây cũng là nhiệm vụ quan trọng nhất, xuất phát
từ đòi hỏi và nhu cầu tối thượng của người dân mà mọi chính phủ đều phải làm cho tốt Song, bên cạnh đó không thể không có vai trò rất quyết định của hợp tác chung trong cộng đồng khu vực và quốc tế.
Đồng cảm, chia sẻ, tương trợ quốc tế và hợp tác ứng phó tập thể, trong thời buổi dịch bệnh hiện nay, lại càng quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết.
(Trích “Đối phó với dịch bệnh Covid: cuộc chiến không ngừng nghỉ”
-baoquocte.vn)
Câu 1 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên Câu 2 Vì sao tác giả cho rằng: cuộc chiến chống lại dịch bệnh của con người là
không ngừng nghỉ?
Câu 3 Anh chị hiểu như thế nào về ý kiến: Hệ lụy và sức tàn phá về kinh tế của
dịch bệnh cũng nghiêm trọng hơn rất nhiều và lâu dài hơn nhiều?
Câu 4 Anh /chị có đồng tình với quan niệm: Đồng cảm, chia sẻ, tương trợ quốc
tế và hợp tác ứng phó tập thể, trong thời buổi dịch bệnh hiện nay, lại càng quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết.? Vì sao?
Bài tập 2: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
“ Len lén giữa vi rút, rác rưởi, lời đồn thổi
Dịch cúm gà, hacker, ngã sáu kẹt xe
Chúng ta sống
Ép mình xuống sàn nhà chạy trốn cái nóng thiêu thân
Chúng ta mơ mộng Nhai thật kĩ miếng thịt biến đổi gene Giặt siêu sạch quần áo sida Chúng ta ăn diện Đây, cuộc chiến đấu không tiền khoáng hậu
Để mình còn là mình Mình là sự sống
( “Sự sống” – Nguyễn Khoa Điềm , Cõi lặng , NXB Văn học
2007)
Câu 1 : Bài thơ trên đc sáng tác bằng thể thơ nào ?
Câu 2 : Chỉ ra những vấn đề con người đang phải đối mặt trong cuộc sống được
tác giả nêu trong bài thơ ?
Câu 3 : Tìm và nêu hiệu quả của phép Điệp được sử dụng trong 3 khổ thơ đầu Câu 4: Anh / chị hiểu nội dung những dòng thơ sau như thế nào ?
“Đây, cuộc chiến đấu không tiền khoáng hậu
Để mình còn là mình Mình là sự sống”
Bước 2: HS tiến hành làm bài tập vào giấy nháp của mình, GV quan sát
từng HS qua camera, nhắc nhở kịp thời những HS không làm bài tập
Bước 3: Khi kết thúc thời gian HS làm bài tập, GV yêu cầu HS cả lớp vào
phần chat gõ đáp án các câu ngắn như phương thức biểu đạt, biện pháp tu từ…
GV kiểm tra đáp án và công bố kết quả đúng nhất, nhanh nhất hoặc GV gọi các
Trang 13HS có học lực yếu hơn trả lời các câu hỏi dễ trước, các câu hỏi khó gọi HS kháctrả lời sau.
Bước 4: GV nhận xét và đưa đáp án cụ thể, rút kinh nghiệm thêm về kĩ
năng đọc - hiểu cho HS (Xem phụ lục 1; Hoạt động 3: luyện tập).
*Hoạt động 4: Vận dụng.
GV nên tìm các ngữ liệu mới để HS vận dụng các kĩ năng làm bài tậpđọc-hiểu, kích thích sự suy luận sáng tạo cho HS Các bước thực hành giốngphần luyện tập
GV lưu ý: vì đây là hoạt động dạy-học trực tuyến nên sau buổi học GV yêu
cầu HS chụp lại vở ghi gửi vào zalo hoặc messenger riêng cho GV, kèm theo đó
là GV điểm danh trực tiếp HS Làm như vậy sẽ hạn chế việc HS bỏ học, lườinhác không ghi bài, không theo dõi buổi học Đối với bài tập đọc-hiểu, HSkhông phải chép đề, GV sẽ gửi đề cho HS qua gmail để HS tự in vào ghim vào
vở ghi
2.3.2.2 Một số kinh nghiệm dạy-học trực tuyến phần làm văn.
2.3.2.2.1 Một số kinh nghiệm dạy-học viết đoạn văn nghị luận xã hội (đoạn văn 200 chữ)
*Hoạt động 1: Khởi động.
Khác với phần đọc-hiểu, GV nên khởi động bằng các kiến thức liên quanđến làm văn, đặc biệt các kiến thức liên quan đến đoạn văn như cách nhận biếthình thức, cách viết đoạn văn theo kiểu diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành,tổng-phân-hợp…
GV tổ chức trò chơi bằng các câu trắc nghiệm ngắn, hình thức tổ chức,các dạng câu hỏi tương tự phần đọc-hiểu Ví dụ như trò chơi sau đây mà tôi đã
tổ chức:
Bước 1: GV tổ chức trò chơi “Đi tìm nhà thông thái của lớp?” Có 6 câu
hỏi trả lời ngắn, GV sẽ tiến hành chiếu trên màn hình và đọc từng câu hỏi, sau
mỗi câu hỏi, HS nào muốn trả lời sẽ nhấn vào phần tin nhắn từ “Y”, nếu không
có câu trả lời nhấn “N” HS nào nhấn lên trước thì được quyền gọi trả lời, lúc đó
HS mới bật micro để trả lời, nếu HS không có micro thì có thể nhấn đáp án vào
phần tin nhắn khi được GV gọi trả lời ( Lưu ý: GV không được cho HS bật
micro xin trả lời hoặc giơ tay, nếu HS bật micro cùng lúc sẽ ồn, nếu giơ tay GVcũng không quan sát kịp thời HS nào giơ tay trước và như vậy trò chơi sẽ mất đi
sự công bằng) Mỗi câu trả lời đúng được 5 điểm, nếu HS trả lời sai sẽ gọi HS
có tín hiệu trả lời nhanh thứ hai tiếp tục trả lời
Bước 2: HS tiến hành khởi động theo luật chơi GV đã phổ biến.
Câu 1: Dấu hiệu nhận biết đoạn văn về mặt hình thức như thế nào?
Câu 2: Kể tên các kiểu kết cấu đoạn văn (phương pháp triển khai đoạn văn)? Câu 3: Kể tên các thao tác lập luận trong văn nghị luận?
Trang 14Câu 4: Đề văn nào dưới đây không thuộc loại nghị luận về một tư tưởng đạo lí?
a, Anh/ chị suy nghĩ như thế nào về câu nói: Cái nết đánh chết cái đẹp
b, Anh/ chị suy nghĩ như thế nào về câu khẩu hiệu : Học để biết, học để làm, học
Câu 5: Điền cụm từ còn thiếu trong định nghĩa sau về kết cấu đoạn văn
“……… là đoạn văn được trình bày đi từ các ý chi tiết, cụ thể nhằm hướng tới
ý khái quát nằm ở cuối đoạn”
Câu 6: Điền cụm từ còn thiếu trong định nghĩa sau về kết cấu đoạn văn
“…… là đoạn văn phối hợp diễn dịch với quy nạp Câu mở đoạn nêu ý khái
quát bậc một, các câu tiếp theo khai triển ý khái quát, câu kết đoạn là ý khái quátbậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng Những câu khai triển được thực hiệnbằng thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, nhận xét hoặc nêucảm tưởng, để từ đó đề xuất nhận định đối với chủ đề, tổng hợp lại, khẳng địnhthêm giá trị của vấn đề”
(Đáp án: câu 1: Về mặt hình thức đoạn văn được tính bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi vào và liên tục cho đến lúc chấm xuống dòng; câu 2: các phương pháp triển khai đoạn văn: diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành, tổng –phân –hợp; câu
3: so sánh, phân tích, chứng minh, giải thích, bình luận, bác bỏ; câu 4: c; câu 5:
đoạn văn quy nạp; câu 6: đoạn văn tổng- phân- hợp).
Bước 3: GV kiểm tra đáp án và công bố HS được điểm sau mỗi câu hỏi Bước 4: Hết 6 câu hỏi, GV công bố HS có số điểm cao nhất sẽ nhận một
phần thưởng “Nhà thông thái của lớp” vào sáng thứ 2 hàng tuần
* Hoạt động 2: Hình thành kiến thức.
Bước 1: - GV giao nhiệm vụ ở nhà cho HS tìm hiểu và phân biệt về hình
thức, cấu trúc, nội dung của bài văn và đoạn văn nói chung
-GV yêu cầu HS phân biệt các phương pháp viết đoạn văn, cácthao tác lập luận trong văn nghị luận, tìm một vài dẫn chứng cho đoạn văn nghịluận về một tư tưởng đạo lí, về một hiện tượng đời sống
Bước 2: HS báo cáo kết quả thực hành nhiệm vụ về nhà
Bước 3: GV nhận xét, tổng hợp kiến thức, nhấn mạnh đặc điểm của đoạn
văn và bài văn bằng bảng phụ:
Hình
thức,
cấu
trúc
- Một đoạn văn bắt đầu từ chỗ
viết hoa đầu dòng, viết lùi vào
cho đến khi kết thúc đoạn văn
chấm xuống dòng
- Có câu khái quát hoặc không
có câu khái quát, có các câu triển
Trang 15
GV nhấn mạnh cấu trúc một đoạn văn nghị luận xã hội bằng sơ đồ cho dễnhớ Ví dụ như sơ đồ6 đoạn văn nghị luận xã hội viết theo cấu trúc tổng- phân-hợp:
*Hoạt động 3: Luyện tập.
Bước 1: Sau khi GV định hình kiến thức chung của phần viết đoạn văn
nghị luận xã hội (200 chữ), GV ra đề bài cụ thể, tổ chức cho HS luyện tập lập
dàn ý cho đoạn văn (Lưu ý: GV nên chọn các dạng đề về một hiện tượng đời
sống tiêu cực, một tư tưởng đạo lí), thời gian thực hành trong 5-6 phút Ví dụnhư đề bài dạng cơ bản sau:
Đề bài: Anh/chị hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ
của mình về chủ đề “Dũng cảm bước đi”.
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ GV quan sát HS qua camera, nhắc nhở kịp thời
những HS không làm bài
Bước 3: Hết thời gian, GV gọi một số HS đọc bài của mình, HS khác
chụp giấy nháp lại gửi trong nhóm zalo, messenger của lớp, cuối buổi dạy GV sẽxem và nhận xét từng bạn vào giấy, rồi GV chụp bài nhận xét của mình gửi vàonhóm lớp cho HS xem để HS vừa được tham khảo bài của bạn, vừa đọc nhận xétcủa GV sẽ rút kinh nghiệm cho bản thân mình trong các bài sau
Bước 4: GV hướng dẫn HS lập dàn ý chi tiết về đoạn văn Sau đây là ví
dụ minh họa về dàn ý chi tiết cho đề bài trên theo phương pháp tổng-phân-hợp:
Trang 16Mục 2.3.2.2.1 Sơ đồ tư duy, Tác giả tham khảo nguyên văn từ TLTK số 10.
Dàn ý chi tiết:
- Mở đoạn: Lòng can đảm là cái giá mà cuộc đời đòi hỏi để trao cho ta sự
thanh thản Bởi vậy, hãy “dũng cảm bước đi” ta sẽ tìm thấy niềm hạnh phúc, sự
thanh thản của cuộc đời (HS có thể nêu vấn đề trực tiếp, ngắn gọn)
- Thân đoạn:
+ Giải thích “dũng cảm”: Dũng cảm là không sợ nguy hiểm, khó khăn Người
có lòng dũng cảm là người không run sợ, không hèn nhát, dám đứng lên đấutranh chống lại cái xấu, cái ác, các thế lực tàn bạo để bảo vệ công lí, chính nghĩa
~ Lòng dũng cảm là nền tảng của các phẩm chất tốt đẹp khác của con người.lòng dũng cảm là đức hạnh vĩ đại nhất trong mọi loại đức hạnh, bởi nếu bạnkhông có lòng dũng cảm, bạn có thể sẽ không có cơ hội phát huy tất cả nhữngthứ còn lại
~ “Dũng cảm bước đi” ta sẽ tìm thấy cơ hội trong khó khăn, khẳng định vị trícủa mình trong xã hội ta sẽ đánh những dấu son chói lọi trên cuộc hành trìnhngàn dặm của đời người…
+ Dẫn chứng: những y, bác sĩ, công an, bộ đội, những người trên tuyến đầu
chống dịch Covid-19…
+ Bàn luận mở rộng: Phê phán những người nhầm tưởng lòng dũng cảm với
hành động liều lĩnh, mù quáng, bất chấp công lí Phê phán những người hèn nhát,bạc nhược không dám đấu tranh, không dám đương đầu với khó khăn thử thách
để vươn lên trong cuộc sống
-Kết đoạn:
+ Bài học nhận thức và hành động:
+ Liên hệ bản thân đã dũng cảm trong những việc gì…
+ Rèn luyện tinh thần dũng cảm từ việc làm nhỏ nhất trong cuộc sống hàng ngàynơi gia đình, nhà trường như dám nhận lỗi khi mắc lỗi, dũng cảm chỉ khuyết điểm của bạn Trách nhiệm của tuổi trẻ trong việc rèn luyện lòng dũng cảm, pháthuy truyền thống quý báu của dân tộc
(HS cũng có thể chọn dàn ý viết theo phương pháp diễn dịch, quy nạp…)
Lưu ý: GV nên hướng dẫn chi tiết từng bước như dàn ý trên Bởi vì nhiều
HS hiểu vấn đề nhưng thiếu ngôn từ và kĩ năng viết nên rất khó vận dụng để viếtthành thạo đoạn văn GV chọn một đề bài khác liên quan đến hiện tượng đờisống tiêu cực và cho HS lập dàn ý, các bước giống như luyện tập lập dàn ý cho
đề bài trên
*Hoạt động 4: Vận dụng.
Bước 1: Ở hoạt động này, GV cho HS thực hành viết đoạn văn từ dàn ý ở
phần luyện tập trong khoảng thời gian 15-20 phút hoặc GV yêu cầu HS thực
Trang 17hành làm bài tập tổng hợp có cả phần đọc- hiểu và phần viết đoạn văn (200 chữ)
rút ra từ phần đọc-hiểu, chú ý lựa chọn ngữ liệu từ dễ đến khó (Xem phụ lục 2;
Hoạt động 4: vận dụng).
Bước 2: GV chiếu ngữ liệu lên và yêu cầu HS thực hành viết đoạn văn
hoặc làm đọc- hiểu và lập dàn ý cho đoạn văn rút ra từ đọc-hiểu Thời gian hoànthành cả đọc-hiểu và đoạn văn (200 chữ) là 35 phút GV quan sát qua camera vànhắc nhở kịp thời các HS không tập trung làm bài
Bước 3: Sau khi HS hoàn thành bài tập, GV gọi hai HS đọc mẫu, cả lớp
theo dõi GV gọi HS khác nhận xét bài của bạn vừa đọc, sau đó GV nhận xét,góp ý, HS ruts kinh nghiệm
Bước 4: GV nhận xét và chiếu đáp án của bài tập vận dụng HS so sánh
đáp án và rút kinh nghiệm cho các bài sau GV yêu cầu các HS khác gửi bài củamình vào nhóm lớp Classroom, hoặc vào zalo, messenger của GV Sau buổi học,
GV tiến hành chấm điểm và nhận xét trong nhóm đó
*Hoạt động 5: Tìm tòi, mở rộng.
GV khuyến khích HS tìm thêm đề trên mạng của các trường, GV giớithiệu một số trang đề có chất lượng để HS vào tìm và tự thực hành làm bài tậpnhư: Tuyensinh247.com, hocmai.vn,…hoặc một số đề của các trường như PhanBội Châu – thành phố Vinh, Đại học Quốc gia Hà Nội, Lê Hồng Phong - Thànhphố Hồ Chí Minh… HS làm bài tập này vào vở riêng, GV sẽ kiểm tra vở bài tậpvào buổi học trên lớp
2.3.2.2.2 Một số kinh nghiệm dạy-học viết bài văn nghị luận văn học
*Hoạt động 1: Khởi động.
Ở hoạt động này, GV nên khởi động bằng các trò chơi xoay quanh kiếnthức liên quan đến tác giả, tác phẩm văn học hoặc cấu trúc, phương pháp viếtmột bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ, nghị luận về một đoạn trích, mộttác phẩm văn xuôi GV tổ chức trò chơi bằng các câu hỏi trắc nghiệm, dạng câu
hỏi trả lời ngắn, hình thức tổ chức đa dạng như “Ô chữ bí mật”, “Đường lên
đỉnh vinh quang”, “Đuổi hình bắt chữ”, “Mảnh ghép thần kì”, “Cuộc đua kì thú”…
GV lưu ý: các câu hỏi khởi động phải phù hợp với kiến thức về tác phẩm
văn học, kĩ năng làm văn có trong phần luyện tập thực hành của buổi học Nhưvậy, vừa củng cố được kiến thức văn học, vừa luyện được kĩ năng làm bài Sau đây là một trò chơi tôi đã tổ chức được HS tham gia sôi nổi, thíchthú, hiệu quả:
Chủ đề nghị luận về đoạn thơ, bài thơ (tác phẩm “Tây Tiến”)
Bước 1: GV giao nhiệm vụ:
GV tổ chức trò chơi “Cuộc đua kì thú” Có 6 câu hỏi trắc nghiệm, GV
sẽ tiến hành chiếu trên màn hình và đọc lần lượt từng câu hỏi, đọc liên tục không
dừng lại Sau mỗi câu hỏi, HS nào có đáp án thì nhấn nhanh vào phần chat, cách
trả lời phải có thứ tự câu hỏi kèm đáp án (ví dụ:1a, 2b, 3c….), nếu câu trả lời chỉ
có mình đáp án xem như phạm quy, không tính kết quả Mỗi câu trả lời đúngđược 5 điểm, chỉ tính điểm cho HS trả lời nhanh nhất và đúng nhất
Câu 1: Đề bài nào sau đây thuộc kiểu bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ?
a Suy nghĩ của anh (chị) về câu tục ngữ :"Lá lành đùm lá rách"
Trang 18b Anh/chị hãy bàn về “Lòng nhân ái”
c Cảm nhận của anh/ chị về bài thơ “Tây Tiến” (Quang Dũng)
d Suy nghĩ của anh (chị) về những dòng sông bị ô nhiễm hiện nay
Câu 2 : Dòng nào dưới đây nêu không đúng nội dung thường có của một bài văn
nghị luận về thơ?
a Giới thiệu khái quát về bài thơ, đoạn thơ
b Bàn về những giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ
c Những sự kiện xung quanh sự ra đời của bài thơ
d Đánh giá chung về bài thơ, đoạn thơ
Câu 3 : Thao tác nào dưới đây ít được sử dụng trong khi nghị luận về thơ?
a Thao tác phân tích b Thao tác bình luận
c Thao tác chứng minh d Thao tác bác bỏ
Câu 4 : Trong phần mở bài của bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cần phải
đạt được yêu cầu gì?
a Giới thiệu một cách khái quát về bài thơ, đoạn thơ
b Trình bày được hoàn cảnh ra đời của bài thơ, đoạn thơ
c Nêu đánh giá của mình về bài thơ, đoạn thơ
d Chỉ ra thành công nghệ thuật của mình về bài thơ, đoạn thơ
Câu 5 : Bài thơ “Tây Tiến” ra đời năm mấy?
a 1947 b 1948 c 1954 d 1971
Câu 6: Ý nào sau đây nêu đầy đủ nhất nội dung chính của bài thơ “Tây Tiến”.
a, Ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ và lãng mạn của núi rừng Tây Bắc nước ta
b, Ca ngợi sự hi sinh anh dũng của những người lính Tây Tiến
c, Ca ngợi vẻ đẹp lãng mạn, tinh thần lạc quan của những người lính Tây Tiến
d, Thể hiện nỗi nhớ và niềm tự hào về đồng đội, những người lính đã chiến đấu
và hi sinh vì Tổ quốc
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ theo quy định của luật chơi mà GV đã
phổ biến
Bước 3: Hết 6 câu hỏi, GV công bố đáp án để HS so sánh với câu trả lời
và rút kinh nghiệm (Đáp án: 1-c; 2-c; 3-d, 4-a; 5-b; 6-d).
Bước 4: GV công bố tổng điểm của HS trả lời nhanh nhất và đúng nhất,
HS chiến thắng và nhận phần thưởng vào buổi học sau tại lớp GV nhắc nhở các
HS không tham gia trò chơi để lần sau HS rút kinh nghiệm tham gia đầy đủ
*Hoạt động 2: Hình thành kiến thức.
Ở buổi học này, trọng tâm là phần luyện tập, thực hành kĩ năng lập dàn ý
và viết bài văn nghị luận văn học Vì thế, GV nên chia lớp thành 4 nhóm, giaonhiệm vụ cho từng nhóm vẽ sơ đồ hệ thống kiến thức nội dung và nghệ thuậtcủa tác phẩm mà trong buổi học này sẽ luyện tập Như vậy, HS sẽ nhớ kiến thức
cơ bản của tác phẩm văn học và vận dụng vào thực hành dễ dàng hơn
Ví dụ GV xác định chủ đề của buổi học sau là Thực hành lập dàn ý cho
đoạn thơ, bài thơ “Tây Tiến” thì cuối buổi học trước đó, GV chia lớp thành 4
nhóm, yêu cầu các nhóm vẽ sơ đồ tư duy: nhóm 1 – nội dung 14 câu thơ đầu,nhóm 2- nội dung 8 câu thơ tiếp, nhóm 3 – nội dung 8 câu thơ tiếp, nhóm 4 –
nội dung 4 câu thơ cuối và tổng hợp nghệ thuật của cả bài thơ “Tây Tiến” GV
Trang 19định hướng nên vẽ sơ đồ tư duy chi tiết, theo hình mũi tên cho dễ học (Xem phụ
lục 3; Hoạt động 2: hình thành kiến thức).
HS nạp ảnh chụp sơ đồ của nhóm mình cho GV trước buổi học một ngày,
HS có thể gửi ảnh chụp vào zalo, messenger nhóm lớp để cả lớp tham khảo Bắtđầu buổi học, GV tiến hành các bước như sau:
Bước 1: GV kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm vụ của tiết học trước:
Trước khi vào thực hành luyện tập, GV gọi lần lượt từng nhóm nhận xét sơ đồ
tư duy của nhóm bạn đã gửi trong nhóm lớp Classroom hoặc zalo, mesenger.Sau đó GV nhận xét, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của từng nhóm để HS rútkinh nghiệm cho những sơ đồ kiến thức của tác phẩm khác
Bước 2: GV giao nhiệm vụ mới: yêu cầu HS nhắc lại dàn ý chung của
bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ hoặc đoạn trích, tác phẩm văn xuôi đã họctrong chương trình chính khóa
Bước 3: HS thực hiện nhiệm vụ: GV gọi đến HS nào, HS đó bật micro
trả lời
Bước 4: GV nhận xét và chiếu dàn ý chung về kĩ năng phân tích một
đoạn thơ hoặc sơ đồ kĩ năng phân tích một tác phẩm văn xuôi cho HS xem,
hướng dẫn sơ lược cho HS tái hiện kĩ năng đã học (Xem phụ lục 3; Hoạt động
2: hình thành kiến thức).
*Hoạt động 3: Luyện tập.
Bước 1: GV nên chọn các bài tập từ dễ đến khó, từ cơ bản đến nâng cao,
bám sát dạng đề thi THPT quốc gia cho HS thực hành lập dàn ý, vừa củng cốkiến thức, vừa củng cố kĩ năng lập dàn ý, làm bài
Ví dụ đề về thơ: cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau trong bài thơ
“Tây Tiến” của Quang Dũng: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi… Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Ví dụ đề về truyện: Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân từ buổi sáng sau khi có vợ cho đến kết thúc tác phẩm Các buổi sau GV ra đề có phần nâng cao cho HS tập
quen với các dạng đề như: cảm nhận một đoạn thơ trong bài thơ cụ thể từ đó
nhận xét một ý kiến… hoặc phân tích một nhân vật trong truyện ngắn từ đó nhận xét giá trị nhân đạo của tác phẩm…
Bước 2: HS nhận nhiệm vụ và tiến hành lập dàn ý, GV quan sát qua
camera xem HS có làm bài không, HS nào không làm bài GV nhắc nhở kịp thời
Bước 3: GV gọi khoảng 3 HS báo cáo kết quả thực hành nhiệm vụ Ở
bước này, GV lưu ý vì thời gian có hạn nên GV không thể gọi hết tất cả HStrong lớp đọc dàn ý của mình cho các bạn nghe được nên GV yêu cầu tất cả HSchụp bài làm của mình và gửi qua nhóm lớp để GV kiểm tra sau buổi học, các
HS khác cũng có thể tham khảo bài của bạn qua nhóm lớp này
Bước 4: GV gọi HS khác nhận xét bài của bạn, sau đó GV tổng hợp và
đưa dàn ý chung GV chú ý sửa dàn ý chi tiết để HS học tập, rút kinh nghiệm
(Xem phụ lục 3; Hoạt động 3: luyện tập).
*Hoạt động 4: Vận dụng.
Ở hoạt động vận dụng, GV nên chú trọng rèn cho HS cách triển khaimột luận điểm thành đoạn văn cụ thể, HS thường thiếu ngôn từ diễn đạt nên từ líthuyết đi đến thực hành là khoảng cách quá xa Để HS viết văn tốt hơn, GV nên
Trang 20hướng dẫn mẫu từng luận điểm, từng thao tác trong dàn ý bằng đoạn văn cụ thể,
từ phần mở bài cho đến phần thân bài và kết bài HS sẽ hiểu sâu hơn về kiếnthức và kĩ năng làm bài Ở các buổi học sau, GV không phải làm mẫu mà yêucầu HS viết thành các đoạn hoàn chỉnh
Ví dụ như khi viết phần mở bài cho đề bài: “Anh (chị) hãy phân tích diễnbiến tâm lí bà cụ Tứ khi biết Tràng có vợ trong truyện ngắn “Vợ nhặt”của KimLân”, GV hướng dẫn HS viết như sau:
Bước 1: GV gọi HS xác định ý chính trong mở bài Khi HS xác định được
ý chính như: dẫn dắt vấn đề trực tiếp hoặc gián tiếp (HS có thể bắt đầu bằng cảmxúc, bằng lí luận văn học, bằng một chi tiết trong tác phẩm…), nêu vấn đề, vấn
đề đó trong tác phẩm nào, của ai?
Bước 2: GV hướng dẫn HS triển khai thành đoạn văn mở bài hoàn chỉnh
và chỉ cho HS các ý trong mở bài được cụ thể hóa ra sao, cách dẫn dắt như thếnào cho có cảm xúc…
Mở bài 1: Từng nốt nhạc du dương trong bản sonate Ánh trăng của
Beethoven khiến lòng người lặng đi vì xúc động, phải chăng Beethoven đã viết bản nhạc ấy khi chứng kiến cảnh cha con cô gái mù Nghệ thuật luôn bắt nguồn
từ hiện thực cuộc đời nhưng lại tạo ra sự sống cho con người tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân cũng từ cuộc đời và vì cuộc đời mà có Bởi vậy, trên cái
nền u ám của nạn đói vẫn có một cảnh tượng ấm áp, bình dị của cuộc sống đời thường diễn ra như tiếp thêm cho ta động lực để vượt qua tất cả Ta hãy lắng nghe giai điệu cảm xúc của bà cụ Tứ đên từ cuộc sống bình dị - cuộc sống khi Tràng có vợ để nhận ra vẻ đẹp của tình người trong nạn đói năm ấy
Mở bài 2: Chẳng hiểu sao khi gấp trang cuối cùng của truyện ngắn “Vợ
nhặt” – Kim Lân trong tôi vẫn còn đọng lại hình ảnh bà cụ Tứ lễ mễ bê nồi cháo cám với câu nói: “Chè đây… chè khoán đây, ngon đáo để…” Có thật chăng là món chè khoán ngon đáo để, hay đó là miếng cháo cám chát xít trong
cổ họng? món “chè khoán” được nấu bằng tất cả tình thương yêu và trái tim nhân hậu của người mẹ nghèo - bà cụ Tứ - trong nạn đói năm ấy thật xúc động.
Ta hãy cùng men theo trang truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân để hiểu thêm về
tấm lòng của người mẹ ấy khi chứng kiến con mình yên bề gia thất giữa ngày đói khát và giá trị nhân đạo sâu sắc của truyện ngắn.
Còn đây là ví dụ về cách viết đoạn về tác giả và hoàn cảnh ra đời cho
truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” Đoạn văn giới thiệu tác giả thường đảm bảo nội
dung: nêu vị trí, nét chính cuộc đời, sự nghiệp, phong cách nghệ thuật của tácgiả Nếu HS có kiến thức tốt có thể đưa một nhận định của tác giả khác về tácgiả đang làm để đoạn văn hấp dẫn, thuyết phục Dung lượng đoạn văn khoảng 5-
7 dòng, cụ thể như sau:
Tô Hoài là gương mặt tiêu biểu của văn học Viêt Nam hiện đại dù cuộc đời vất vả, phải làm nhiều nghề để kiếm sống, nhưng Tô Hoài viết thành công ở nhiều thể loại và in dấu ấn của mình trên văn đàn bởi lối viết văn sinh động, hóm hỉnh, giản dị mà giàu sức gợi Quả thực như Nguyễn Quang Trung nhận xét: “Giữa không khí oi ngột của đau khổ, người đọc như được thư giãn trước những trang văn thoáng đãng, bảng lảng một màn sương thơ mộng như thế, nó