Hóa học là một bộ môn khoa học thực nghiệm, việc tăng nội dung thínghiệm biểu biễn, bài thực hành và bài tập thực nghiệm trong dạy học hóa họckhông những tạo điều kiện thuận lợi
Trang 1Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I Đặt vấn đề
Trong hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học hóa học nói riêng,hứng thú học tập có vai trò đặc biệt quan trọng Kết quả học tập của người họckhông chỉ phụ thuộc vào đặc điểm trí tuệ của cá nhân, mà còn phụ thuộc vàođộng cơ, thái độ và hứng thú học tập của người học Hứng thú học tập có tácdụng nâng cao tính tích cực, tự giác và làm tăng hiệu quả của quá trình nhậnthức, hứng thú học tập tạo ra sự say mê nghiên cứu, tìm tòi kiến thức, nhu cầucần hiểu biết, vận dụng kiến thức về một lĩnh vực, một bộ môn khoa học nào đó,giúp người học có thể vượt qua mọi khó khăn để đạt được mục đích nhanh nhất
Lí luận dạy học đã chỉ ra rằng: “Dạy học phải có tác dụng thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của người học” Một mặt trí tuệ của học sinh chỉ có thể phát triển tốt
trong quá trình dạy học khi thầy giáo phát huy tốt vai trò của người tổ chức, điềukhiển Bởi một sự gợi ý khéo léo có tính chất gợi mở của giáo viên sẽ có tácdụng kích thích tính tự lực và tư duy sáng tạo của học sinh, lôi kéo họ chủ độngtham gia vào quá trình dạy học một cách tích cực, tự giác Mặt khác đối với họcsinh để phát triển trí tuệ của mình không có cách nào khác là phải tự mình hành
động, hành động một cách tích cực và tự giác J Piaget đã kết luận: “Người ta không học được gì hết nếu không phải trải qua sự chiếm lĩnh bằng hoạt động, rằng học sinh phải phát minh lại khoa học, thay vì nhắc lại những công thức bằng lời của nó”.
Thực tiễn chứng tỏ rằng: thiếu hứng thú học tập làm cho tinh thần mệt mỏi,làm giảm khả năng tư duy, giảm khả năng lĩnh hội tri thức và đây là nguyênnhân trực tiếp dẫn đến sự yếu kém trong học tập Vì vậy, một trong những yêucầu sư phạm quan trọng của người giáo viên là phải hình thành và kích thíchhứng thú học tập bộ môn cho học sinh nhằm nâng cao năng lực nhận thức củahọc sinh, nâng cao chất lượng dạy học
Hóa học là một bộ môn khoa học thực nghiệm, việc tăng nội dung thínghiệm biểu biễn, bài thực hành và bài tập thực nghiệm trong dạy học hóa họckhông những tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh lĩnh hội hệ thống kiến thức,rèn luyện kĩ năng thực hành, phát triển tư duy, mà còn giúp học sinh hình thànhthế giới quan khoa học đúng đắn
Tuy nhiên, việc dạy và học bộ môn Hóa học hiện nay ở các trường phổthông cũng còn khá nhiều hạn chế như chủ yếu vẫn thiên về lí thuyết, chưa cungcấp cho học sinh các kiến thức có tính ứng dụng thực tế nhiều, hay việc thínghiệm hóa học chưa được thể hiện trong nhiều giờ lên lớp, học sinh ít được tựlàm thí nghiệm Chính những điều này đã làm cho học sinh chưa thực sự cóhứng thú học tập bộ môn Hóa học, dẫn đến chất lượng bộ môn chưa cao
Từ các lí do trên tôi đã quyết định nghiên cứu đề tài :
Trang 2"Một số biện pháp kích thích hứng thú học tập và phát triển tư duy cho học
sinh trong dạy học chương oxi – không khí môn Hóa học 8"
II Mục đích (mục tiêu) nghiên cứu
Nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp nhằm kích thích hứng thú học tập vàphát triển tư duy cho học sinh trong dạy học hóa học chương oxi – không khílớp 8, khơi dậy niềm đam mê của các em học sinh với bộ môn Hóa học Từ đó,kết quả học tập của các em cũng như chất lượng bộ môn ngày càng được nângcao hơn
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lí luận của vấn đề
và ý nghĩa thiết thực của nó trong đời sống cá nhân”.
ACômenky xem tạo hứng thú là một trong những con đường chủ yếu “làm cho học tập trong nhà trường trở thành nguồn vui” Nếu học sinh được độc lập
quan sát, so sánh, khái quát hóa các hiện tượng thì các em hiểu sâu sắc và hứngthú bộc lộ rõ rệt Có hứng thú thì mới có tính tích cực, tính sáng tạo
2 Tư duy và sự phát triển tư duy trong dạy học.
Theo tác giả Nguyễn Xuân Trường (ĐHSP Hà Nội) thì “Tư duy là hành động trí tuệ nhằm thu thập và xử lí thông tin về thế giới quanh ta và thế giới trong ta Chúng ta tư duy để hiểu, làm chủ tự nhiên, xã hội và chính mình”
Dạy học ngày nay suy cho cùng là dạy cách học, cách tư duy cho học sinh,kiến thức lâu ngày có thể quên, điều còn lại trong mỗi người là năng lực tư duy
Như vậy, nhà vật lí nổi tiếng N.I.sue đã nói: “Giáo dục – đó là cái được giữ lại
khi mà tất cả những điều học thuộc đã quên đi” Câu này khẳng định vai trò đặc
Trang 3biệt quan trọng của việc phát triển tư duy cũng như mối quan hệ mật thiết của nóvới giảng dạy.
Vì vậy, vấn đề phát triển tư duy cho học sinh cần phải được coi trọng trongquá trình dạy học Nếu không có khả năng tư duy thì học sinh không thể hiểubiết, không thể cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân
II Thực trạng vấn đề
1 Thuận lợi
- Phòng giáo dục và đào tạo huyện Krông Ana đã thành lập các cụm chuyên
môn, trong đó có cụm tổ chuyên môn Hóa học là nơi để các giáo viên trong tổHóa trao đổi kinh nghiệm, giao lưu, học hỏi lẫn nhau
- Ban giám hiệu trường THCS Lê Văn Tám rất quan tâm đến việc dạy vàhọc của bộ môn, hàng năm đã có sự hỗ trợ về hóa chất, thiết bị dạy học nhằmnâng cao chất lượng dạy học của bộ môn
- Trong quá trình giảng dạy môn Hóa, giáo viên đều cố gắng thay đổiphương pháp giảng dạy của mình theo hướng phát huy tính tích cực của học sinhthông qua các phương pháp như: phương pháp trực quan, phương pháp giảiquyết vấn đề, phương pháp vấn đáp, phương pháp liên hệ thực tế trong bàigiảng…
- Giáo viên đã có sử dụng các đồ dùng và phương tiện dạy học như thínghiệm, mô hình, tranh ảnh… và từng bước ứng dụng công nghệ thông tintrong dạy học hóa học
- Học sinh có chú ý nghe giảng, tập trung quan sát thí nghiệm, giải thíchmột số hiện tượng trong cuộc sống và suy nghĩ trả lời các câu hỏi do giáo viênđặt ra
- Học sinh tích cực thảo luận nhóm và đã đem lại hiệu quả trong quá trìnhlĩnh hội kiến thức
2 Khó khăn
Hiện nay ở Trường THCS Lê Văn Tám, kết quả dạy học môn hóa học tuy
đã có tiến bộ so với những năm học trước, song vẫn kết quả còn chưa cao, một
số học sinh chưa chưa yêu thích môn hóa học, do việc giảng dạy ở trường cònmắc phải một số tồn tại:
- Do học sinh mới bước đầu làm quen với bộ môn Hóa học, cho nên khảnăng vận dụng kiến thức để lí giải các tượng liên quan đến hóa học đối với họcsinh còn khó khăn Học sinh còn lúng túng khi phải giải quyết những câu hỏi vàbài tập tổng hợp, đặc biệt là những vấn đề thực tiễn, do đó các em chưa thực sựyêu thích môn học
- Đối với môn hoá học, phương pháp nhận thức khoa học đặc trưng là thínghiệm hóa học thì chưa được thể hiện trong nhiều giờ lên lớp do thiếu dụng
Trang 4cụ, hóa chất, đồ dùng dạy học , rất ít giờ học mà học sinh được tự làm thínghiệm
- Trong quá trình dạy học, khi cần sử dụng tư liệu dạy học thì chủ yếu giáoviên tìm trên mạng internet, các đồ dùng có sẵn Tuy nhiên, số tư liệu dạy chưaphong phú, chất lượng chưa cao
- Cụ thể, bài kiểm tra định kì sau khi học xong chương oxi – không khí các năm
2016 – 2017 và 2017 – 2018 với kết quả như sau:
Năm học Tổng số học sinh Số học sinh đạtđiểm trên trung
bình
Tỉ lệ học sinh đạtđiểm trên trungbình
Trước khi áp dụng các biện pháp kích thích hứng thú học tập và phát triển
tư duy cho học sinh vào chương trình dạy học, tôi đã phát cho học sinh mẫuphiếu khảo sát niềm yêu thích của học sinh với môn Hóa qua 3 mức độ: thích,bình thường và không thích Kết quả khảo sát 106 em học sinh như sau:
Qua số liệu khảo sát có thể thấy, chưa nhiều em thực sự yêu thích môn học
Do đó, để khắc phục các nhược điểm trên và để nâng cao khả năng vận dụng líthuyết vào thực tiễn, để tạo niềm yêu thích học môn Hóa học thì việc kích thíchhứng thú học tập và phát triển tư duy cho học sinh trong quá trình giảng dạy làrất cần thiết
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở THCS, Luật giáo dục 2005 đã
chỉ rõ “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”
III Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.
Trong hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học hóa học nóiriêng, hứng thú học tập có vai trò đặc biệt quan trọng, nó là động lực thúc đẩyhọc sinh tìm tòi, hiểu biết và vận dụng kiến thức một cách linh động Sau đây tôi
Trang 5xin đề xuất một số biện pháp kích thích hứng thú học tập và phát triển tư duy
của học sinh trong dạy học chương oxi – không khí môn hóa học 8
1 Làm cho học sinh thấy được tầm quan trọng và lợi ích của vấn đề đặt ra.
Trong quá trình dạy học, giáo viên giới thiệu về tầm quan trọng và ứngdụng của các chất, các hợp chất Đồng thời cung cấp các thông tin quan trọng vềtính độc, ảnh hưởng của các chất đến sức khỏe con người và môi trường… Từ
đó khơi dậy trí tò mò, thúc đẩy các em tìm hiểu vấn đề được học
Ví dụ qua một số bài trong chương oxi – không khí giáo viên làm cho học sinh thấy được oxi và không khí sạch quan trọng với đời sống con người như thế nào, từ đó tạo cho các em mong muốn tìm hiểu oxi là chất như thế nào, có ở đâu, điều này giúp học sinh tiếp cận bài học với tâm thế muốn học, muốn tìm hiểu.
Bài 24: Tính chất của oxi
Trong đời sống: Oxi cần thiết cho quá trình hô hấp của sinh vật trên trái đất.Không có oxi chúng ta không thể tồn tại và phát triển Oxi còn tham gia vào cácquá trình khác như: sự cháy, sự gỉ, sự thối rữa xác động thực vật và có vai tròquan trọng trong công nghiệp luyện kim
Bài 27: Điều chế khí oxi – Phản ứng phân hủy
Như chúng ta đã biết, oxi đóng vai trò rất to lớn trong hóa học cũng nhưtrong đời sống và sản xuất của con người Không có oxi chúng ta không thể tồntại và phát triển được Vì vậy việc điều chế được oxi tinh khiết là một việc làmcần thiết và quan trọng mà chúng ta phải làm
Bài 28: Không khí – Sự cháy
Thực nghiệm cho thấy nếu 2 tuần không ăn con người sẽ chết, 5 ngày khônguống nước con người sẽ chết, nhưng nếu chỉ 5 phút không có không khí thì sựsống không thể duy trì Động vật, cây xanh và các tác nhân từ con người tạo nênmột hệ cân bằng sinh thái Khi ở trạng thái cân bằng, bầu khí quyển trong suốt,động vật hô hấp bình thường và khỏe mạnh, cây xanh quang hợp và tái tạo oxi.Nhưng nếu không khí bị ô nhiễm, hàm lượng oxi không đảm bảo mà lượng khíđộc tăng lên làm mất tính cân bằng của hệ sinh thái Vì vậy, việc xác định đượcthành phần không khí cũng như có biện pháp bảo vệ không khí trong lành, tránh
ô nhiễm là vấn đề chung của toàn cầu
Trong cuộc sống thường ngày, sự cháy rất quan trọng Nó giúp con người cóthể nấu ăn, chế tạo dụng cụ, đồ dùng…Tuy nhiên cũng có những sự cháy gâynên hậu quả hết sức nặng nề như cháy nhà, cháy rừng…Do đó, chúng ta phảinắm rõ được điều kiện phát sinh cũng như các biện pháp dập tắt sự cháy đểmang hại lợi ích tốt nhất cho con người
Mỗi khi áp dụng phương pháp “ làm cho học sinh thấy được tầm quan trọng
và lợi ích của vấn đề đặt ra”, tôi nhận thấy các em chăm chú lắng nghe với thái
Trang 6độ mong muốn tìm hiểu kiến thức, một số em bày tỏ sự quan tâm đến vẫn đề đặt
ra bằng các câu hỏi liên quan đến thực tiễn mà các em nhận ra, điều này làm cho tôi và các học sinh khác đều cảm thấy có hứng thú khi tiếp cận bài học
2 Sử dụng các tư liệu lịch sử hóa học
Dựa vào các câu chuyện lịch sử hóa học, giáo viên chuyển tới học sinh cácthông tin về sự tìm ra các nguyên tố, các chất, hay các tấm gương về sự ham mênghiên cứu khoa học của các nhà khoa học Các câu chuyện sẽ làm cho cáckiến thức đến với học sinh một cách hứng thú, dễ hiểu hơn
Ví dụ khi học bài 24: Tính chất của oxi, giáo viên có thể đưa lịch sử tìm ra khí oxi vào bài dạy để giúp học sinh hiểu rõ hơn về nguyên tố oxi, giúp giải đáp một số thắc mắc của các em mà xưa nay không ai nói tới như tìm ra oxi khi nào, ai là người tìm ra
+ Người Pháp thì ủng hộ cho Lavoadiê
+ Người Anh thì ủng hộ cho Pritxli
+ Người Thụy Điển cho rằng chính Sile phát hiện ra Oxi đầu tiên
Cuộc tranh luận về quyền tác giả khám phá ra Oxi đã kéo dài 200 năm mớitạm yên Cuối cùng thì lịch sử ghi nhận đồng tác giả tìm ra Oxi là Pritxli và Sile.Còn tên chính thức của khí này là “Oxygenium” do nhà hóa học Pháp Lavoadiêđặt xuất phát từ 2 chữ Hy Lạp “Oxus”: axit và “genao”: sinh ra
Sau khi được nghe câu chuyện về lịch sử tìm ra oxi phần lớn các em đều rất vui vẻ và hào hứng với bài học vì nhờ có câu chuyện mà mình đã biết được ý nghĩa tên của nguyên tố oxi.
3 Phương pháp trực quan: Sử dụng các hình ảnh, thí nghiệm hóa học.
Các hình ảnh, thí nghiệm hóa học có ý nghĩa to lớn trong dạy học hóa học,
nó giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức một cách toàn diện từ cảmgiác đến hiện tượng tư duy Thí nghiệm giúp học sinh dễ hiểu bài và hiểu sâusắc, làm cho các em sáng tỏ mối liên hệ phát sinh giữa các sự vật, giải thíchđược bản chất của các quá trình xảy ra trong tự nhiên, trong sản xuất và trongđời sống Chúng được coi là chiếc cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn, giữa học
và hành trong quá trình dạy – học môn Hóa học
Trang 7Các thí nghiệm hóa học còn có thể được vận dụng trong các bài tập thínghiệm: nhận biết, điều chế, sẽ giúp học sinh hiểu sâu hơn các khái niệm đãhọc Học sinh có thể học thuộc lòng các định nghĩa, định luật, các tính chất…nhưng nếu không giải bài tập thì các em vẫn chưa thể nắm vững và vận dụngnhững gì đã học và đã thuộc.
Ví dụ trong chương oxi – không khí, giáo viên có thể sử dụng một số hình ảnh, làm thí nghiệm hoặc sử dụng phim thí nghiệm Việc được quan sát hình ảnh một cách sáng tỏ mà không phải tưởng tượng hay việc được theo dõi hiện tượng của các thí nghiệm, được tự tay làm một thí nghiệm nào đó có lẽ là điều mà học sinh thích nhất ở môn Hóa học Nó làm cho các em thấy mình chính là chủ thể của hoạt động học, mình được thầy cô tin tưởng giao nhiệm vụ làm thí nghiệm cho các bạn xem theo tôi đây là nhân tố quyết định việc học sinh có hứng thú với môn học không.
Bài 24: Tính chất của oxi
Hình 1: mô hình công thức phân tử của oxi và oxi dạng lỏng
Thí nghiệm: Sắt cháy trong Oxi
Mục đích: nhằm chứng minh Oxi là phi kim hoạt động mạnh, phản ứng
trực tiếp với tất cả các kim loại trừ Au, Pt
Cách tiến hành: Cuộn dây sắt nhỏ thành hình lò xo, một đầu quấn vào
một mẩu than nhỏ để làm mồi (có thể dùng 1/5 que diêm) Đốt cháy mẩu thanrồi nhúng vào lọ đựng Oxi Dây sắt cháy sáng tạo thành những hạt Fe3O4 màunâu, sau thí nghiệm đầu dây có một cục sắt nhỏ hình cầu
Phản ứng: 3Fe + 2O2 Fe3O4
Những điều chú ý để thí nghiệm thành công:
- Cho vào lọ một ít nước hoặc cát để lọ khỏi bị nứt khi sắt và oxit sắt nóngchảy rớt xuống
- Mẩu than không quá lớn để hạn chế sự tiêu hao nhiều Oxi trong bình
Sau khi hướng dẫn và lưu ý kĩ, giáo viên có thể cử 1 em học sinh lên làm thí nghiệm cho cả lớp quan sát.
Thí nghiệm: Lưu huỳnh cháy trong Oxi
Trang 8Mục đích: nhằm chứng minh Oxi là 1 phi kim hoạt động mạnh, phản ứng
mãnh liệt với lưu huỳnh
Cách tiến hành: Đưa muỗng sắt chứa một lượng nhỏ lưu huỳnh bột vào
ngọn lửa đèn cồn Sau đó đưa lưu huỳnh đang cháy vào lọ có chứa khí oxi
Phản ứng: S + O2 SO2
Hình 2: Hình ảnh đốt lưu huỳnh trong oxi
Những điều chú ý để thí nghiệm thành công:
- Không lấy nhiều hóa chất sẽ nguy hiểm
- Không cho khí SO2 bay ra ngoài
Sau khi hướng dẫn và lưu ý kĩ, giáo viên có thể cử 1 em học sinh lên làm thí nghiệm cho cả lớp quan sát.
Bài 25: Sự oxi hóa – Phản ứng hóa hợp - Ứng dụng của oxi
Khi học phần ứng dụng của oxi, thay vì mỗi học sinh tự nghiên cứu hình ảnh trong sách giáo khoa, giáo viên có thể chiếu hình ảnh trên bảng để HS tập trung quan sát và thảo luận, điều này sẽ giúp tiết học trở nên sinh động, sôi nổi hơn.
Trang 9Hình 3: Ứng dụng của oxi
Hình 4: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ ứng dụng của oxi trong các ngành ở Việt Nam
Bài 26: Oxit
Trang 10CuO Fe2O3 CaO
Hình 5: Hình ảnh một số oxit dạng bột
Bài 27: Điều chế khí oxi – Phản ứng phân hủy
Trong phần điều chế khí oxi, giáo viên giới thiệu về nguồn tạo ra oxi trong
tự nhiên.
Hình 7: Nguồn tạo ra khí oxi trong tự nhiên
Trước khi làm thí nghiệm điều chế oxi từ KMnO4 trong phòng thí nghiệm,giáo viên có thể chiếu cho học sinh xem hình ảnh sau, phân tích cách bố trídụng cụ thí nghiệm rồi mới tiến hành làm thí nghiệm cho học sinh quan sát
Trang 11Hình 6: Sơ đồ điều chế khí oxi trong phòng thí nghiệm và thu khí bằng cách đẩy
nước.
Tiến hành thí nghiệm: Điều chế oxi từ KMnO 4
Mục đích: nhằm thu được khí oxi bằng cách đun nóng những hợp chất giàu
oxi và dễ bị phân hủy ở nhiệt độ cao
Cách tiến hành: Cho một lượng nhỏ kalipenmanganat( KMnO4) vào ốngnghiệm, dùng kẹp gỗ cặp ống nghiệm rồi đun nóng trên ngon lửa đèn cồn Đưaque đóm cháy dở còn tàn đỏ vào miệng ống nghiệm, que đóm sẽ bùng cháy
Phản ứng: 2 KMnO4 K2MnO4 + MnO2 + O2
Bài 28: Không khí – Sự cháy Tranh ảnh
Hình 7: Thành phần không khí Hình 8: Hoạt động gây ô nhiễm môi trường