Vì vậy, khi chúng ta nói nhiều đến phương pháp hệ thống trong việc tiếp cận, phân tích một tácphẩm văn học dân gian và việc phân tích tác phẩm văn học dân gian xuất phát từđặc trưng thể
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KHƠI DẬY TÌNH YÊU CA DAO- DÂN CA CHO HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH
CỰC Ở TRƯỜNG THCS TÀO XUYÊN
Người thực hiện: Trịnh Thị Ngoan
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH & THCS Tào Xuyên SKKN thuộc môn: Ngữ văn
Trang 22.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3 2.2.1 Vài nét về tình hình chung và tình hình giáo dục của nhà trường 3 2.2.2 Thực trạng của chương trình Ngữ Văn THCS 3 2.2.3 Thực trạng của phương pháp dạy học tích cực khơi dậy tình yêu
ca dao- dân ca cho học sinh trường THCS Tào Xuyên
3
2.3 Các giải pháp thực hiện đã sử dụng để giải quyết vấn đề 4 2.3.1 Giải pháp 1: Tìm hiểu đặc điểm của ca dao, dân ca 4 2.3.2 Giải pháp2:Sử dụng phương pháp dạy học tích cực và vận dụng
kiến thức liên môn, tích hợp trong giảng dạy ca dao dân ca
9
2.3.3 Giải pháp 3: Rèn luyện kỹ năng cảm thụ ca dao – dân ca 15
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 36 SGK Sách giáo khoa
Trang 41 Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài.
Trong chương trình ngữ văn 7, tiếp nối phần văn học dân gian ở lớp 6, phần
ca dao, tực ngữ, chèo được đưa vào học Đây là một điều kiện thuận lợi để họcsinh tiếp nhận dòng văn học truyền miệng, giúp các em có tâm hồn trong sánghơn, có tình yêu với nền văn học dân tộc Mỗi lời ca đều gây đựơc những rungđộng sâu xa trong lòng người đọc Chính điều đó góp phần bồi dưỡng tâm hồncon người Qua đó học sinh được tiếp xúc với những giá trị tinh thần phong phú
và những đặc sắc về văn hóa, cảnh vật, cuộc sống, con người Việt Nam Từ đógiáo dục cho học sinh biết trân trọng, yêu quý thành tựu của văn học nước nhà,có ý thức giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt Hơn nữa thông quanhững bài học, mỗi học sinh có ý thức và biết ứng xử, giao tiếp trong gia đình,trong trường học và ngoài xã hội một cách lễ phép có văn hóa Vì vậy, khi chúng
ta nói nhiều đến phương pháp hệ thống trong việc tiếp cận, phân tích một tácphẩm văn học dân gian và việc phân tích tác phẩm văn học dân gian xuất phát từđặc trưng thể loại tuy không lạ lẫm gì đối với trường Trung học cơ sở và đến nayvẫn chưa hề cũ vì nó là một trong những yêu cầu cần thiết và quan trọng Nókhẳng định được cách đi đúng hướng trong việc cải tiến, đổi mới phương phápnội dung dạy - học Ngữ văn ở THCS theo chương trình SGK mới hiện nay Thực tế dạy học ở trường THCS bản thân tôi thấy chất lượng dạy học cadao – dân ca trong chương trình ngữ văn lớp 7còn thấp GV và HS còn nhiềulúng túng, bỡ ngỡ nhất là về phương pháp dạy - học Hơn nữa, khác với tácphẩm văn học viết, tác phẩm văn học dân gian không chỉ là một hiện tượng vănhọc mà rộng hơn nó còn là một hiện tượng văn hóa Nghĩa là mỗi tác phẩm vănhọc dân gian tổng hòa trong nội dung và hình thức của nó cả phương diện nhậnthức thẩm mĩ của nhân dân về thực tại cả các phương diện khác bao trùm mọilĩnh vực của đời sống vật chất và tinh thần của xã hội như lịch sử, tín ngưỡng,tôn giáo, tâm lí, đạo đức, địa lí…Qua sáu năm được Ban Giám hiệu nhà trườngphân công giảng dạy Ngữ Văn khối 7, bản thân tôi đã trăn trở và suy nghĩ làmsao để học sinh lĩnh hội được và ý thức ham học, ham tìm hiểu, sưu tầm ca dao -dân ca, biết gìn giữ nét đẹp văn hóa tinh thần của dân tộc? Vì những lí do trên,tôi đã chọn đề tài “Khơi dậy tình yêu ca dao – dân ca cho học sinh bằng phương pháp dạy học tích cực ở trường THCS Tào Xuyên” với mục đích là
cùng tìm hiểu về đặc trưng của ca dao - dân ca để từ đó định hướng phươngpháp giảng dạy ca dao - dân ca nhằm cá thể hoá việc học, đưa học sinh trở thànhnhân tố cá nhân tích cực, chủ động, tự giác tham gia vào việc tìm hiểu nhữngvăn bản ca dao - dân ca, khám phá chân lí và giá trị nghệ thuật của tác phẩm, cóhứng thú học, sưu tầm và gìn giữ ca dao - dân ca của dân tộc
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Như chúng ta biết Ca dao – dân ca nói chung là dễ hiểu, nhưng chính vì
dễ hiểu nên càng khó dạy Nhiều bài ca dao - tục ngữ đọc lên là hiểu ngay Giáoviên không biết phải giảng cái gì trong đó, học sinh không biết mình phải họccái gì? Nhiều giáo viên đành phải diễn văn xuôi bài ca dao và giải thích nghĩa
Trang 5chương dân gian này Do vậy, nội dung, tư tưởng, tình cảm của tác phẩm cũngđến với học sinh nửa vời, hời hợt.
Có thể nói, ca dao - dân ca chiếm vị trí khá quan trọng trong chương trìnhsách giáo khoa ngữ văn lớp 7 Số bài (câu) học và đọc thêm khá nhiều, tạm đủcho học sinh có thể hình dung được thể loại này Bên cạnh đó, chủ đề của ca dao
- dân ca khá phong phú, có khả năng giáo dục tư tưởng tình cảm và khiếu thẩm
mĩ cho học sinh Đồng thời nó có khả năng tích hợp với hai phân môn: TiếngViệt và Tập làm văn
Qua các giờ học, học sinh nắm được một số nét nghệ thuật đặc trưng tiêubiểu của ca dao (cách lặp lại những hình ảnh truyền thống, các mô típ mở đầu,cách dùng hình ảnh so sánh, ẩn dụ… lấy từ cuộc sống đời thường, biểu tượngcủa ngôn ngữ dân gian….Từ đấy, các em có thể vận dụng ca dao – dân ca tronghọc tập ngữ văn, cũng như sử dụng nó trong lời ăn, tiếng nói hàng ngày
Chính vì vậy mà tôi đã chọn đề tài này với mục đích là cùng tìm hiểu vềđặc trưng của ca dao – dân ca để từ đó định hướng về phương pháp giảng dạy cadao – dân ca nhằm cá thể hóa việc học, đưa học sinh trở thành nhân tố cá nhântích cực, chủ động, tự giác tham gia vào việc tìn hiểu những văn bản ca dao –dân ca để khám phá chân lí và giá trị nghệ thuật của tác phẩm nhằm khơi dậytình yêu ca dao – dân ca cho các em Đồng thời, giúp các em có được nhữngkiến thức Ngữ văn cơ bản và hoàn thiện nhất Xuất phát từ lí do trên, bản thântôi thực sự trăn trở và đã quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài: “Khơi dậy tình yêu ca dao – dân ca cho học sinh bằng phương pháp dạy học tích cực ở trường THCS Tào Xuyên”
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi sáng kiến kinh nghiệm này, tôi sẽ vận dụng vào phương
pháp dạy học tích cực khơi dậy tình yêu ca dao – dân ca cho học sinh lớp 7
trường THCS Tào Xuyên Thành Phố Thanh Hóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Qua thực tế giảng dạy, tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu đặc thù của bộ mônNgữ văn đúc rút được một số kinh nghiệm và những tác dụng của việc sử dụng
phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Ngữ văn để tạo nên những
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Phân tích và xử lý số liệu kết quảbài kiểm tra trước và sau khi áp dụng đề tài
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
Trang 62.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Như chúng ta biết SGK Ngữ văn mới hiện nay được biên soạn theochương trình tích hợp, lấy các kiểu văn bản làm nơi gắn bó ba phân môn (Văn-Tiếng Việt- Tập làm văn), vì thế các văn bản được lựa chọn phải vừa tiêu biểucho các thể loại ở các thời kì lịch sử văn học, vừa phải đáp ứng tốt cho việc dạycác kiểu văn bản trong Tiếng Việt và Tập làm văn Vì vậy SGK Ngữ văn 7 hiệnnay có cấu trúc theo kiểu văn bản, lấy các kiểu văn bản làm trục đồng quy Ởchương trình Ngữ văn THCS các em được học 6 kiểu văn bản: Tự sự, miêu tả,biểu cảm, lập luận, thuyết minh và điều hành Sáu kiểu văn bản trên được phânhọc thành hai vòng (vòng 1: lớp 6-7; vòng 2: lớp 8- 9) theo nguyên tắc đồng tâm
có nâng cao ở lớp 7 các em học ba kiểu văn bản: biểu cảm, lập luận và điềuhành Trong đó học kì I chỉ tập trung một kiểu văn bản là biểu cảm Chính vì vậy
mà SGK Ngữ văn 7 đã đưa những tác phẩm trữ tình dân gian (cụ thể là ca dao dân ca) nhằm minh hoạ cụ thể, sinh động cho kiểu văn bản biểu cảm giúp các
-em dễ dàng tiếp nhận (đọc, hiểu, cảm thụ, bình giá về ca dao - dân ca một thểloại trữ tình dân gian)
2 2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1 Vài nét về tình hình chung và tình hình giáo dục của nhà trường.
* Về phía giáo viên:
- Nhìn chung đa số giáo viên của trường THCS Tào Xuyên có chuyên
môn cao, nhiệt tình trong công tác giảng dạy, ham học hỏi, chăm lo quan tâmđến học sinh Đặc biệt được sự chỉ đạo sát sao, tận tình của Ban Giám hiệu nhàtrường
* Về phía học sinh:
- Học sinh của trường phần lớn là con, em gia đình muốn định hướng chohọc các môn tự nhiên nên không đầu tư cho con, em mình học môn xã hội nóichung, môn Ngữ Văn nói riêng
- Ngoài ra còn do ý thức học tập của học sinh: Một số học sinh vì lườihọc, chán học nên không chuẩn bị tốt tâm thế cho giờ học văn Có nhiều em lườihoặc không bao giờ đọc sách, kể cả văn bản trong sách giáo khoa Điều này cóảnh hưởng không ít đến chất lượng học tập bộ môn
2.2.2 Thực trạng của chương trình Ngữ văn 7 THCS.
Nội dung chương trình:
Trong chương trình Ngữ văn 7 có 34 văn bản, trong đó ca dao - dân cachiếm 4 văn bản/34 văn bản Trong đó có các chủ đề sau:
1 Những câu hát về tình cảm gia đình
2 Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người
3 Những câu hát than thân
4 Những câu hát châm biếm
2.2.3 Thực trạng của phương pháp dạy học tích cực khơi dậy tình yêu
ca dao- dân ca cho học sinh trường THCS Tào Xuyên
* Thuận lợi :
Trang 7- Việc đổi mới sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn theo hướng nghiên cứumục tiêu bài dạy đã được nhà trường triển khai thực hiện được mấy năm nay; làđiều kiện để giáo viên tích cực cải tiến phương pháp dạy học trong từng kiểu bàiđặc trưng của bộ môn.
- Ban Giám hiệu nhà trường và tổ chuyên môn luôn tạo điều kiện thuậnlợi về tài liệu và phương tiện dạy học, đầu tư xây dựng các tiết dạy “mẫu” chuẩn
về phương pháp để giáo viên trong tổ học tập Đồng thời khuyến khích giáo viênxây dựng các chuyên đề “Tích hợp” để nâng cao chất lượng dạy học, tạo hứngthú cho học sinh
*Khó khăn.
+ Về phía học sinh:
- Học sinh của trường phần lớn là do các gia đình đều muốn định hướngcho các con học các môn tự nhiên nên không đầu tư cho con học các môn xã hộinói chung, môn Ngữ Văn nói riêng
- Với học sinh lớp 7, phần lớn các em chưa thực sự có kỹ năng tự học –
tự khám phá tác phẩm văn chương nên sự yêu thích ca dao - dân ca còn hạn chế
- Ca dao đã đi vào tiềm thức của người dân Việt Nam, song học sinh khótiếp cận một cách bài bản về ca dao
- Các em còn nhầm, chưa phân biệt được ca dao- dân ca, nhầm lẫn giữacác thể văn học dân gian cứ thấy thể thơ lục bát là xếp vào ca dao (cả tục ngữ)
- Chưa có kĩ năng phân tích, cảm thụ ca dao, một loại thơ dân gian vớinhững đặc trưng riêng về thi pháp
+Về phía giáo viên:
Chưa nghiên cứu kĩ đặc trưng thể loại của ca dao- dân ca Phương phápdạy ca dao - dân ca còn chung chung cũng giống như phương pháp giảng dạythơ trữ tình
Chính vì những lí do trên mà học sinh không thích học và học ca dao dân ca chưa có hiệu quả
-Cụ thể qua việc khảo sát hứng thú và kết quả học tập của học sinh trước khi áp dụng sáng kiến:
Học sinh hiểubài
Học sinh hiểu bài
và có hứng thú sưutầm ca dao-dân caSố
2.3 Các giải pháp thực hiện đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1 Giải pháp 1: Tìm hiểu đặc điểm của ca dao, dân ca
Việc giúp học sinh làm rõ được đặc điểm của thể loại văn học có ý nghĩarất quan trọng Nó góp phần tạo cho các em có một cái nhìn khái quát, biết nhậndiện, gọi tên và tiếp cận văn bản một cách chính xác, đúng trọng tâm
a Khái niệm ca dao:
Trang 8Theo SGK Ngữ văn 7 tập 1 trang 35 đã nêu khái niệm về ca dao như sau:
- Ca dao- dân ca là tên gọi chung của các thể loại trữ tình dân gian kết hợp lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người.
- SGK cũng phân biệt hai khái niệm ca dao và dân ca
+ Dân ca là những sáng tác dân gian kết hợp lời và nhạc.
+ Ca dao là lời thơ của dân ca Ca dao gồm những bài thơ dân gian mang phong cách nghệ thuật chung với lời thơ dân ca.
Do đó ca dao - dân ca có những đặc điểm tương đồng và khác biệt vớinhau nên việc phân loại ca dao - dân ca cũng có những điểm chung, riêng tươngứng
b Phân loại ca dao- dân ca
- Dân ca: đồng dao, dân ca lao động, dân ca nghi lễ, hát ru, dân ca trữ
tình, dân ca trong kịch hát dân gian
- Ca dao: Ca dao trẻ em, ca dao lao động, ca dao nghi lễ phong tục, ca
dao ru con, ca dao trữ tình, ca dao trào phúng
c Đặc điểm nghệ thuật:
* Ngôn ngữ trong ca dao
Nói đến thi pháp ca dao, trước hết phải nói đến phương tiện chủ yếu của cadao, tức là ngôn ngữ Bởi vì ca dao là phần lời của dân ca, cái yếu tố nhạc điệu,động tác có vai trò rất quan trọng trong dân ca, còn ở phần lời thơ thì vai trò chủyếu thuộc về ngôn ngữ, các yếu tố khác đều trở thành thứ yếu Chính vì vậy mà
ca dao có khả năng sống độc lập ngoài ca hát ( tức là ngoài sự diễn xướng tổnghợp của dân ca) và trở thành nguồn thơ trữ tình dân gian truyền thống lâu đời vàphong phú nhất của dân tộc
- Ngôn ngữ trong ca dao đậm đà màu sắc địa phương, giản dị, chân thực,hồn nhiên, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân Ví dụ như bài ca
dao: Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát
Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông".
Thân em như chẽn lúa đòng đòng Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai
( Trong đó ni = này; tê = kia: tiếng địa phương miền trung)
Có nhiều bài ca dao được lan truyền nhanh chóng trở thành tiếng nói riêngcủa nhân nhiều địa phương khác nhau nhờ sự thay đổi địa danh là chủ yếu
Ví dụ: Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ
Ai vô xứ Huế thì vô …
* Thể thơ trong ca dao
Ca dao là phần lời của dân ca, do đó các thể thơ trong ca dao cũng sinh ra
từ dân ca Các thể thơ trong ca dao cũng được dùng trong các loại văn vần dângian khác (như tục ngữ, câu đố, vè …) Có thể chia các thể thơ trong ca daothành bốn loại chính là:
- Các thể vãn
- Thể lục bát( Thể chính: Đặc sắc riêng của thơ ca Việt Nam).
- Thể song thất và song thất lục bát
Trang 9- Thể hỗn hợp (hợp thể)
Trong SGK Ngữ văn 7 tập I các bài ca dao được đưa vào chủ yếu là thể lụcbát (mỗi câu gồm hai dòng hay hai vế, dòng trên sáu âm tiết, dòng dưới tám âm
tiết nên được gọi là "thượng lục hạ bát") Đây cũng là thể thơ sở trường nhất của
ca dao Thể thơ này được phân thành hai loại là lục bát chính thể (hay chínhthức) và lục bát biến thể (hay biến thức) Ở lục bát chính thể, số âm tiết khôngthay đổi (6+8), vần gieo ở tiếng thứ sáu (thanh bằng), nhịp thơ phổ biến là nhịpchẵn (2/2/2 …), cũng có thể nhịp thay đổi (3/3 và 4/4) Ở lục bát biến thể, sốtiếng (âm tiết) trong mỗi vế có thể tăng, giảm (thường dài hơn bình thường)
Ví dụ: Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mong bát ngát
Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông (12 âm tiết).
* Kết cấu của ca dao
*Thể cách của ca dao
"Phú", "tỉ", "hứng" là ba thể cách của ca dao (cách phô diễn ý tình).
- "Phú" ở đây có nghĩa là phô bày, diễn tả một cách trực tiếp, không qua sự so
sánh
Ví dụ: Cậu cai nón dấu lông gà,
Ngón tay đeo nhẫn gọi là cậu cai.
Ba năm được một chuyến sai,
áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê.
- "Tỉ" nghĩa là so sánh (bao gồm cả so sánh trực tiếp - tỉ dụ và so sánh gián
tiếp - ẩn dụ)
Ví dụ: Thân em như trái bần trôi,
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu?
- "Hứng" là cảm hứng Người xưa có câu "Đối cảnh sinh tình" Những bài ca dao trước nói đến "cảnh" (bao gồm cả cảnh vật, sự việc) sau mới bộc lộ "tình" (tình cảm, ý nghĩa, tâm sự) đều được coi là làm theo thể "hứng".
Ví dụ: Ngó lên nuộc lạt mái nhà,
Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu.
* Phương thức thể hiện
Những bài ca dao trong SGK Ngữ văn 7 chủ yếu có ba phương thức thể hiệnđơn là:
- Phương thức đối đáp (đối thoại), chủ yếu là bộ phận lời ca được sáng tác và
sử dụng trong hát đối đáp nam nữ, bao gồm cả đối thoại hai vế và một vế
Ví dụ: Đối thoại hai vế: - Ở đâu năm cửa nàng ơi
Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng?
Sông nào bên đục, bên trong?
- Thành Hà Nội năm cửa nàng ơi Sông lục đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng.
Nước sông Thương bên đục bên trong,"…
- Phương thức trần thuật (hay kể chuyện trữ tình, khác với trần thuật trong cácloại tự sự)
Ví dụ: Con cò chết rũ trên cây,
Cò con mở lịch xem ngày làm ma.
Trang 10Cà cuống uống rượu la đà, Chim ri ríu rít bò ra lấy phần…"
- Phương thức miêu tả (miêu tả theo cảm hứng trữ tình, khác với miêu tảkhách quan trong các thể loại tự sự)
Ví dụ: Đường vô xứ Huế quanh quanh,
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ.
Ai vô xứ Huế thì vô …
- Ngoài ra còn có cả ba phương thức kép là (trần thuật kết hợp với đối thọai;trần thuật kết hợp với miêu tả; kết hợp cả ba phương thức
- Do nhu cầu truyên miệng và nhu cầu ứng tác, nhân dân thường sử dụngnhững khuân, dạng có sẵn, tạo nên những đơn vị tác phẩm hoặc dị bản hao haonhư nhau
Ví dụ: "Thân em như" … ("hạt mưa sa", "hạt mưa rào", "tấm lụa đào", "trái bần trôi" …)
* Thời gian và không gian nghệ thuật trong ca dao:
lặp lại
- Ngoài ra thời gian trong ca dao còn sử dụng hàng loạt những trạng ngữ (hay
cụm từ) chỉ thời gian như : "bây giờ"; "tối qua"; "đêm qua" … thì ai cũng hiểu
là người nói đang ở thời điểm hiện tại để nhớ lại và nhắc lại chuyện vừa xảy rachưa lâu Nhìn chung thời gian trong ca dao trữ tình là thời gian nghệ thuậtmang tính tượng trưng, phiếm chỉ (hay phiếm định) Vì thế nó phù hợp với nhiềungười, ở nhiều địa điểm và thời điểm khác nhau
Ví dụ: Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.
Cũng giống như thời gian, khi không gian được nói đến như một yếu tốgóp phần tạo nên hoàn cảnh, trường hợp để tác giả bộc lộ cảm nghĩ (trực tiếphoặc gián tiếp) thì đó là không gian mang tính chất tượng trưng do tác giả tưởngtượng, hư cấu hoặc tái tạo theo cảm xúc thẩm mĩ của mình Ví dụ những hìnhảnh về không gian, địa điểm mang tính chất tượng trưng, phiếm chỉ, thường
xuyên xuất hiện trong ca dao trữ tình ( "cánh đồng", "thác", "ghềnh", "bờ ao",
Trang 11"mái nhà", "ngõ sau" …) Ngay cả những địa điểm có thực khi vào ca dao trữ
tình cũng mang tính chất tượng trưng
* Thủ pháp nghệ thuật chủ yếu.
Những bài ca dao được đưa vào SGK Ngữ văn 7 có nhiều thủ pháp nghệthuật khác nhau (mang nét đặc trưng của ca dao truyền thống) Ở đây tôi chỉ đềcập đến những thủ pháp chủ yếu
So sánh là thủ pháp nghệ thuật được dùng thường xuyên, phổ biến nhất,bao gồm so sánh trực tiếp (tỉ dụ), so sánh gián tiếp (ẩn dụ) Tỉ dụ là so sánh trựctiếp, thường có những từ chỉ quan hệ so sánh: như, như là, như thể …đặt giữahai vế (đối tượng và phương tiện so sánh)
Ví dụ: - Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
- Còn ở ẩn dụ (so sánh ngầm) thì không những không có quan hệ từ so sánh
mà đối tượng so sánh cũng được ẩn đi, chỉ còn một vế là phương tiện so sánh (ởđây đối tượng và phương tiện so sánh hoà nhập làm một) Do vậy mà hình thức
Đặc biệt ẩn dụ gắn rất chặt với nghệ thuật nhân hoá, dùng thế giới loài vật
để nói thế giới loài người
Ví dụ: Bài ca dao dưới đây mỗi con vật tượng trưng cho một loại người, hạng người trong xã hội xưa:
Con cò chết rũ trên cây,
Cò con mở lịch xem ngày làm ma.
Cà cuống uống rượu la đà,
Chim ri ríu rít bò ra lấy phần…
- Biện pháp nghệ thuật đối xứng (đối ý, đối từ):
Ví dụ: Số cô chẳng giầu thì nghèo
Ngày ba mươi tết thịt treo trong nhà.
Số cô có mẹ có cha
Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông…
- Nghệ thuật trùng điệp (bao gồm cả điệp ý, điệp từ).
Ví dụ: Cái cò lặn lội bờ ao
Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng.
Chú tôi hay tửu hay tăm
Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa.
Ngày thì ước những ngày mưa
Đêm thì ước những đêm thừa trống canh.
- Nghệ thuật phóng đại được sử dụng hầu hết ở những bài ca dao dùng đểchâm biếm:
Trang 12Ví dụ: Cậu cai nón dấu lông gà,
Ngón tay đeo nhẫn gọi là cậu cai.
Ba năm được một chuyến sai,
áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê.
Ngoài ra còn có một số biện pháp khác nữa
d Phương thức diễn xướng
Phương thức diễn xướng gắn liền với các hình thức nghệ thuật của dân ca (hát
ru, hát, hò đối đáp …)
2.3.2 Giải pháp 2: Sử dụng phương pháp dạy học tích cực và vận dụng kiến thức liên môn, tích hợp trong giảng dạy ca dao dân ca.
Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đã được
Bộ giáo dục quan tâm Để đổi mới phương pháp dạy và học đòi hỏi: “ Ngườidạy phải dạy thật, người học phải học thật” Đặc biệt, trong hai năm học qua tổchuyên môn nhà trường đã và đang thực hiện việc đổi sinh hoạt tổ- nhómchuyên môn theo hướng khai thác mục tiêu bài học Với tổ Văn – Sử nhà trường,cách đi này đã được hưởng ứng nhiệt tình, giáo viên tích cực tham gia, nhữngtiết dạy thực nghiệm ứng dụng kỹ thuật, phương pháp day học mới như: Dạyhọc theo dự án, dạy học hợp tác…và các kỹ thuật sử dụng “khăn phủ bàn”,
“nhóm mảnh ghép”…thực sự có tác dụng đối với việc gây hứng thú học tập chohọc sinh, và là những “ tiết dạy mẫu” cho từng kiểu bài đặc trưng bộ môn đểtriển khai trong toàn trường Việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực và
vận dụng kiến liên môn, tích hợp trong giảng dạy đã và đang được tổ Văn- sử áp
dụng tất cả các giờ dạy học và gặt hái được nhiều thành công nhất định
Chẳng hạn, khi dạy chủ đề 1: Tiết 9, bài 3: Văn bản: Những câu hát về tình cảm gia đình, tôi đã thiết kế dạy học theo chuyên đề tích hợp với chủ đề
“Uống nước nhớ nguồn” vận dụng kiến thức liên môn, trong đó xác định và
thực hiện như sau:
Ca dao- dân ca là tiếng nói tình cảm, dạy ca dao- dân ca tác động đến tâmhồn học sinh tình yêu gia đình, tình yêu quê hương đất nước, ý thức sâu sắc vềbổn phận, trách nhiệm của công dân Vì thế khi dạy mỗi một bài ca dao, chủ đề
ca dao, dân ca người giáo viên cần vận dụng tích hợp, kiến thức liên môn giúpcác em cảm hiểu sâu sắc hơn loại tác phẩm trữ tình dân gian này Từ đó hìnhthành cho các em kĩ năng sống, tinh thần nhân văn cao đẹp; ý thức sâu sắc hơn
về mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng
+ Tích hợp với môn Âm nhạc: Sau khi giáo viên giới thiệu bài mới xong để tạo
không khí phấn khởi, hăng say học tập cho học sinh thì giáo viên có thể hỏi
Giáo viên hỏi: Em nào có thể đọc cho cả lớp nghe một bài ca dao mà em đã học
ở tiểu học?
Học sinh trả lời: - Đọc bài ca dao.
- Sau đó giáo viên có thể tiến hành hoạt động liên môn khi sử dụng cáclàn điệu dân ca để gây tình huống
Giáo viên hỏi: Trong môn Âm nhạc lớp 6, 7 các em đã được học một số làn
điệu dân ca Vậy em hãy nêu rõ tên làn điệu dân ca đó và hát cho các bạn nghe
Trang 13Học sinh trả lời: - Đó là bài “ Đi cấy” dân ca Thanh Hóa , lớp 6 và bài “ Lí cây
đa” dân ca quan họ Bắc Ninh, lớp 7 ( HS hát dân ca)
+ Tích hợp kiến thức môn: Hoạt động ngoài giờ lên lớp ( Tiết 7, 8: Uống nước nhớ nguồn) Sau khi phân tích xong bài ca dao thứ nhất
Giáo viên hỏi: Qua bài ca dao trên, em có suy nghĩ gì về đạo làm con đối với
cha mẹ?
- Biết ơn những những người có công sinh thành, nuôi dưỡng chúng tanên người
- Báo đáp và hiếu kính công ơn me, cha lúc về già cũng như lúc ốm đau
GV nhấn mạnh: Việc thể hiện tình cảm đó chính là hành động biểu hiện
truyền thống tốt đẹp nào của dân tộc? (Uống nước nhớ nguồn) Có những bài ca dao nào cũng nhắc nhở về điều nay? (Con người có cố có ông – Như cây có cội, như sông có nguồn)
+ Tích hợp kiến thức môn: Giáo dục công dân.( bài 5: Yêu thương con người) Sau khi phân tích xong bài ca dao thứ 4 Giáo viên hỏi:
Giáo viên hỏi: Học xong bài ca dao thứ 4, em có suy nghĩ gì về tình cảm anh
em trong gia đình?
Học sinh trả lời: Anh em trong gia đình cần phải biết thương yêu, quan tâm,
giúp đỡ lẫn nhau, đặc biệt là lúc gặp khó khăn, hoạn nạn
* Sau đây là giáo án minh họa cho nội dung tích hợp, liên môn khi dạy ca dao- dân ca:
TUẦN 3 -BÀI 3 : TIẾT 9 : CA DAO - DÂN CA
NHỮNG CÂU HÁT VỀ TÌNH CẢM GIA ĐÌNH
I MỤC TIÊU :
1 Kiến thức :
- Kiến thức môn Ngữ văn :
+ Nắm được khái niệm ca dao - dân ca với những đặc điểm nghệ thuật đặc trưngcủa thể loại trữ tình này
+ Nắm vững nội dung các bài ca dao dân ca về về chủ đề tình cảm gia đình.+ Nắm vững nghệ thuật thể hiện đặc sắc trong từng bài ca dao dân ca
- Kiến thức môn Âm nhạc: Gây hứng thú cho các em khi học, hiểu, phân biệt
được ca dao- dân ca
- Kiến thức môn GDCD: Giáo dục ý thức và bồi dưỡng tâm hồn yêu ca
dao-dân ca
- Kiến thức môn Hoạt động ngoài giờ lên lớp: Giúp các em tìm hiểu một môn
nghệ thuật trong văn học dân gian