Phần mở đầu 1.1 Lí do chọn đề tài Là giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn hóa học rất nhiều năm ở bậc THCS tôi thấy rằng: Môn Hóa học là môn học đòi hỏi học sinh ngoài sự chăm chỉ học bà
Trang 1MỤC LỤC
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN 4 2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5 2.4 Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản
Trang 21 Phần mở đầu 1.1 Lí do chọn đề tài
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn hóa học rất nhiều năm ở bậc THCS tôi thấy rằng: Môn Hóa học là môn học đòi hỏi học sinh ngoài sự chăm chỉ học bài và làm bài tập ở nhà thì cần phải có sự hướng dẫn của giáo viên về các phương pháp, kinh nghiệm giải các bài tập hóa, đặc biệt phần lớn các bài tập giải tính toán hóa học thường liên quan đến viết và cân bằng phương trình hóa học Trong bài toán hóa học nếu viết phương trình hóa học đúng nhưng cân bằng sai dẫn đến lập tỉ lệ số mol các chất và tính toán các đại lượng có liên quan như khối lượng, thể tích,… sẽ không đúng
Để làm tốt các bài tập hoá học, ngoài việc biết cân bằng phương trình hóa học đúng thì các em còn phải biết cân bằng nhanh các phương trình hoá học rồi
với làm các Bước tiếp theo Có nhiều phương pháp để cân bằng một phương
trình hoá học trong đó có các phương pháp “ thăng bằng electron và ion-eclectron” thăng bằng nhanh và chính xác Tuy vậy với học sinh lớp 8 chưa thể cân bằng được theo các phương pháp này, sách giáo khoa lớp 8 mới chỉ dừng
lại ở mức độ nêu ra 3 bước lập một phương trình hoá học là:
Bước 1: Viết sơ đồ phản ứng.
Bước 2: Cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố: Tìm hệ số thích hợp
đặt trước các công thức hóa học
Bước 3: Viết phương trình hoá học.
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy học sinh rất lúng túng ở Bước 2 khi đi tìm
hệ số thích hợp đặt trước các công thức do đó việc cân bằng hoá học là một nội dung khó đối với học sinh
Để góp phần làm đơn giản hoá các khó khăn đó, tôi đã chọn đề tài : “Các
phương pháp giúp học sinh cân bằng phản ứng hóa học nhanh và chính xác trong bộ môn Hóa học lớp 8 ở trường THCS Nguyễn Văn Trỗi”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về cân bằng nhanh và chính xác các phương trình hoá học nhằm đưa ra phương pháp giảng dạy và học tập để nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục, quá trình dạy và học ở trường trung học cơ sở
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng
Nghiên cứu về cân bằng nhanh và chính xác các phương trình hoá học cho học sinh ở trường trung học cơ sở
b Phạm vi nghiên cứu
Trang 3- Học sinh khối 8 trường trung học cơ sở Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Thanh Hóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát : Sử dụng phương pháp này để nghiên cứu, quan
sát các hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh
- Phương pháp đối thoại : Trực tiếp trò chuyện với giáo viên và học sinh
để bổ sung kinh nghiệm cho phương pháp điều tra
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu : Để nghiên cứu tài liệu, sách báo có
liên quan đến đề tài
- Phương pháp điều tra: Đây là phương pháp chủ đạo nhằm thu thập
những số liệu, hiện tượng từ đó phát hiện ra vấn đề cần giải quyết, thực hiện phương pháp này dưới dạng câu hỏi đóng và câu hỏi mở trong phiếu điều tra để lấy ý kiến của giáo viên và học sinh về cân bằng nhanh và chính xác các phương trình hoá học ở trường trung học cơ sở trong quá trình dạy học
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động của học sinh: Thông qua
các bài kiểm tra để thấy được phương pháp cân bằng nhanh và chính xác các phương trình hoá học của học sinh ở trường trung học cơ cở có hiệu quả hay không
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp này để xử lí các
số liệu đi đến kết luận phù hợp với giả thuyết khoa học
2 Phần nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Có thể nói phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của giáo viên trong việc chỉ đạo, tổ chức hoạt động của học sinh nhằm đạt mục tiêu dạy học
Trong Xã hội hiện đại ngày nay đang biến đổi nhanh với sự phát triển của thông tin, khoa học kĩ thuật, công nghệ tuy vậy không thể nhồi nhét vào đầu trẻ khối lượng kiến thức ngay lập tức mà phải quan tâm dạy cho trẻ phương pháp học ngay từ bậc tiểu học, càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng và nâng cao dần khối lượng kiến thức
Trong phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng , thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người , kết quả học tập
sẽ được nhân lên gấp bội
Vì vậy ngày nay, người ta nhấn mạnh mọi hoạt động học trong quá trình dạy – học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự
Trang 4học ở nhà sau bài học trên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn trực tiếp của thầy
Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cường
độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập
Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò Trong dạy học việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định hiện trạng học và điều chỉnh hoạt động dạy của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng học và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trước đây thường quan niệm giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan đến điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau – tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là một năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường cần phải trang bị cho học sinh
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học
mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức mà giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình; ngoài ra giáo viên còn truyền những bí quyết, những kinh nghiệm đúc rút lâu năm để giải quyết các vấn
đề khó khăn trong quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục ở trường trung học cơ sở
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1 Đặc điểm của học sinh THCS
Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở là lứa tuổi học sinh từ 11 đến 15, đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 Thời kỳ này các em có sự thay đổi về tâm sinh lí phức tạp, sự phát triển của các em về trí tuệ, thể chất phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội Đặc biệt sự thay đổi lớn nhất,
rõ nhất chính là ở lứa tuổi 14- lứa tuổi học sinh lớp 8, ở lớp 8 này các e lại được
Trang 5làm quen thêm môn học mới là môn hóa học, đa số học sinh cho rằng hoá học là môn khó học, môn học trừu tượng, các em rất sợ học tập môn hoá, hầu như rất ít học sinh nắm vững kiến thức cũng như kĩ năng hoá học Vì thế các em rất thụ động trong các tiết học và không hứng thú bộ môn này
2.2.2 Chuẩn bị vận dụng đề tài
Để áp dụng các phương pháp trong giảng dạy tôi đã thực hiện một số khâu quan trọng sau :
Xác định mục tiêu, dự đoán những tình huống có thể xảy ra trong quá trình cân bằng từng phương trình hoá học
Tìm hiểu tình hình học sinh, tạo niềm tin cho học sinh về khả năng hoạt động tìm tòi của các em, đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ cho học sinh, để các em chủ động sẵn sàng tham gia các hoạt động một cách tích cực, tự giác và sáng tạo Đặt ra yêu cầu về đồ dùng học tập
Chuẩn bị đồ dùng dạy học: trong phương pháp cân bằng nhanh và chính xác các phương trình hoá học chủ yếu dựa vào bảng phụ là chính
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết các vấn đề
- Áp dụng đề tài “Các phương pháp giúp học sinh cân bằng phản ứng hóa học nhanh và chính xác trong bộ môn Hóa học lớp 8 ở trường THCS Nguyễn Văn Trỗi”
Phương pháp 1: Cân bằng theo phương pháp “Hệ số thập phân” Để cân bằng
phản ứng theo phương pháp này ta cần thực hiện các Bước sau :
Bước 1: Đưa các hệ số là số nguyên hay phân số vào trước các công thức hoá học sao cho số nguyên tử hai vế bằng nhau (thường thì cứ lấy hệ số nguyên
tử bên lớn chia cho hệ số nguyên tử bên bé hơn của cùng 1 nguyên tố).
Bước 2: Đưa hệ số cân bằng từ phân số thành số nguyên đơn giản bằng cách nhân với chính mẫu số của phân số đó với các hệ số của các nguyên tử ở 2
vế để được phương trình hoá học hoàn chỉnh.
Ví dụ 1: Cân bằng phản ứng sau.
P + O2 t0
Ở phương trình này ta thấy: ở vế phải có 2 nguyên tử P và 5 nguyên tử O còn ở vế trái có 1 nguyên tử P và 2 nguyên tử O vậy
Cách làm:
- Lấy số nguyên tử P (vế phải) lớn hơn chia cho số nguyên tử P (vế trái) ít hơn là: “2 : 1 = 2”; ta điền hệ số 2 vào P bên ít hơn (vế trái)
- Tiếp tục lấy số nguyên tử O (vế phải) lớn hơn chia cho số nguyên tử O
(vế trái) ít hơn ta được hệ số 25 và điền vào trước phân tử O2 (vế trái)
Trang 62P + 25 O2 - t0
-Sau cùng ta nhân các hệ số cân bằng ở 2 vế với mẫu số của hệ số phân số (tức là nhân với 2) ta được hệ số cân bằng là số nguyên nhỏ nhất
2
2
5 2
- Khử mẫu ta được phương trình hoá học hoàn chỉnh
4P + 5O2
0
t
Ví dụ 2: Cân bằng phản ứng sau.
C2H2 + O2 t0
Ở phương trình này ta thấy:
- Để cân bằng được nguyên tử O ở 2 vế thì phải cân bằng nguyên tử C và
H ở 2 vế trước, sau đó tính tổng số nguyên tử O trong CO2 và H2O ta mới cân bằng được nguyên tử O trong O2
- Ở vế phải có 1 nguyên tử C, ở vế trái có 2 nguyên tử C vậy
Cách làm:
- Lấy số nguyên tử C (vế trái) lớn hơn chia cho số nguyên tử C (vế phải) ít hơn là: “2: 1= 2” Đặt hệ số 2 vào trước nguyên tử C (vế phải) ít hơn nghĩa là trước công thức hoá học CO2
C2H2 + O2 t0
- Lúc này ta thấy ở 2 vế số nguyên tử H đã cân bằng; ta quan sát tiếp vế trái có 2 nguyên tử O còn ở vế bên phải có tổng là 5 nguyên tử O; vậy ta lấy “5 :
2 = 25 ” và thêm hệ số 25 vào phân tử O2
C2H2 + 25 O2 t0
- Tương tự ta ta nhân các hệ số ở 2 vế với mẫu số 2 để khử mẫu số ta được các hệ số cân bằng là số nguyên đơn giản nhất
2C2H2 + 5O2
0
t
4CO2 + 2H2O
Ví dụ 3: Al + O2 Al2O3
Tương tự ta đặt 2 vào trước công thức hoá học của đơn chất Al và 23 vào trước công thức hoá học O2
2Al + 23O2 Al2O3
Nhân các hệ số ở 2 vế với mẫu số 2 ta được phương trình hoá học
Trang 74Al + 3O2 2Al2O3
Ví dụ 4: Cân bằng phương trình hoá học sau.
FeS2 + O2 t0
Fe2O3 + SO2
- Ta cân bằng nguyên tử Fe và S trước: Tìm hệ số nguyên tử Fe ở vế trái (ít hơn) bằng cách lấy “2:1=2”; sau đó ta nhẩm luôn số nguyên tử S trong 2 phân
tử FeS2 là 4; lấy “4:1 = 4” ta được hệ số nguyên tử S bên vế phải (trước phân tử
SO2)
2FeS2 + O2 t0
Fe2O3 + 4SO2
- Sau khi cân bằng các nguyên tử Fe, S ở 2 vế ta tính tổng số nguyên tử O bên vế phải bằng 11 lớn hơn số nguyên tử O bên vế trái, ta lấy 11: 2 =112 chính
là hệ số phân số cân bằng của nguyên tử O bên vế trái
2FeS2 + 112 O2 t0
Fe2O3 + 4SO2
- Cuối cùng nhân các hệ số ở 2 vế với mẫu số 2 ta được phương trình hoá học:
2.2FeS2 +2 112 O2 t0
2 Fe2O3 + 2.4 SO2
- Phương trình hóa học hoàn thiện:
4FeS2 + 11O2 t0
2Fe2O3 + 8SO2
* Nhận xét : Phương pháp này áp dụng đặc biệt có hiệu quả với các phương
trình có một hoặc nhiều chất là đơn chất Tổng số chất trong phản ứng từ 3 đến 4 ( như các phản ứng giữa kim loại, phi kim với các chất khác hay các phản ứng
phân huỷ tạo ra đơn chất ) L ưu ý : Thường cân bằng số nguyên tử trong đơn chất
là sau cùng
Phương pháp 2: Cân bằng các phương trình hoá học theo phương pháp
“chẵn-lẻ”.
Để cân bằng theo phương pháp này ta làm như sau:
Xét các chất trước và sau phản ứng Nếu số nguyên tử của cùng một nguyên tố trong một số công thức hoá học là số chẵn còn ở công thức khác lại là
số lẻ thì đặt hệ số 2 trước công thức có số nguyên tử là lẻ, sau đó tìm các hệ số còn lại
Ví dụ 1: Cân bằng phương trình hoá học sau.
FeS2 + O2 t0
Fe2O3 + SO2
Trang 8Ta thấy số nguyên tử oxi trong công thức hoá học O2 và công thức hoá học SO2 là chẵn còn trong công thức hoá học Fe2O3 là lẻ, vậy cần đặt hệ số 2 trước công thức hoá học Fe2O3
Cách làm:
FeS2 + O2 - t0
2Fe2O3 + SO2
Tiếp theo ta lần lượt cân bằng nguyên tử Fe và nguyên tử S
4FeS2 + O2 - t0
2Fe2O3 + SO2
4FeS2 + O2 t0
2Fe2O3 + 8SO2
Cuối cùng ta cân bằng nguyên tử O ta thấy ở vế phải có tổng cộng 22 nguyên tử O vậy ta lấy “22: 2 = 11” và thêm hệ số 11 vào trước công thức hoá học O2 ta được phương trình hoá học
4FeS2 + 11O2
0
t
2Fe2O3 + 8SO2
Ví dụ 2: Cân bằng phương trình hoá học sau.
Al + CuCl2 AlCl3 + Cu
Ta thấy clo trong công thức hoá học CuCl2 là chẵn còn trong công thức hoá học AlCl3 là lẻ vậy
Cách làm: Thêm 2 trước công thức hoá học AlCl3
Al + CuCl2 2AlCl3 + Cu
Tiếp theo ta cân bằng nguyên tử clo và nguyên tử nhôm
2Al + 3 CuCl2 2AlCl3 + Cu
Cuối cùng ta cân bằng nguyên tử đồng ta được phương trình hoá học 2Al + 3CuCl2 2AlCl3 + 3Cu
Ví dụ 3: Lập phương trình hoá học của phản ứng.
Fe + O2 Fe2O3
Ta thấy số nguyên tử O trong công thức hoá học Fe2O3 là lẻ còn trong công thức hoá học O2 là chẵn nên ta thêm 2 trước công thức hoá học Fe2O3
Fe + O2 2Fe2O3
Ta tiếp tục cân bằng nguyên tử O và cân bằng Fe ở vế trái
4Fe + 3O2 2Fe2O3
* Nhận xét : Trong các trường hợp cụ thể có thể các phương trình hoá
học có nhiều nguyên tố mà ở một số là chẵn ở một số bên là lẻ do đó ta nên chọn nguyên tố có số lẻ cao hơn để cân bằng
Ví dụ4 : Na + H2O NaOH + H2
Trang 9Nhận thấy số nguyên tử Na và O ở 2 vế bằng nhau nên ta cân bằng số nguyên tử H, do số nguyên tử H ở vế tái là chẵn còn tổng số nguyên tử H ở vế phải là lẻ cao hơn nên ta sẽ cân bằng H ở vế phải bằng cách thêm hệ số chẵn là 2 vào trước phân tử NaOH (vì số H là lẻ) để tổng chẵn nhỏ nhất
Na + H2O 2NaOH + H2
Sau đó cân bằng nguyên tử H, rồi cân bằng lại nguyên tử O và Na ở vế trái
2Na + 2H2O 2NaOH + H2
* Lưu ý: Với phương trình hoá học có tất cả 3 chất trong đó có 2 chất là đơn
chất thì sau khi chọn được nguyên tố thích hợp để cân bằng ta có thể tìm bội số chung nhỏ nhất của các chỉ số nguyên tố đó trong công thức hoá học để tìm 2 hệ
số cùng lúc:
Ví dụ 1: Al + Cl2 - t0
Cách làm :
-Ta chọn nguyên tố clo để cân bằng bội số chung nhỏ nhất của 2 chỉ số 2,
3 là 6; ta lấy “6 : 3 = 2” điền 2 trước công thức hoá học AlCl3 Tiếp tục lấy “6 : 2
= 3” điền 3 trước công thức hoá học Cl2 ta được
Al +3Cl2 - t0
2AlCl3
- Cuối cùng cân bằng nguyên tử nhôm:
2Al + 3Cl2
0
t
2AlCl3
Ví dụ 2: P + O2 - t0
-Ta chọn nguyên tố O để cân bằng Bội số chung nhỏ nhất của 2 và 5 là
10 lấy bội số chung trên chia cho chỉ số của nguyên tố O trong từng công thức hoá học để tìm hệ số
- Lấy ‘‘10 : 2 = 5’’ điền 5 vào trước công thức hoá học O2; lấy ‘‘10 : 5 = 2’’ điền 2 vào trước công thức hoá học P2O5 ta được:
P + 5O2 - t0
- Sau đó cân bằng nguyên tử P bằng cách thêm 4 vào trước nguyên tử P ta được phương trình hoá học
4P + 5O2 t0
2P2O5
Ví dụ 3: N2 + H2 - t0
Trang 10- Ta chọn nguyên tử H : Bội số chung gần nhất của 2 chỉ số của nguyên tố H là 6 lấy bội số chung vừa tìm được lần lượt chia cho chỉ số của các chỉ số trong từng công thức, ta tìm được các hệ số tương ứng là :
N2 + 3H2 t0
2NH3
*) Ngoài ra ta có thể sử dụng phương pháp “chẵn – lẻ” hay “tìm bội số chung nhỏ nhất” để cân bằng những phương trình hóa học thuộc loại phản ứng trao
đổi thì ta nên cân bằng theo nhóm nguyên tố (coi nhóm giống nhau như 1 nguyên tố) chứ không nên cân bằng từng nguyên tố một, sẽ rất lâu và mất thời gian, dễ nhầm lẫn
Ví dụ : Ba(OH)2 + Fe(NO3)3 Ba(NO3)2 + Fe(OH)3
Cách 1: - Dùng phương pháp “chẵn – lẻ”:
- Nhận thấy số nhóm (OH) hay số nhóm (NO3) ở 2 vế: một vế số nhóm là chẵn còn bên kia là lẻ, ta có thể cân bằng nhóm nào trước cũng được
- Bên nhóm có số nhóm lẻ (là 3) ta nhân với hệ số chẵn nhỏ nhất (là 2), sau đó ta cân bằng các nhóm, các nguyên tố còn lại
- Thêm hệ số 2 vào trước Fe(NO3)3, sau đó cân bằng nguyên tố Fe, nhóm (NO3) ở vế phải và cuối cùng cân bằng nguyên tố Ba, ta được phương trình hóa học:
3Ba(OH)2 + 2Fe(NO3)3 3Ba(NO3)2 + 2Fe(OH)3
Cách 2 - Dùng phương pháp “tìm bội số chung nhỏ nhất”:
- Cân bằng nhóm (OH): ta tìm bội số chung nhỏ nhất của số nhóm 2 và 3
là 6, lấy 6 chia lần lượt cho 2 và 3 ta được các hệ số trước công thức có nhóm (OH) là:
3Ba(OH)2 và 2Fe(OH)3
- Sau đó dựa vào 2 chất trên ta cân bằng tiếp 2 nguyên tố Ba, Fe và nhóm (NO3) trong các công thức còn lại Cuối cùng ta được phương trình hóa học:
3Ba(OH)2 + 2Fe(NO3)3 3Ba(NO3)2 + 2Fe(OH)3
Phương pháp 3: Cân bằng phản ứng theo phương pháp “ nguyên tố tiêu biểu ”
Nguyên tố tiêu biểu là nguyên tố có đặc điểm sau :
+ Có mặt ít nhất trong các chất ở phản ứng đó
+ Liên quan gián tiếp nhất đến nhiều chất trong phản ứng
+ Chưa cân bằng về nguyên tử ở 2 vế
Gồm 3 Bước sau :
+ Bước 1: Chọn nguyên tố tiêu biểu
+ Bước 2: Cân bằng nguyên tố tiêu biểu