Nó giúp học sinh dễ ghi nhớ, phát triển nhận thức, khả năng tư duy, óc liên tưởng, khả năng vận dụng và khả năng sáng tạo...Đây là một công cụ hữu hiệu trong quá trình dạy học hiện nay
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT NGA SƠN
-*** -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÍCH HỢP KIẾN THỨC HÌNH HỌC, HOÁ HỌC, VĂN HỌC, VẬT LÝ VÀO DẠY MỤC 3 BÀI 5: “CÁCH THỨC VẬN ĐỘNG, PHÁT TRIỂN CỦA SỰ VẬT VÀ HIỆN TƯỢNG” MÔN GDCD 10 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT NGA SƠN.
Người thực hiện: Lê Thị Hồng
Chức vụ: Giáo viên SKKN thuộc lĩnh vực (môn): GDCD
THANH HÓA NĂM 2020
Trang 2Mục lục TRANG
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 4
2.4.Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
Trang 31.Mở đầu
1.1.Lí do chon đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ cùng với sự bùng nổ thông tin, lượng tri thức của nhân loại phát minh ngày càng nhiều, kiến thức của các lĩnh vực có liên quan mật thiết với nhau Đồng thời do yêu cầu của xã hội, do nhu cầu thực tế đang đòi hỏi con người phải giải quyết rất nhiều tình huống trong cuộc sống Khi giải quyết các vấn đề đó, kiến thức của một lĩnh vực chuyên môn sẽ không thể hiện được mà cần vận dụng kiến thức liên ngành một cách sáng tạo Từ thực tế đó đã đặt ra cho giáo dục và đào tạo một vấn đề là phải thay đổi quan điểm về giáo dục trong đó dạy học tích hợp là một định hướng mang tính đột phá để đổi mới căn bản và toàn diện về nội dung và phương pháp giáo dục
Hiện nay, việc dạy học lấy học sinh là trung tâm là nhiệm vụ quan trọng, trong
đó áp dụng các phương pháp dạy học tích cực luôn được giáo viên đặt lên nhiệm vụ hàng đầu Xuất phát từ mục tiêu đó, trong dạy học nói chung và dạy học môn GDCD nói riêng tôi luôn tìm tòi khám phá tích hợp kiến thức các bộ môn vào dạy học nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, tạo ra sự hứng thú trong quá trình học tập cho học sinh Với ý nghĩa đó, tôi nhận thấy rằng: khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn bao gồm cả tự nhiên và xã hội đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp liên quan đến nhiều môn học Mặt khác, trong dạy học cần phải tích hợp kiến thức của nhiều môn học để giải quyết tình huống trong thực tiễn là rất cần thiết trong việc giảng dạy môn GDCD Vì vậy,
tôi lựa chọn đề tài: Tích hợp kiến thức: Vật lý, Hình học, Hoá học, Ngữ văn
vào dạy học mục 3 Bài 5 : “Cách thức vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng” GDCD 10 theo hướng nghiên phát triển năng lực học sinh ở Trường THPT Nga Sơn
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Trong đề tài này tôi tích hợp kiến thức hình học, hóa học, ngữ văn, vật lí, các tình huống thực tế có liên quan để vận dụng trong giảng dạy mục 3, bài 5 Từ nội dung bài học, học sinh rút ra bài học cho bản thân trong thực tế cuộc sống phải có ý thức kiên trì trong học tập và rèn luyện, không coi thường việc nhỏ, tránh các biểu hiện nôn nóng trong cuộc sống
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 10A, 10B Trường THPT Nga Sơn.
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
- Phương pháp giải quyết vấn đề
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá
- Phương pháp thu thập, xử lí thông tin
- Phương pháp thảo luận nhóm, đàm thoại, trò chơi
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Trang 4Dạy học tích hợp là phương pháp dạy học dựa trên cơ sở phát triển năng lực của học sinh, là hình thức tìm tòi những nội dung giao thoa giữa các môn học với nhau, những khái niệm tư tưởng chung giữa các môn học, tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số môn học có liên hệ với nhau Từ những năm 60 của thế kỷ XX, người ta đã đưa vào giáo dục ý tưởng tích hợp trong việc xây dựng chương trình dạy học Dạy học tích hợp góp phần phát triển
tư duy liên hệ, liên tưởng ở học sinh Tạo cho học sinh một thói quen trong tư duy, lập luận tức là khi xem xét một vấn đề phải đặt chúng trong một hệ quy chiếu, từ đó mới có thể nhận thức vấn đề một cách thấu đáo Có thể khẳng định rằng dạy học tích hợp là một trong những phương pháp dạy học hiện đại Nó giúp học sinh dễ ghi nhớ, phát triển nhận thức, khả năng tư duy, óc liên tưởng, khả năng vận dụng và khả năng sáng tạo Đây là một công cụ hữu hiệu trong quá trình dạy học hiện nay
Như vậy, có thể hiểu Dạy học tích hợp là dạy cho học sinh biết tổng hợp kiến
thức, kĩ năng ở nhiều môn học để giải quyết các nhiệm vụ học tập và hình thành năng lực giải quyết các tình huống thực tiễn
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1 Thực trạng tiếp thu kiến thức môn GDCD trên lớp và học bài ở nhà của học sinh lớp 10 trường THPT Nga Sơn.
Năm học 2019 - 2020 tôi được phân công giảng dạy 2 lớp : 10A, 10B Qua các bài kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kỳ của học sinh tôi nhận thấy chất lượng học tập môn GDCD lớp 10 của học sinh chưa cao Một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng học tập của học sinh còn thấp đó là:
2.2.1.1 Học tập trên lớp:
Trên lớp các em chưa chủ động trong học tập, chưa thực sự phát huy tính chủ động sáng tạo, nhiều em chưa mạnh dạn trong trả lời câu hỏi, kỹ năng xử lý và phân tích các tình huống còn hạn chế Đặc biệt là khả năng vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống gần với thực tiễn
Thiếu kỹ năng hoạt động nhóm; kỹ năng phân tích tổng hợp; kỹ năng hệ thống hoá kiến thức sau mỗi bài học Thường hay ỷ lại hoặc lười hoạt động trong việc tìm tòi kiến thức mới…
2.2.1.2 Học tập ở nhà:
Vận dụng kiến thức liên môn trong ôn tập kiến thức ở nhà chưa hiệu quả, làm bài tập và nghiên cứu trước bài mới chưa cao
Hầu hết các em chưa biết cách học “chủ yếu học vẹt đọc thuộc lòng” do đó chất lượng kiểm tra bài cũ ở nhà còn thấp “có tới 80% học sinh không thuộc bài” khi đến lớp
2.2.2 Thực trạng vận dụng pháp dạy học tích hợp trong giảng dạy ở trường THPT Nga Sơn.
Môn GDCD là môn học có nhiều nội dung tích hợp để hình thành kỹ năng sống cho học sinh và nội dung bài học gắn liền với cuộc sống hằng ngày của các
em, để hình thành kĩ năng sống cho học sinh qua các bài học phải lựa chọn lồng
Trang 5ghép kĩ năng sống phù hợp với từng đối tượng học sinh và phù hợp với từng nội dung của bài học trong chương trình GDCD10
Qua các đợt tiếp thu chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học do sở GD&ĐT Thanh Hóa tổ chức và triển khai thực hiện cuộc thi: “ Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn dành cho học sinh trung học và cuộc thi dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho giáo viên trung học” , Trường THPT Nga sơn đã tích cực triển khai áp dụng thực hiện, tuy nhiên trong thực tế qua dự giờ thao giảng cũng như dự giờ sinh hoạt chuyên đề chúng tôi nhận thấy nhìn chung giáo viên vận dụng phương pháp dạy học tích hợp vào giảng dạy trong các tiết học còn rất ít Một số giáo viên còn gặp khó khăn, lúng túng trong việc tổ chức, thiết kế và sử dụng phương pháp dạy học tích hợp trong dạy học Một số ít giáo viên vận dụng vào giảng dạy một nội dung của bài học nhưng mới dừng lại dưới hình thức giáo viên hỏi, học sinh trả lời sau đó giáo viên chốt lại kiến thức mà chưa hình thành cho các em kỹ năng tự vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống trong thực tiễn sau đó lên trình bày trước lớp theo cách hiểu riêng Đặc biệt giáo viên chưa hướng dẫn cho các em cách khai thác nội dung bài học bằng hình thức tư duy tích hợp các môn học liên quan để các em có thể củng cố và khắc sâu kiến thức bài học Đây chính là lí do
để tôi chọn đề tài này
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1 Chuẩn bị.
* Giáo viên
- Yêu cầu học sinh đọc và tìm hiểu những kiến thức liên quan đến lượng, chất
- Hình ảnh và video có liên quan đến nội dung bài học
- Dự kiến các tình huống có thể xảy ra
- Một số câu hỏi trắc nghiệm và bài tập tình huống
- Giáo viên chuẩn bị giấy trắng có chiều rộng 20cm, chiều dài 50cm để phát cho học sinh (phần tổ chức trò chơi)
* Học sinh
- Bảng hệ thống tuần hoàn
- Sưu tầm ca dao, tục ngữ nói về sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất
- Quan sát quá trình đun sôi nước
2.3.2 Nội dung kiến thức tích hợp trong mục 3: Quan hệ giữa sự biến đổi về lượng và sự biến đổi về chất.
- Phần 2 Hoạt động hình thành kiến thức
* Tích hợp với bộ môn vật lý
- Ở điểm a mục 3 giáo viên sử dụng sơ đồ các trạng thái tồn tại của nước và đặt câu hỏi để học sinh hiểu được:
+ Sự biến đổi về chất của sự vật và hiện tượng bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi về lượng và sự biến đổi này diễn ra một cách dần dần.( không phải ngay lập tức chúng ta có nước sôi mà phải có sự tích luỹ dần dần về nhiệt độ)
Trang 6+ Muốn làm cho chất của sự vật và hiện tượng thay đổi đòi hỏi lượng của sự vật, hiện tượng phải biến đổi đến một giới hạn nhất định
Giới hạn mà trong đó sự biến đổi về lượng chưa làm thay đổi chất của sự vật
và hiện tượng được gọi là “Độ” tức là trạng thái nước ở khoảng giới hạn từ
0oC < độ<100oC
Giới hạn mà tại đó sự biến đổi về lượng làm thay đổi chất của sự vật và hiện
tượng được gọi là “Điểm nút” tức là tại điểm 0oC và 100oC
* Tích hợp với bộ môn hóa học
Giáo viên yêu cầu học sinh nghiên cứu ví dụ SGK trang 31 Trong điều kiện bình thường đồng (Cu) ở trạng thái rắn Nếu ta tăng dần nhiệt độ đến 10830C, đồng sẽ nóng chảy Ở ví dụ này, độ là khoảng giới hạn trong đó nhiệt độ của đồng chưa đạt tới 10830C và điểm nút là nhiệt độ 10830C
Giáo viên cho các em sử dụng bảng hệ thống tuần hoàn để lấy thêm ví dụ về
độ, điểm nút
- Phần 3: hoạt động luyện tập
* Tích hợp với môn hình học
- GV tổ chức cho HS trò chơi “Gấp giấy” để củng cố kiến thức mục 3
- GV : phát cho học sinh tờ giấy hình chữ nhật có chiều dài 50cm, chiều rộng 20cm, các em có thể tăng hoặc giảm chiều rộng theo hai phía để giải thích sự biến đổi của hình học
Hỏi:
a Lượng thay đổi của hình chữ nhật như thế nào?
b Chất mới của hình chữ nhật là gì?
c Xác định độ, điểm nút
- Giáo viên hướng dẫn để học sinh có thể trả lời được:
a Lượng thay đổi phụ thuộc và chiều rộng từ 0 – 50cm
b Chất mới của hình chữ nhật là:
+ Hình vuông
+ Đường thẳng
c Xác định
+ 0 < độ < 50
+ Nút: 0 và 50
Độ
Trạng thái Nước
Rắn
Lỏng
Hơi Điểm nút
Trang 7- Phần 5: Hoạt động mở rộng
*Tích hợp với môn văn học
- Giáo viên hướng dẫn học sinh sưu tầm các câu ca dao tục ngữ, câu thơ nói về
sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất
+ Chín quá hoá nẫu
+ Có công mài sắt có ngày nên kim
+ Góp gió thành bão
+ Tích tiểu thành đại
+ Dốt đến đâu học lâu cũng biết
2.3.3 Giáo án minh họa : Mục 3 Quan hệ giữa sự biến đổi về lượng và sự
biến đổi về chất Bài 5 - tiết 2(Tiết PPCT 8): Cách thức vận động, phát triển
của sự vật và hiện tượng
Giáo án minh họa.
I MỤC TIÊU BÀI HỌC:
Học xong bài này học sinh cần:
1 Về kiến thức:
Học sinh biết được mối quan hệ biện chứng giữa sự biến đổi về lượng và
sự biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng
2 Về kĩ năng:
- Chứng minh được cách thức của sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và chất mới ra đời lại bao hàm một lượng mới tương ứng
- Vận dụng sự biến đổi của lượng và chất trong các sự vật, hiện tượng
3 Về thái độ:
- Có ý thức kiên trì trong học tập và rèn luyện, không coi thường việc nhỏ, tránh nôn nóng trong cuộc sống
II CÁC NĂNG LỰC HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN Ở HỌC SINH.
- Năng lực tự học
- Năng lực giải quyết vấn đề
- Năng lực tư duy sáng tạo
- Năng lực giao tiếp
- Năng lực hợp tác
III PHƯƠNG PHÁP/ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC CÓ THỂ SỬ DỤNG.
- Phương pháp: đàm thoại, nêu vấn đề, thảo luận, trò chơi, đóng vai
- Kĩ thuật: xử lí tình huống, làm bài tập trắc nghiệm
IV PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC.
1 Sự chuẩn bị của giáo viên:
- SGK, SGV, chuẩn kiến thức kĩ năng môn GDCD lớp 10
- Sơ đồ, bảng biểu, bài tập tình huống, bài tập trắc nghiệm, video…
- Máy chiếu
Trang 8- Giáo viên chuẩn bị giấy trắng có chiều rộng 20cm, chiều dài 50cm để phát cho học sinh (phần tổ chức trò chơi)
2 Sự chuẩn bị của học sinh:
- SGK GDCD lớp 10
- Bảng hệ thống tuần hoàn
- Đọc và tìm hiểu trước nội dung bài học
- Sưu tầm thơ, ca dao, tục ngữ nói về sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất
V TỔ CHỨC DẠY HỌC:
Hoạt động cơ bản của giáo viên và học sinh Nội dung bài học
1 Khởi động
*Mục tiêu:
- Kích thích học sinh tự tìm hiểu xem các em đã biết gì
về chất, lượng và giữa chúng có mối quan hệ với nhau
như thế nào?
- Rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo, năng lực phát triển
và giải quyết vấn đề của học sinh
*Cách tiến hành:
- GV: Mở cho cả lớp nghe bài hát “ Thêm một” của
nhạc sỹ Trần Hùng , được phổ nhạc từ bài thơ “Thêm
một” của nhà thơ Trần Hòa Bình và hỏi bài hát này
muốn nói điều gì?
DKTL: Tất cả các sự vật hiện tượng trong cuộc sống đôi
khi chúng ta chỉ thêm một chút hay bớt đi một chút thì sự
vật hiện tượng đó đã có sự thay đổi
- GV: Đó cũng chính là nội dung bài học mối quan hệ
giữa sự biến đổi về lượng và sự biến đổi về chất mà các
em sẽ tìm hiểu trong tiết học hôm nay
2 Hoạt động hình thành kiến thức.
Hoạt động 1: Thảo luận nhóm, giáo viên sử dụng sơ đồ
chiếu lên màn hình, tìm hiểu về sự biến đổi về lượng dẫn
đến sự biến đổi về chất
*Mục tiêu:
- Trình bày được quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi
- Rèn luyện năng lực tư duy, năng lực sử dụng ngôn ngữ,
năng lực giải quyết vấn đề
*Cách tiến hành:
- Chia lớp thành 3 nhóm
GV cho HS các nhóm quan sát sơ đồ các trạng thái tồn
tại của nước và yêu cầu các em trả lời các câu hỏi
3 Quan hệ giữa sự biến đổi về lượng
và sự biến đổi về chất
a Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất.
-Sự biến đổi về chất
Trang 9
Câu hỏi thảo luận
Câu hỏi 1 Có phải ngay lập tức có thể có nước sôi?
Câu hỏi 2 Việc tăng dần nhiệt độ diễn ra như thế nào?
Câu hỏi 3 Đó là sự tích luỹ về lượng hay về chất?
? Thế nào là độ? Thế nào là điểm nút?
- Các nhóm thảo luận và cử đại diện nhón trình bày
- Các nhóm khác nhận xét, bổ sung
- GV giảng giải và kết luận: Muốn làm cho chất cơ bản
của sự vật hiện tượng thay đổi (nước từ trạng thái lỏng
sang trạng thái khí) đòi hỏi lượng của sự vật, hiện tượng
(nhiệt độ) phải biến đổi đến 1 giới hạn nhất định
Giới hạn mà trong đó sự biến đổi về lượng chưa làm thay
đổi chất cơ bản của sự vật, hiện tượng được gọi là “ĐỘ”
GV: Khi sự biến đổi (tích lũy) của lượng đạt đến giới
hạn của ĐỘ thì điều gì sẽ xảy ra.
HS: Sự vật, hiện tượng sẽ chuyển sang chất mới
-Khi đó sự vật, hiện tượng sẽ không còn là nó nữa Sự
vật, hiện tượng cũ sẽ bị thay thế bằng sự vật, hiện tượng
mới
Điểm giới hạn mà tại đó sự biến đổi của lượng làm thay
đổi về chất của sự vật, hiện tượng được gọi là “Điểm
nút”.
-Sự biến đổi về lượng đạt đến 1 giới hạn nhất định (giới
hạn của độ), phá vỡ sự thống nhất giữa chất và lượng,
chất cơ bản của sự vật sẽ thay đổi, chất mới ra đời thay
thế chất cũ, sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ
- Đề củng cố mục này giáo viên yêu cầu học sinh nghiên
cứu ví dụ SGK trang 31 Trong điều kiện bình thường
đồng (Cu) ở trạng thái rắn Nếu ta tăng dần nhiệt độ đến
10830C, đồng sẽ nóng chảy Ở ví dụ này các em hãy xác
định độ, điểm nút
- DKTL: độ là khoảng giới hạn trong đó nhiệt độ của
đồng chưa đạt tới 10830C và điểm nút là nhiệt độ
10830C
của sự vật, hiện tượng bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi về lượng Sự biến đổi này diễn ra
1 cách dần dần Quá trình biến đổi ấy đều có ảnh hưởng đến trạng thái chất của sự vật, hiện tượng, nhưng chất của sự vật, hiện tượng chưa biến đổi ngay
+Giới hạn mà trong
đó sự biến đổi về lượng chưa làm thay đổi chất cơ bản của
sự vật, hiện tượng được gọi là độ -Khi sự biến đổi về lượng đạt đến giới hạn nhất định, phá
vỡ sự thống nhất giữa chất và lượng thì chất mới ra đời thay thế chất cũ, sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ
+Điểm giới hạn mà tại đó sự biến đổi của lượng làm thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng được gọi là điểm nút
b Chất mới ra đòi
Độ
Trạng
thái
Nước
Rắn
Lỏng
Hơi Điểm nút
Trang 10Hoạt động 2: Đàm thoại để tìm hiểu chất mới ra đời bao
hàm một lượng mới tương ứng
*Mục tiêu:
- HS trình bày được chất mới ra đời gắn liền với 1 lượng
mới tương ứng
- Rèn luyện năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề,
năng lực giao tiếp
*Cách tiến hành:
- GV: Chiếu thông tin lên màn hình
cứ 100 cm3 nước khi đông đặc ở 0oC sẽ cho 109
cm3 nước đá Như vậy, khi nước chuyển từ thể
lỏng sang thể rắn thì thể tích tăng lên thông
thường thêm 9% Điều này cũng lý giải cho các
hiện tượng bị vỡ đường ống dẫn nước ở các vùng
bị băng tuyết khi nhiệt độ xuống quá thấp, đột
ngột Chai nước để trong ngăn đá cũng có lúc bị
vỡ, thậm chí có thể nổ khi nhiệt độ xuống tới 0oC,
nước đóng thành băng, lúc đó thể tích nước tăng
lên và gây ra những lực rất lớn
-GV: Từ thông tin trên em hãy cho biết khi chất mới ra
đời thì lượng của sự vật và hiện tượng như thế nào?
- DKTL: Lượng của sự vật và hiện tượng cũng thay đổi
để tạo thành sự thống nhất mới giữa chất và lượng
- GV kết luận:
+ Lượng mới biến đổi đến 1 giới hạn nhất định làm cho
chất biến đổi, khi 1 chất mới ra đời lại quy định 1 lượng
mới tương ứng với nó Do đó, chất và lượng của sự vật,
hiện tượng không tách rời nhau
+ Sự biến đổi không ngừng của sự vật, hiện tượng đã dẫn
đến sự biến đổi về chất của chúng, khi chất mới ra đời lại
quy định 1 lượng mới tương ứng với nó Lượng mới lại
dần dần biến đổi trong sự vật, hiện tượng mới để tạo ra
những biến đổi về chất và ngược lại … Cứ như thế các
sự vật, hiện tượng trong thế giới không ngừng vận động
và phát triển Đó chính là cách thức vận động, phát triển
của các sự vật, hiện tượng
Hoạt động 3: Đóng kịch, xử lý tình huống rút ra bài học
từ quy luật: Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về
chất
*Mục tiêu:
- Từ tình huống HS hiểu rằng để có sự biến đổi
về chất phải bắt đầu biến đổi (tích lũy) dần về
lại bao hàm một lượng mới tương ứng.
Mỗi sự vật, hiện tượng đều có chất đặc trưng và lượng đặc trưng phù hợp với nó Vì vậy, khi một chất mới ra đời lại bao hàm một lượng mới để tạo thành sự thống nhất mới giữa chất và lượng