Nămhọc 2016-2017 trong phần Làm văn ở dạng bài NLXH, thay vì học sinh viết bàivăn NLXH như các năm trước thì trong cấu trúc đề thi minh họa những năm saunày, trong đề thi mà bộ đưa ra cũ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NGA SƠN
-SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ
LUẬN XÃ HỘI (KHOẢNG 200 CHỮ)
Trang 2THANH HÓA NĂM 2020
MỤC LỤC
1 Mở đầu 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Những điểm mới của SKKN……… 3
2 Nội dung 4
2.1 Cơ sở lí luận 4
2.1.1.Vai trò, vị trí của văn NLXH 4
2.1.2.Những thay đổi của văn NLXH trong đề thi hiện nay 4
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi viết sáng kiến 4
2.2.1.Thuận lợi……… 5
2.2.2 Khó khăn……….5
2.3 Các giải pháp cụ thể 5
2.3.1 Văn NLXH 5
2.3.1.1.Nghị luận về tư tưởng đạo lí……… 6
2.3.1.2.Nghị luận về một hiện tượng đời sống……… 6
2.3.2 Khái lược về đoạn văn 7
2.3.3 Kĩ năng viết đoạn NLXH 7
2.4 Nội dung thực nghiệm và kết quả 10
2.5 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm ……… 15
3 Kết luận, kiến nghị 16
3.1 Kết luận 16
3.2 Kiến nghị 16
Trang 41 Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây Bộ GD-ĐT ngày càng chú trọng nhiều hơn đến việcnâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học nhằm cung cấp tri thức toàn diệncho người học, đặc biệt là nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ văn trong trườngphổ thông Trên cơ sở đó rèn luyện năng lực cảm thụ văn học, bồi dưỡng tìnhcảm tâm hồn nhân cách chuẩn bị cho các em hành trang tri thức vào đời Nămhọc 2016-2017 trong phần Làm văn ở dạng bài NLXH, thay vì học sinh viết bàivăn NLXH như các năm trước thì trong cấu trúc đề thi minh họa những năm saunày, trong đề thi mà bộ đưa ra cũng như trong các bộ đề luyện thi của nhiều tácgiả đã yêu cầu học sinh viết đoạn văn NLXH
Trong xu thế đổi mới việc dạy và học Ngữ văn nói chung và cụ thể là đổimới chương trình và sách giáo khoa sau một thời gian thí điểm từ năm học trước
Bộ GD và ĐT đã đưa vào sử dụng bộ sách giáo khoa mới theo chương trìnhphân ban: Bỏ đi một số tác phẩm không phù hợp, một số văn bản mới đưađược đưa vào chương trình Ngữ văn Khi làm bài NLVH các em đã được trang
bị kiến thức từ những tiết đọc hiểu văn bản, còn văn NLXH học sinh gặp không
ít khó khăn cả về nội dung và phương pháp Trước đây học sinh đang quen vớiviệc viết bài văn NLXH bằng các thao tác lập luận cần thiết, nay với yêu cầu đổimới viết một đoạn văn, học sinh sẽ có những lúng túng, bỡ ngỡ Với học sinhviệc viết một bài văn NLXH đã khó, nay phải viết đoạn NLXH lại càng khóhơn Đây quả là một thử thách đối với học sinh THPT
Là một giáo viên Ngữ Văn đang trực tiếp giảng dạy khối 12, chúng ta phảilàm gì để giúp học sinh có được kĩ năng cần thiết viết đoạn văn NLXH một cáchtốt nhất Nỗi băn khoăn, sự trăn trở và suy nghĩ của tôi cũng là của tất cả giáoviên Ngữ văn THPT mong muốn học sinh tiếp cận vấn đề, giải quyết vấn đề đặt
ra và viết tốt đoạn NLXH để làm bài thi TNTHPT đạt hiệu quả cao.Từ đó bồidưỡng cho các em lòng yêu thích và niềm đam mê học môn Ngữ văn, giúp các
em hiểu đời hiểu người, có đời sống tình cảm tâm hồn thêm phong phú và hình
Trang 5thành được kĩ năng sống cần thiết Đồng thời những vấn đề đặt ra từ đề bài vănNLXH góp phần thực hiện mục đích giáo dục hoàn thiện nhân cách cho học sinhgiúp các em có thêm tri thức để bước vào đời.
Với đề tài “Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn NLXH (khoảng 200 chữ)
cho học sinh THPT”, người viết muốn chia sẻ với đồng nghiệp phương pháp dạy
học sinh viết đúng, viết nhanh, viết hay một đoạn văn NLXH nhằm đạt được sốđiểm tối đa như một cách các em chinh phục bản thân và qua bài viết chúng ta cóthể đánh giá phần nào về nhận thức, hiểu biết, tâm lí, mục đích sống, các kĩ năng(trong đó có kĩ năng viết văn) và thái độ với môn Ngữ văn của học sinh hiện nay.Cần thay đổi cách nghĩ và khoa học hóa cách làm Thực chất với một yêu cầumới, cả người dạy và người học đều cần chuẩn bị về tâm lí, kĩ năng phù hợp để có
sự thích nghi tốt nhất và hoàn toàn có thể định lượng về mặt thời gian, dunglượng kiến thức, số lượng dòng cho bài làm Đó là lí do mà tôi chọn đề tài này
1.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của tôi nghiên cứu đề tài này nhằm giúp học sinh vận dụng hiểu biếtkiến thức xã hội để làm văn NLXH, có kĩ năng viết đoạn văn NLXH nhằm đápứng yêu cầu việc đổi mới kiểm tra đánh giá của bộ GD và ĐT
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu mang tính thực tế cao, nhằm đưa ra cách viết một
đoạn văn NLXH khoa học, hiệu quả, có thể áp dụng rộng rãi cho giáo viên và
học sinh trong dạy, học, thi môn Ngữ văn
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Ở đề tài này, người viết đã vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp nghiêncứu nhằm phát huy hiệu quả tổng hợp ưu thế của các phương pháp Trong đócác phương pháp được sử dụng chủ yếu là:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin (từ các nguồntài liệu ôn thi, các đề thi thử nghiệm, các đề thi thử của các trường THPT, các đề
Trang 6thi học sinh giỏi của các tỉnh và khu vực, các báo cáo, luận văn của sinh viên,thạc sĩ,…).
- Phương pháp tâm lí
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thử nghiệm thực tiễn
1.5 Những điểm mới của SKKN
*Tính mục đích: Đề tài đã giải quyết được những mâu thuẫn, những khó
khăn gì có tính chất thời sự trong công tác giảng dạy, giáo dục học sinh Tác giảviết SKKN nhằm mục đích gì? ( nâng cao nghiệp vụ công tác của bản thân, đểtrao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp, để tham gia nghiên cứu khoa học… )
*Tính thực tiễn :Tác giả trình bày được những sự kiện đã diễn ra trong thực
tiễn công tác giảng dạy, giáo dục của mình Những kết luận được rút ra trong đềtài phải là sự khái quát hóa từ những sự thực phong phú, những họat động cụ thể
đã tiến hành (cần tránh việc sao chép sách vở mang tính lý thuyết đơn thuần,thiếu tính thực tiễn)
*Tính sáng tạo khoa học: Trình bày được cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn làm
chỗ dựa cho việc giải quyết vấn đề đã nêu ra trong đề tài Trình bày một cách rõ ràng, mạch lạc các bước tiến hành trong SKKN Các phương pháp tiến hành mới
mẻ, độc đáo Dẫn chứng các tư liệu, số liệu và kết quả chính xác làm nổi bật tác
dụng, hiệu quả của SKKN đã áp dụng Tính khoa học của một đề tài SKKNđược thể hiện cả trong nội dung lẫn hình thức trình bày đề tài cho nên khi viếtSKKN, tác giả cần chú ý cả hai điểm này
*Khả năng vận dụng và mở rộng SKKN: Trình bày, làm rõ hiệu quả khi áp
dụng SKKN ( có dẫn chứng các kết quả,các số liệu để so sánh hiệu quả của cáchlàm mới so với cách làm cũ ); Chỉ ra được những điều kiện căn bản, những bàihọc kinh nghiệm để áp dụng có hiệu quả SKKN, đồng thời phân tích cho thấytriển vọng trong việc vận dụng và phát triển SKKN đã trình bày (Đề tài có thểvận dụng trong phạm vi nào? Có thể mở rộng, phát triển đề tài như thế nào? )
Trang 72 Nội dung
2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Vai trò, vị trí của văn NLXH
* Trong đời sống
NLXH được ứng dụng rộng rãi trong đời sống, các bài bình luận về xã hội,
về một hiện tượng một vấn đề, thuộc lĩnh vực chính trị xã hội, văn hóa, kinh tế
Dù tồn tại ở dang nói hay dang viết thì nó luôn có vai trò và vị trí quan trọngtrong đời sống xã hội Nó giúp con người nhìn nhận một cách đầy đủ cập nhậtkhách quan các vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày
* Trong nhà trường THPT
Trong chương trình Ngữ văn THPT phần Làm văn nghị luận xã hội đượcđặc biệt quan tâm Ngay từ lớp 11 hoc sinh được thực hành khá kĩ, ở lớp 12 họcsinh còn được học hai bài lí thuyết: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí và mộthiện tượng đời sống Ngoài ra học sinh còn được thực hành viết khá nhiều, ở cácbài thi học kì, các kì thi khảo sát chất lượng và ra các đề cho học sinh luyện tập.Như vậy ta thấy rằng NLXH có vị trí rất quan trọng trong nhà trường, ở đó họcsinh không chỉ được tiếp cận các dạng NLXH, mà còn được thực hành tạo lậpvăn bản, giúp các em hoàn thiện kiến thức và kĩ năng làm văn
2.1.2.Những thay đổi của văn NLXH trong đề thi hiện nay
Với những đổi mới của đề thi TNTHPT từ năm 2017 do Bộ GD và ĐT ban
hành thì cấu trúc đề thi Ngữ văn có sự thay đổi: Thời gian làm bài thi từ 180phút nay xuống còn 120 phút Câu NLXH 3 điểm viết bài văn nay viết một đoạnvăn khoảng 200 chữ Câu đọc hiểu và NLXH có sự tích hợp theo hướng vậndụng cao, điều này gây không ít khó khăn cho học sinh Nhiều em đã quen vớiviệc viết bài văn NLXH nên sẽ rất lúng túng khi đề bài yêu cầu viết đoạn vănNLXH, dẫn đến tình trạng viết lan man, viết xa đề bài
Với SKKN, bản thân tôi muốn rèn cho học sinh kĩ năng viết đoạn vănNLXH (khoảng 200 chữ) để bài thi tốt nghiệp THPT của các em đạt kết quả cao
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi viết sáng kiến
Trang 82.2.1 Thuận lợi
Bắt đầu từ khi đổi mới chương trình thay sách giáo khoa (2006-2007), các
bộ sách giáo khoa, sách giáo viên đã in ấn kịp thời, các phương tiện truyềnthông như báo, đài, internet,… rộng khắp đã giúp học sinh chủ động, hứng thúhơn trong việc học tập Ngữ Văn Hiện nay với sự phát triển của đời sống xã hộithì NLXH đóng vai trò quan trọng Cái hay của dạng văn này là học sinh khôngphải học thuộc làm bài, không phụ thuộc tài liệu mà được tự do trình bày suynghĩ, quan điểm của bản thân về một vấn đề cụ thể, từ đó rút ra những bài họcnhận thức và hành động Vì vậy học sinh cũng có hứng thú hơn khi làm bàiNLXH
2.2.2 Khó khăn
Bài NLXH đóng vai trò, vị trí quan trọng, học sinh cũng được rèn luyện
nhiều nhưng kết quả bài làm của học sinh chưa thực sự tốt Điều này có nhiềunguyên nhân
+ Nhận thức và sự đánh giá nhìn nhận vấn đề của các em còn hạn chế, chưatoàn diện, chưa có sự suy nghĩ sâu
+ Viêc tìm hiểu văn NLXH trong nhà trường còn hạn chế Các bài vănNLXH học sinh viết được ít, trong giảng dạy giáo viên chỉ chủ yếu rèn cho họcsinh kĩ năng làm bài NLVH vì liên quan trực tiếp đến các tác phẩm trongchương trình Vì thế học sinh còn mơ hồ về phương pháp làm bài văn NLXH.Viết một bài nghị luân tốt với các em đã khó nay phải viết đoạn văn NLXH thìlại càng khó hơn
2.3.Các giải pháp cụ thể
2.3.1.Kiểu bài NLXH
NLXH thực chất là một phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực:
Chính trị, đạo đức, xã hội là nội dung bàn bạc nhằm làm sang tỏ cái đúng, sai,tốt, xấu của vấn đề nêu ra Từ đó đưa ra những cách hiểu thấu đáo về vấn đềnghị luận cũng như vận dụng nó vào đời sống Cùng với kiểu bài NLVH thì kiểubài NLXH là nội dung cần thiết trong quá trình học và thi của học sinh Thông
Trang 9thường sẽ có hai loại chính: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí và nghị luận vềmột hiện tượng xã hội Ngoài ra còn loại nghị luận về một vấn đề xã hội rút ratrong tác phẩm văn học.
2.3.1.1.Nghị luân về tư tưởng đạo lí
*Kĩ năng làm bài
- Tìm hiểu đề:
Đọc kĩ đề bài, chú ý những từ quan trọng, những khái niệm, nghĩa đen, nghĩabóng, chia vế ngăn đoạn
Nội dung: Vấn đề nghị luận là gì? Có bao nhiêu ý, các ý cần triển khai
Thao tác lập luân: Sử dụng các thao tác lập luận nào, giải thích, phân tích,bình luận, chứng minh
Phạm vi tư liệu dẫn chứng: Dẫn chứng từ thực tế, từ tác phẩm văn học
Khẳng định ý nghĩa của vấn đề trong lí luận về đời sống thực tiễn
Liên hệ bản thân, rút ra bài học nhận thức và hành động
2.3.1.2.Nghị luận về một hiện tượng đời sống
*Khái niệm
Nghị luận về hiện tượng đời sống là bài nghị luận có sử dụng các thao táclập luận để làm người đọc hiểu rõ, đúng, hiểu sâu về những hiện tượng đời sống
Trang 10có ý nghĩa xã hội Có các dạng như sau: Nghị luận về hiện tượng liên quan đếnmôi trường sống tự nhiên của con người; Nghị luận về một hiện tương liên quanđến môi trường sống xã hội; Nghị luận về một sự việc tích cực đáng biểu dươnghoặc tiêu cực đáng phê phán.
*Kĩ năng làm bài
- Tìm hiểu đề
Đọc kĩ đề bài, chú ý những từ quan trọng, những khái niệm, nghĩa đen, nghĩabóng, chia vế ngăn đoạn, mối tương quan giữa các vế; Về nội dung: Vấn đề nghịluận là gì? Có bao nhiêu ý, các ý cần triển khai, ;Thao tác lập luận; Sử dụngcác thao tác lập luận nào, giải thích, phân tích, bình luận, chứng minh; Phạm vi
tư liệu, dẫn chứng: Dẫn chứng từ thực tế, từ tác phẩm văn học
- Lập dàn ý
Giải thích, phân tích, chứng minh biểu hiện nguyên nhân và hậu quả của sựviệc, hiện tượng; Bình luận về hiện tượng: Nhận xét, nêu thái độ về hiện tượng.Đánh giá hiện tượng tốt, xấu, lợi, hại như thế nào? Phương hướng hành động;Rút ra bài học tư tưởng đạo lí; Xây dựng hệ thống dẫn chứng tiêu biểu
Xác định đoạn văn sẽ viết theo kiểu nào (diễn dịch, quy nạp hay tổng - phân
- hợp)
2.3.2 Khái lược về đoạn văn
Đoạn văn là một phần của văn bản, nó diễn đạt một ý hoàn chỉnh Các câutrong đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau, góp phần thể hiện nội dung Đoạn vănđược bắt đầu bằng chữ cái viết hoa lùi đầu dòng và kết thúc bằng dấu chấmxuống dòng Các loại đoạn văn: đoạn văn diễn dịch, quy nạp, móc xích, songhành, tổng phân hợp
2.3.3 Kĩ năng viết đoạn văn NLXH
Để làm tốt câu NLXH, học sinh cần chú ý các bước sau:
*Bước 1:
Đọc kĩ bài đọc hiểu, nắm được nội dung cốt lõi của đoạn văn bản Xácđịnh xem phần đọc hiểu bàn về vấn đề gì nhất là phải xác định được vấn đề đó
Trang 11thuộc tư tưởng đạo lí hay hiện tượng đời sống; Xác định được các thao tác lậpluận Xác định hệ thống dẫn chứng tiêu biểu Xác định đoạn văn sẽ viết theokiểu nào (diễn dịch, quy nạp, hay tổng phân hợp)
Ví dụ: Đọc đoạn đọc hiểu sau: Những người dễ thoát khỏi những suy nghĩ tiêu cực cũng chính là biết chấp nhận cuộc sống của bản thân Mỗi người chúng
ta đều đều có những điểm mạnh, điểm yếu riêng, bởi vậy khi so sánh bản thân với người khác, chúng ta không chỉ“ thấy khoảng cách” giữa mọi người mà còn thấy được “sự khác biệt” trong mỗi người.
Tự bản thân nghĩ như thế nào về mình được gọi là “tự đánh giá bản thân” Khi một người đánh giá thấp bản thân, anh ta sẽ tự giày vò bản thân bớt cảm giác tự ti, chán ghét chính mình và chỉ nhìn mọi chuyện theo hướng tiêu cực Cũng có nhiều trường hợp so sánh điểm mạnh của người khác với điểm yếu của bản thân, sau đó tự giam mình trong cảm giác tự ti, mặc cảm Ngược lại, nếu một người biết đánh giá bản thân phù hợp, dù gặp thất bại thì người đó vẫn tiếp tục hi vọng vào lần sau, tiếp thu thất bại lần này và học hỏi kinh nghiệm trong đó.
Tôi có một người quen, anh là một người học rất giỏi, thời đại học anh đi
làm người mẫu Nhìn bề ngoài, anh hoàn hảo đến mức mọi người phải ghen tị, nhưng thực ra anh ấy lại tự đánh giá thấp bản thân Ngay từ nhỏ anh ấy thường
bị bố mẹ so sánh với người khác, bản thân cũng chỉ là kẻ nửa vời mà thôi… chính vì vậy, việc tự đánh giá bản thân ở mức thích hợp là điều quan trọng nhất.
Câu nghị luận xã hội được cho là: Hãy viết một đoạn văn (200 chữ) trình
bày suy nghĩ của anh, chị về “việc tự đánh giá bản thân ở mức thích hợp là điềuquan trọng nhất”
Như vậy phần NLXH được tích hợp trong phần đọc hiểu Vậy để làm tốtphần NLXH, học sinh phải đọc kĩ phần đọc hiểu để hiểu được câu trên nằmtrong một chỉnh thể mà ở đó tác giả đã dạy chúng ta về việc tự đánh giá bản thân
ở mức độ thích hợp là một điều quan trọng
*Bước hai: Xây dựng phần mở đoạn
Trang 12Phần mở đoạn viết khoảng 1-3 câu, thể hiện cái nhìn tổng quát, khái quátđược nội dung vấn đề cần nghị luận mà đề bài yêu cầu Nên viết theo hướng:Nêu khái quát nội dung - dẫn câu nói vào (hoặc trích cụm từ khóa) Ví dụ theo
đề trên ta viết như sau: Nó giúp mỗi người pháp huy được năng lực, sở trường
và khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, ngày càng tự hoàn thiện mình; Giúpchúng ta có một tâm lí thoải mái, vui vẻ, hài lòng với cuộc sống của mình, tránh
tự ti mặc cảm Giúp chúng ta có một cái nhìn tích cực về mọi vấn đề trong cuộcsống: Chấp nhận sự khác biệt của mình và những người khác, nhìn thấy gía trịriêng của mỗi người, nhìn thấy hi vọng trong thất bại
*Bước 3: Xây dựng phần thân đoạn
Đối với đề nghị luận về tư tưởng đạo lí: Phải giải thích được cụm từ khóa,giải thích được cả câu (cần ngắn gọn, đơn giản)
Bàn luận :
Đặt ra các câu hỏi: Vì sao lại khẳng định như vậy? Có ý nghĩa như thế nào?Khẳng định tính đúng đắn của ý kiến Dẫn chứng xác thực, phù hợp Đưa raphản đề, phê phán mặt trái của ý kiến Rút ra bài học nhận thức và hành động,liên hệ bản thân
Đối với đề nghị luân về hiện tượng đời sống Giải thích, phân tích, chứngminh biểu hiện, nguyên nhân và hậu quả của sự việc, hiện tượng Bình luận,đánh giá về hiện tượng: Nêu thái độ đối với hiện tượng Đánh giá hiện tượng tốt,xấu, lợi, hại như thế nào? Phương hướng, hành động Rút ra bài học nhân thức
về tư tưởng đạo lí
*Bước 4: Xây dựng phần thân đoạn
Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận Có thể trình bày bài học nhận thứchành động, liên hệ bản thân ở phần kết đoạn
*Bước 5: Viết đoạn văn
“Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản Trong nhiều trường hợp đoạnvăn có khả năng tồn tại độc lập giống như một văn bản bởi xét về mặt nội dung,đoạn văn diễn đạt một ý tương đối trọn vẹn; xét về mặt hình thức, đoạn văn là