Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân tính năng động và sáng tạo, hì
Trang 11 Mở đầu 1.1 Lí do chọn đề tài.
Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt nam xã hội chủ nghĩa.Muốn đào tạo con người tự chủ, năng động và sáng tạo thì phương pháp giáo dục cũng phải hướng vào việc khơi dậy lòng ham muốn hiểu biết của học sinh.Việc sử dụng phương pháp dạy học đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả dạy học, phát huy được tính tích cực, tự giác chủ động của học sinh, rèn luyện khả năng dự đoán, tư duy nhằm phát triển năng lực cho học sinh là điều cấp thiết Trong quá trình dạy học nói chung , dạy học Hóa học nói riêng, thí nghiệm giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong nhận thức, phát triển, giáo dục như một bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy-học Thí nghiệm giúp học sinh làm quen với tính chất, mối liên hệ và quan hệ có quy luật giữa các đối tượng nghiên cứu Làm cơ sở để nắm vững các quy luật , các khái niệm khoa học và biết khai thác chúng.Thí nghiệm còn giúp học sinh sáng tỏ mối quan hệ phát sinh giữa các sự vật, giải thích được bản chất của các quá trình xảy ra trong tự nhiên, sản xuất và đời sống.Thông qua việc quan sát và tiến hành thí nghiệm, học sinh nắm kiến thức sâu sắc và bền vững hơn đồng thời cũng có hứng thú sạy mê hơn trong học tập, phát triển tư duy sáng tạo, hình thành năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề thông qua thí nghiệm nêu vấn đề
Vì lý do trên tôi chọn đề tài “ Sử dụng thí nghiệm nêu vấn đề nhằm kích thích hứng thú học tập và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh qua một số bài hóa hữu cơ-Lớp 11-Chương trình chuẩn”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt trong các bài hóa hữu cơ lớp 11-chương trình chuẩn để lựa chọn các thí nghiệm tạo tình huống có vấn đề nhằm lôi cuốn sự chú ý của học sinh Từ đó học sinh muốn nghiên cứu tìm ra nguyên nhân đó Tức là buộc học sinh phải huy động kiến thức , suy luận để giải quyết vấn đề mà mình quan sát được.Tạo hứng thú trong học tập cho học sinh trong giờ hóa học
- Xây dựng các câu hỏi nêu vấn đề khi sử dụng thí nghiệm
- Thiết kế một giáo án có sử dụng thí nghiệm nêu vấn đề
- Xây dựng bài kiểm tra 15 phút và 1 tiết để đánh giá mức độ tiếp thu kiến thức của học sinh sau khi học xong các bài về hóa hữu cơ
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
- Nghiên cứu quá trình dạy và học môn hóa học lớp 11-chương trình chuẩn ở trường THPT Lam Kinh
- Nghiên cứu các phương pháp dạy học tích cực
- Nghiên cứu hệ thống thí nghiệm trong các bài về hóa hữu cơ
- Nghiên cứu cách sử dụng thí nghiệm sao cho phát huy tính chủ động, sáng tạo
và phát triển tư duy cho học sinh một cách cao nhất
- Kỹ năng thực hành thí nghiệm của học sinh trường THPT Lam Kinh
Trang 21.4 Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài về phương pháp dạy học nêu vấn
đề và thí nghiệm nêu vấn đề trong dạy học hóa học
- Tìm hiểu thực trạng của việc dạy học có sử dụng thí nghiệm ở trường THPT Lam Kinh
- Nghiên cứu chương trình, nội dung kiến thức các bài về hóa hữu cơ
- Đưa ra một số thí nghiệm nêu vấn đề phù hợp với một số bài anken, ankin, benzen, ancol và anđehit có chú ý để thí nghiệm thành công
- Thực nghiệm sư phạm với 2 lớp giảng dạy
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
Sáng kiến kinh nghiệm đã lựa chọn các thí nghiệm trong một số bài về hiđrocacbon, ancol, phenol và anđehit để tạo ra các tình huống có vấn đề Thông qua hiện tượng quan sát được và các kiến thức đã biết, HS phát hiện ra mâu thuẫn Từ đó HS suy luận, giả thuyết các tình huống để nhận xét và kết luận Hiện tượng thí nghiệm làm tăng thêm tính tò mò, phám phá khoa học của HS, làm khắc sâu kiến thức và kích thích hứng thú học tập của HS, giúp phát triển các năng lực cho HS trong các giờ học Hóa.Rèn luyện các thao tác thí nghiệm
an toàn và trên cơ sở kiến thức đã học các em biết giải quyết các tình huống thực tiễn
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
-Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học trong đó GV tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác Đặc trưng cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là "tình huống gợi vấn đề" vì "Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề" (Rubinstein)
- Có 3 kiểu xây dựng tình huống có vấn đề đó là: tình huồng nghịch lí- bế tắc, tình huống lựa chọn, tình huống nhân quả
- Trong dạy học nêu vấn đề không chỉ coi trọng việc truyền thụ kiến thức mà còn coi trọng cả việc hướng dẫn học sinh độc lập tìm ra con đường dẫn đến kiến thức mới, nghĩa là phải dạy cho học sinh biết tư duy một cách logic, khoa học và sáng tạo Ở một mức độ nhất định học sinh phải như là “Người nghiên cứu” đang tìm cách giải quyết vấn đề học tập nảy sinh ra từ các tình huống có vấn đề Muốn vậy trong quá trình giải quyết vấn đề học tập, giáo viên đóng vai trò là người dẫn đường tổ chức hoạt động tìm tòi của học sinh, giúp học sinh đánh giá các giả thuyết, giảm nhẹ khó khăn để học sinh giải quyết được nhanh chóng Vai trò của giáo viên không chỉ dừng lại ở việc nói cái gì, mà quan trọng hơn là phải
tổ chức các hoạt động một cách tuần tự để tìm ra vấn đề, sau đó tìm ra con đường giải quyết vấn đề đó Và cái cuối cùng là giúp học sinh phát hiện ra vấn
đề và sau đó cũng tự tìm ra vấn đề và năng lực giải quyết vấn đề không những trong học tập mà cả trong cuộc sống, sản xuất và nghề nghiệp
Trang 3“Thí nghiệm và phương tiện trực quan là mô hình hiện đại cho hiện thực khách quan, là cơ sở, điểm xuất phát cho quá trình học tập, nhận thức của học sinh Từ đây xuất phát quá trình nhận thức cảm tính, để rồi sau đó diễn ra sự trừu tượng hoá và sự tiến lên từ trừu tượng đến cụ thể tư duy”
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Hiện nay trong quá trình dạy học hóa học ở trường THPT, giáo viên đã đổi mới phương pháp dạy học dưới nhiều hình thức khác nhau như: dạy học nêu vấn đề theo phương pháp đàm thoại, sử dụng công nghệ thông tin, sử dụng thí nghiệm trình chiếu hoặc sử dụng các thí nghiệm biểu diễn để kiểm chứng các tính chất,
….Tuy nhiên với những kiến thức cần khắc sâu và phát triển tư duy cho học sinh thì việc sử dụng thí nghiệm tạo tình huống có vấn đề không nhiều Mặt khác năng lực của phụ tá thí nghiệm còn hạn chế, hóa chất trong phòng thí nghiệm còn thiếu hoặc đã hết hạn sử dụng nên việc làm thí nghiệm nhiều khi không thành công Vì vậy nhiều giáo viện còn ngại khi chuẩn bị thí nghiệm
Từ năm 2016 đến nay, bản thân tôi đã áp dụng thí nghiệm nêu vấn đề trong các chương oxi, lưu huỳnh, chương nitơ-photpho tôi thấy thành công rõ rệt nên năm học này tôi tiếp tục áp dụng với các thí nghiệm hữu cơ, mặc dù hóa chất còn hạn chế và thí nghiệm hóa hữu cơ khó thành công
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1.Lựa chọn các thí nghiệm nêu vấn đề trong các bài dạy về Hiđrocacbon
Khi dạy bài anken có thể lựa chọn thí nghiệm sau:
TN1: Hex-2-en tác dụng với dung dịch brom.
*Mục đích của thí nghiệm:HS hiểu được tại sao hex-2-en tác dụng được với dung dịch brom và cách nhận biết hex-2-en nói riêng và anken nói chung
* Dụng cụ và hóa chất: Ống nghiệm dung dịch brom, hex-2-en lỏng
*GV tiến hành thí nghiệm: Cho 0,2 ml hex-2-en vào ống nghiệm chứa 2 ml nước brom Lắc kĩ rồi để yên
*GV yêu cầu HS quan sát hiện tượng , đồng thời đưa ra các câu hỏi nhằm kích thích sự tò mò, tập trung chú ý của HS:
? Tại sao dung dịch brom nhạt màu dần và mất màu?
? Tại sao có sự phân lớp sau phản ứng? Lớp chất lỏng phía trên là gì?Chất lỏng phía dưới là gì?
? Khối lượng bình đựng dung dịch brom tăng hay giảm sau phản ứng?Tại sao? Khối lượng tăng hay giảm đó là khối lượng của chất nào?
? Hex-2-en tác dụng với dung dịch Br2 theo tỉ lệ mol bao nhiêu? Tại sao có tỉ lệ đó?
Ngoài ra còn yêu cầu các em tìm tòi, mở rộng qua các câu hỏi của GV như:
? Nếu thay dung dịch brom trong nước trên bằng dung dịch brom/CCl4 thì có hiện tượng đó không?
? Có dùng dung dịch brom để phân biệt ankan và anken không?
? Nếu thay hex-2-en bằng khí etilen thì có hiện tượng trên không? Khối lượng bình đựng dung dịch brom tăng có phải khối lượng etilen đã cho vào?
Trang 4- Từ hiện tương quan sát được, HS buộc phải suy nghĩ chất nào được tạo ra? Chất này sẽ không có màu và không tan trong nước nên mới có sự phân lớp HS nhớ lại phản ứng của etilen với Br2 ở lớp 9 và hiện tượng quan sát được, liên hệ
để giải thích: Chất được tạo ra là CH3-CHBr-CHBr-CH2-CH2-CH3 Chất này không có màu và là chất không có cực nên không tan trong nước và có sự phân lớp
- Vì hex-2-en hấp thụ trong dung dịch brom nên khối lượng dung dịch brom tăng chính là khối lượng của hex-2-en đã cho vào
Còn nếu thay hex-2-en bằng khí etilen thì khối lượng bình đựng dung dịch brom tăng chính là khối lượng etilen phản ứng ( chứ chưa chắc đã bằng khối lượng etilen cho vào vì có thể etilen dư sẽ bay ra)
- HS vận dụng kiến thức về chất phân cực tan trong dung môi phân cực và chất không phân cực tan tốt trong dung môi không phân cực để giải thích có sự giống
và khác nhau giữa 2 thí nghiệm: Hex-2-en+ Br2/H2O và Hex-2-en + Br2/CCl4
TN2 : Điều chế etilen trong phòng thí nghiệm.
* Mục đích của thí nghiệm:
Học sinh biết cách điều chế etilen trong phòng thí nghiệm và cách thu khí etilen
* Dụng cụ và hóa chất: Giá đỡ ống nghiệm, ống nghiệm, nút cao su, ống dẫn khí, 2 ống nghiệm sạch, đèn cồn, chậu thủy tinh đựng nước, cát sạch hoặc đá bọt Dung dịch H2SO4 đặc, C2H5OH( 960), dung dịch Ca(OH)2, dung dịch Br2
* GV nêu cách tiến hành thí nghiệm: Cho vào ống nghiệm khô 2 ml dung dịch
C2H5OH, nhỏ tiếp một cách cẩn thận từng giọt 4 ml H2SO4 đặc, lắc đều Thêm ít cát dã rửa sạch vào Đậy ống nghiệm bằng nút cao su có kèm ống dẫn khí Kẹp ống nghiệm trên giá thí nghiệm sao cho đầu ống dẫn khí nhúng trong 1 chậu đựng nước Phía trên là một ống nghiệm đựng đầy nước
Sau đó GV thay chậu thủy tinh đựng nước bằng chậu đựng dung dịch nước vôi trong và vẫn dẫn khí etilen vào 1 ống nghiệm khác
Sau khi đầy ống nghiệm 1, GV sục khí vào dung dịch brom
* GV yêu cầu HS quan sát hiện tượng đồng thời yêu cầu HS trả lời câu hỏi:
? Sản phẩm sinh ra sau phản ứng là chất nào mà làm nhạt màu dung dịch brom?
? Tại sao phải cho đầy nước vào ống nghiệm sau đó mới đưa vào miệng của ống dẫn khí?
? Tại sao có thể thu khí etilen bằng cách đẩy nước?Có thể thu etilen bằng cách đẩy không khí được không? Vì sao?
? Tại sao chậu đựng nước vôi trong có vẩn đục màu trắng?
? Ngoài khí etilen sinh ra còn có khí nào nữa? Vì sao khí này cũng được sinh ra khi đun nóng hỗn hợp C2H5OH + H2SO4 đặc?Khí etilen điều chế như trên có tinh khiết không? Vậy làm sao để thu được etilen tinh khiết?
? Cát sạch có tác dụng gì trong thí nghiệm này?
- HS thấy nước brom nhạt màu sẽ dự đoán có etilen sinh ra Phải cho đầy nước vào ống nghiệm trước khi dẫn khí etilen vào để khí sinh ra không lân không khí
Trang 5- Vì etilen không tan trong nước nên thu etilen bằng cách đẩy nước
- Chậu đựng vôi trong vẩn đục vì có khí CO2 hoặc SO2 hoặc cả 2 khí này có sinh
ra trong quá trình phản ứng
- Để thu được etilen tinh khiết cần dẫn hỗn hợp khí qua dung dịch nước vôi trong để hấp thụ hết CO2 và SO2
Như vậy, thí nghiệm có sự khác nhau khi thu khí etilen qua dung dịch Ca(OH)2
và nước nguyên chất nên kích thích sự tò mò và suy nghĩ của học sinh
Khi dạy bài Ankin, có thể lựa chọn thí nghiệm sau:
Thí nghiệm: Điều chế axetilen trong phòng thí nghiệm và nhận biết axetilen.
*Mục đích của thí nghiệm:
HS biết cách điều chế axetilen trong phòng thí nghiệm và cách nhận biết axetilen
* Dụng cụ và hóa chất: Bình cầu có nhánh và có giá đỡ, nút cao su,ống dẫn khí, ống nghiệm, chậu thủy tinh đựng nước Đất đèn CaC2, H2O, dung dịch brom, dung dịch KMnO4, dung dịch AgNO3, dung dịch NH3
*GV tiến hành thí nghiệm:
- Lấy khoảng 2 ml dung dịch brom vào ống nghiệm thứ 1 và 2 ml dung dịch KMnO4 vào ống nghiệm thứ 2
- Cho 2 ml dung dịch AgNO3 vào ống nghiệm thứ 3, sau đó cho từ từ dung dịch
NH3 vào đến khi tạo dung dịch trong suốt
- Lắp dụng cụ như hình vẽ
- Cho một ít CaC2 vào bình cầu, sau đó mở khóa để nước chảy xuống bình cầu Dẫn khí C2H2 bằng cách đẩy nước
- Sau đó dẫn khí C2H2 lần lượt vào dung dịch brom, dung dịch KMnO4, dung dịch AgNO3/NH3
* GV yêu cầu HS quan sát hiện tượng đồng thời yêu cầu HS trả lời câu hỏi:
? Khí tạo ra trong ống nghiệm là gì mà lại làm nhạt màu dd brom, dung dịch KMnO4?Đó có phải là C2H4 không/(C2H4 cũng làm nhạt màu 2 dung dịch này)
? Tại sao C2H2 cũng làm nhạt màu dung dịch brom và dung dịch thuốc tím? C2H2 tác dụng với brom với lượng tối đa theo tỉ lệ mol bao nhiêu?
? Tại sao có chất kết tủa màu vàng xuát hiện ở dung dịch AgNO3/NH3?
Hiện tượng trên yêu cầu HS phải tư duy để giải thích được chất tạo ra trong thí nghiệm là axetilen Chất này không chỉ làm nhạt màu dung dịch brom và dung dịch KMnO4 ( tương tự C2H4) mà còn tạo kết tủa vàng nhạt với dung dịch AgNO3/NH3(C2H4 không có phản ứng này)
GV có thể đặt thêm các câu hỏi để các em tìm tòi và mở rộng:
?C2H2 là chất khí không màu nhưng trong thí nghiệm trên, ta thấy có mùi khó chịu? Khí nào đã gây ra mùi khó chịu đó?
?Để làm sạch C2H2 phải dùng hóa chất nào?
? C2H2 có tác dụng với nước ở điều kiện thường không? Từ đó suy luận có thể thu khí axetilen theo phương pháp đẩy nước.
Khi dạy bài benzen và đồng đẳng có thể chọn TN
Thí nghiệm: Tính chất vật lí của benzen.
Trang 6*Mục đích của thí nghiệm:
HS biết được một số tính chất vật lí của benzen và hiểu được tại sao benzen không tan trong nước nhưng lại hòa tan một số chât hữu cơ và I2,S,
* Dụng cụ và hóa chất: 2 ống nghiệm, kẹp ống nghiệm, benzen, dung dịch Br2, dung dịch I2, nước
*Cách tiến hành: Cho vào 3 ống nghiệm
- Ống nghiệm 1: 2ml nước+ 1 ml benzen.Lắc đều rồi để yên
- Ống nghiệm 2: 2m dung dịch I2(trong nước) + 1 ml benzen Lắc đều rồi để yên
GV yêu cầu HS quan sát hiện tượng và trả lời câu hỏi
? Benzen có tan trong nước không? Trong ống nghiệm 1 có mấy lớp chất lỏng?
? Ở ống nghiệm thứ 2 có phản ứng hóa học xảy ra không? Chất màu đỏ tím là chất gì?
2.3.2.Lựa chọn các thí nghiệm nêu vấn đề trong các bài dạy về ancol, phenol
và anđehit
Khi dạy bài Ancol có thể lựa chọn thí nghiệm sau:
Thí nghiệm1: C2H5OH và C3H5(OH)3 lần lượt tác dụng với Na
* Mục đích của thí nghiệm:
HS biết glixerol và etanol tác dụng với kim loại kiềm Na giải phóng khí hidro
và hiểu được glixerol và etanol tác dụng vì cả hai chất đều có nguyên tử hidro linh động ( nguyên tử H trong nhóm –OH) Từ đó HS suy luận được những chất
có nhóm –OH đều tác dụng với kim loại kiềm
*Dụng cụ và hóa chất: 2 ống nghiệm, kẹp gỗ, glixerol, etanol, Na
* GV hướng dẫn HS tiến hành thí nghiệm: Cho vào mỗi ống nghiệm 2ml etanol hoặc glixerol Sau đó cắt một mẩu nhỏ Na cho vào từng ống nghiệm Quan sát hiện tượng xảy ra và trả lời câu hỏi
?Nêu hiện tượng quan sát được? Tại sao glixerol và etanol đều có hiện tượng trên? Dung dịch thu được sau phản ứng thuộc loại gì ? Axit, bazơ hay muối? Gọi tên của chất tạo thành?
? Khối lượng ống nghiệm đựng etanol hay glixerol tăng hay giảm sau phản ứng hoàn toàn ?
Từ hiện tượng có khí bay ra ở cả hai ống nghiệm, HS suy luận cả hai chất đều tác dụng với Na và từ đó khái quát được các hợp chất có nhóm –OH đều tác dụng với kim loại kiềm giải phóng H2
Dựa vào phương trình hóa học HS suy luận : Khối lượng ống nghiệm đựng ancol tăng =khối lượng Na – khối lượng H2
GV có thể đặt thêm các câu hỏi để các em tìm tòi và mở rộng:
? Nếu thay bằng dung dịch glixerol hay dung dịch etanol thì có hiện tượng trên không? Dung dịch thu được sau phản ứng là gì? Cô cạn dung dịch sau phản ứng có thu được chất rắn không?
Nếu cho nước vào chất rắn khan đó rồi cho mẩu quỳ tím vào thì có hiện tượng
gì không? Tai sao lại có hiện tượng đó?
Thí nghiệm2: C2H5OH và C3H5(OH)3 lần lượt tác dụng với Cu(OH)2
* Mục đích của thí nghiệm:
Trang 7HS biết glixerol hòa tan Cu(OH)2 và hiểu được tại sao glixerol phản ứng còn ancol etylic thì không Từ đó biết cách phân biệt ancol đơn chứa với glixerol và với các ancol có từ 2 nhóm chức kề nhau trở lên
*Dụng cụ và hóa chất: 2 ống nghiệm, kẹp gỗ, dung dịch NaOH, dung dịch CuSO4, glixerol, ancol etylic
Trước khi tiến hành thí nghiệm, GV đã phân tích để HS hiểu được liên kết O-H phân cực về phía oxi, tuy nhiên sự phân cực này yếu nên ancol có tính axit rất yếu, chỉ phản ứng với kim loại kiềm, không phản ứng được với kiềm Glixerol cũng là một ancol có các nhóm -OH, theo logic thì HS sẽ suy ra glixerol không phản ứng với Cu(OH)2 Vậy có hiện tượng gì xảy ra hay không khi cho các dung dịch ancol như etanol và glixerol lần lượt vào ống nghiệm đựng Cu(OH)2?
* GV tiến hành thí nghiệm: Cho vào 2 ống nghiệm, mỗi ống 3 giọt dung dịch CuSO4 5% và 10 giọt dung dịch NaOH 10% Lắc nhẹ
- Nhỏ vào ống thứ nhất dung dịch glixerol và ống thứa 2 ancol etylic, rồi lắc nhẹ
GV yêu cầu HS quan sát, nêu hiện tượng và trả lời câu hỏi:
GV đặt câu hỏi nêu vấn đề:
? Tại sao ở ống nghiệm đựng ancol etylic không có hiện tượng gì xảy ra? Nhưng với glixerol lại hòa tan Cu(OH)2 tạo dung dịch màu xanh đặc trưng?
? Từ hiện tượng này rút ra nhận xét gì về khả năng phản ứng của các ancol với Cu(OH)2?
Hs phải dựa vào dấu hiệu của thí nghiêm như: Dung dịch có màu xanh phải là dung dịch muối đồng ! Vậy tại sao glixerol phản ứng còn ancol etylic lại không phản ứng?
Như vậy, ở đây đã xuất hiện mâu thuẫn giữa kiến thức về ancol mà các em đã học trước đó
Hs sẽ suy nghĩ ? C3H5(OH)3 hòa tan Cu(OH)2 nhưng C2H5OH lại không? Còn ở
TN trên thì C3H5(OH)3 và C2H5OH lại đều tác dụng với Na ? vậy có điểm gì giống và khác giữa hai chất? GV gợi ý sự giống nhau là đều có nhóm –OH nên tác dụng với Na(KLK) còn số nhóm –OH khác nhau lại có tính chất khác nhau
? C3H5(OH)3 hòa tan Cu(OH)2 do cơ chế nào? Axit tác dụng với bazơ ? Hay theo một cơ chế khác?
C3H5(OH)3 hòa tan Cu(OH)2 do có khả năng tạo phức chất với Cu(OH)2.Dung dịch có màu xanh đặc trưng sau phản ứng là phức chất của Cu2+ với glixerol
GV có thể đặt thêm các câu hỏi để các em tìm tòi và mở rộng:
? Ancol HOCH2-CH2-CH2OH có hoàn tan Cu(OH)2 không?Tại sao?
Từ đó HS rút ra nhận xét quan trọng: Chỉ các ancol có từ 2 nhóm –OH kề nhau trở lên tác dụng với Cu(OH)2 tạo dung dịch phức chất màu xanh Cu(OH)2 là thuốc thử để phân biệt ancol loại này với ancol đơn chức và ancol không có các nhóm –OH kề nhau
Khi dạy bài Phenol có thể lựa chọn thí nghiệm sau:
Thí nghiệm: C6H5OH tác dụng với dung dịch brom
Trang 8* Mục đích của thí nghiệm: Hs hiểu được ảnh hưởng của nhóm -OH đến vòng benzen
*Dụng cụ và hóa chất: 2 ống nghiệm, kẹp gỗ, dung dịch phenol, benzen, dung dịch Br2
* GV hướng dẫn HS tiến hành thí nghiệm: Cho vào ống nghiệm 1: 2ml dung dịch phenol, ống nghiệm 2: 2ml benzen Sau đó nhỏ vài giọt dung dịch Br2 vào từng ống nghiệm.Quan sát hiện tượng xảy ra và trả lời câu hỏi
? Nêu hiện tượng quan sát được? Tại sao ở ống nghiệm phenol có kết tủa trắng xuất hiện còn ở ống nghiệm đựng benzen thì không?
? Hai chất này đều có vòng benzen trong phân tử nhưng các nguyên tử H trong vòng benzen của phenol lại bị thế bởi nguyên tử brom còn benzen thì không? Cái gì đã ảnh hưởng đến vòng benzen trong phân tử phenol ?
Từ hiện tượng xuất hiện kết tủa trắng trong lọ đựng phenol, HS xuất hiện mâu
thuẫn? Tại sao cùng có vòng benzen trong phân tử nhưng phenol phản ứng còn
benzen lại không? Cái gì đã gây ra sự khác biệt này?
Khi dạy bài anđehit có thể lựa chọn thí nghiệm sau:
Thí nghiệm: Phản ứng của anđehit axetic với dung dịch AgNO3/NH3
* Mục đích của thí nghiệm: HS hiểu được anđehit bị oxi hóa bởi dung dịch AgNO3/NH3 tạo kim loại Ag và dùng dung dịch AgNO3/NH3 để nhận biết anđehit
*Dụng cụ và hóa chất: Ống nghiệm, kẹp ống nghiệm,cốc thủy tinh, đèn cồn, dung dịch AgNO3, dung dịch NH3, dung dịch CH3CHO
* GV tiến hành thí nghiệm:
- Nhỏ vào ống nghiệm khoảng 5 giọt dung dịch AgNO3
- Nhỏ tiếp vào ống nghiêm dung dịch NH3 5% cho đến khi kết tủa tan tạo dung dịch đồng nhất
- Nhỏ tiếp vào ống vài giọt dung dịch CH3CHO rồi đun nóng nhẹ trên ngọn lửa đèn cồn ( tốt nhất nên đun hỗn hợp vài phút trên cốc nước nóng 60-700)
Lưu ý khi làm TN :
- Ống nghiệm phải rửa thật sạch bằng cách nhỏ vào mấy giọt dung dịch kiềm đun nóng nhẹ, tráng đều, sau đó đổ đi và tráng lại bằng nước cất
- Đun nhẹ ống nghiệm ở 60-700 Nếu dùng đèn cồn thì chỉ để đáy ống nghiệm gần sát phái trên ngọn lửa
GV yêu cầu HS quan sát, nêu hiện tượng và trả lời câu hỏi:
? Lớp chất rắn màu trắng bạc bám trên thành ống nghiệm là gì? Viết phuwongt
rình phản ứng và cho biết trong phản ứng này anđehit đống vai trò là chất oxi hóa hay chất khử?
GV có thể đặt thêm các câu hỏi để các em tìm tòi và mở rộng:
? Ngoài andehit phản ứng với AgNO3/NH3 thì còn chất nào tác dụng với dung dịch AgNO3/NH3 nữa không? Phản ứng đó có phải phản ứng oxi hóa khử không? Vì sao?
? Có thể dùng dịch dịch AgNO3/NH3 để phân biệt hợp chất có nhóm chức anđehit với chất có liên kết ba ở đầu mạch không?
Trang 92.3.2 Thiết kế giáo án có sử dụng thí nghiệm nêu vấn đề:
Bài soạn: Ancol ( tiết 2)
I Chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ.
1 Kiến thức
Học sinh biết:
- Biết tính chất vật lý của ancol: Nhiệt độ sôi, độ tan trong nước
- Biết được thế nào là liên kết hidro và ảnh hưởng của liên kết hidro đến tính chất vật lí của ancol
- Biết được tính chất hóa học của ancol: Phản ứng thế nguyên tử hiđro của nhóm –OH, phản ứng thế nhóm –OH và phản ứng tách nước
Học sinh hiểu:
- Tại sao ancol có nhiệt độ sôi cao hơn các hiđro cacbon có cùng cacbon hay có khối lượng tương đương
- Ancol tác dụng với kim loại kiềm vì ancol có nguyên tử hiđro linh động
( Nguyên tử H ở nhóm –OH)
2 Kĩ năng:
- Kĩ năng thực hành thí nghiệm.
- Quan sát thí nghiệm, rút ra được nhận xét về tính chất hóa học của ancol
- Dự đoán được tính chất của ancol thông qua các tình huống trong thực tế
- Viết được liên kết hiđro giữa các phân tử ancol và liên kết hiđro giữa ancol với nước
- Viết được các phương trình thể hiện tính chất hóa học của ancol
- Phân biệt ancol đơn chức với ancol có từ 2 nhóm –OH kề nhau trở lên
- Tính nồng độ hoặc khối lượng của ancol tham gia hoặc tạo thành trong phản ứng
3 Tình cảm, thái độ:
- Tầm quan trọng của rượu trong đời sống cũng như trong công nghiệp, hóa học luôn gắn liền với thực tiễn
- Sử dụng hợp lý ancol để tránh nguy hiểm, tự bảo vệ mình trước tác hại cảu ancol
4 Định hướng các năng lực có thể hình thành và phát triển.
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học
- Năng lực thực hành thí nghiệm
- Năng lực giải quyết vấn đề
- Năng lực vận dụng kiến thức hóa học để giải quyết các vấn đề của cuộc sống
- Năng lực tính toán
II Trọng tâm.
- Quan hệ giữa cấu tạo với tính chất vật lí ( nhiệt độ sôi, tính tan)
- Tính chất hóa học của ancol
III Chuẩn bị
1 Giáo viên.
- Bảng t0 sôi : ankan, dẫn xuất halogen, ancol có cùng M hoặc gần bằng nhau
Trang 10- Dụng cụ thí nghiệm:Ống nghiệm, giá để ống nghiệm, kẹp, đũa thủy tinh, ống hút nhỏ giọt
- Hóa chất: C2H5OH khan, Na, dd NaOH, dd CuSO4, C3H5(OH)3
2 Học sinh
Ôn lại tính chất hóa học của ancol ở lớp 9
II Phương pháp và kỹ thuật dạy học.
- Phương pháp đàm thoại gợi mở
- Phương pháp phát hiện- giải quyết vấn đề
- Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp trực quan
- Phương pháp hoạt động hợp tác nhóm nhỏ
IV Tiến trình dạy học
1 Ổn định lớp
2 Kiểm tra bài cũ:
Viết các đồng phân ancol C4H10O Gọi tên ?
GV gọi HS lên bảng, HS khác tự làm vào vở Sau đó gọi các học sinh khác nhận xét và kết luận
3 Bài mới.
Họat động 1
GV treo bảng nhiệt độ sôi của etan, ancol
metylic, đimetyl ete và metyl clorua Yêu
cầu HS cho biết khối lượng mol của từng
chất
? Trong dãy đồng đẳng ankan, anken hay
ankin và ankyl benzen, các em đều rút ra
nhận xét khi M tăng thì nhiệt độ sôi của
chất tăng Vậy tại sao CH3OH có khối
lượng mol nhỏ hơn CH3OCH3 nhưng lại có
nhiệt độ sôi cao hơn?
GV gợi ý về cấu tạo phân tử ancol, yêu cầu
HS tham khảo SGK, nêu các tính chất vật lí
cơ bản của ancol ?
? Liên kết hiđro là gì?
?Viết các liên kết hiđro tạo ra giữa ancol
với ancol và giữa ancol với nước ?
Họat động 2
?Em hãy cho biết đặc điểm cấu tạo của
phân tử ancol etylic ?
III Tính chất vật lí:
* Trong ancol có nguyên tử H linh động nên tạo được liên kết hidro với nhau → tồn tại ở thể lỏng hoặc rắn ở điều kiện thường
O-H O-H O-H
│ │ │
R R R
* t0 sôi, khối lượng riêng d tăng theo chiều tăng của phân tử khối
* Do nguyên tử H linh động nên tạo được liên kết hidro với nước
→ tan tốt trong nước
O-H O-H O-H O-H
│ │ │ │
R H R H
* Độ tan trong nước giảm khi phân tử khối tăng (Xem bảng 8.2)
IV Tính chất hóa học:
1.Phản ứng thế H của nhóm -OH:
a Tính chất chung của ancol :
Tác dụng với kim loại kiềm:
2C2H5OH+2Na→2C2H5ONa+ H2