1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tích hợp giáo dục sức khỏe, sinh sản vị thành niên và kỹ năng sống vào giảng dạy trong chương trình môn GDCD lớp 10 phần thứ 2 công dân với đạo đức

22 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời công tác giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh còn nhiều hạnchế, nhiều cơ sở giáo dục chỉ chú trọng đầu tư dạy “chữ”, mà xem nhẹ đầu tưdạy “người” nên dẫn đến một bộ phận học

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA IV

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÍCH HỢP GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN VÀ KỸ NĂNG SỐNG VÀO GIẢNG DẠY PHẦN HAI:

“CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”- GDCD 10

Người thực hiện: Nguyễn Thị Dung Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc lĩnh vực (môn): GDCD

THANH HÓA NĂM 2020

Trang 2

MỤC LỤC

1 MỞ ĐẦU 2

1.1 Lý do chọn đề tài: 2

1.2 Mục đích nghiên cứu 3

1.2.1 Mục đích: 3

1.2.2 Nhiệm vụ: 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 4

2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 4

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 5

2.3 Các giải pháp đã thực hiện 6

2.3.1 Tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên và kỹ năng sống vào dạy Bài 12: Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình 7

2.3.2 Tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào giảng dạy Bài 13:Công dân với cộng đồng 11

2.3.3 Tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào dạy bài 15: Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại 15

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 18

3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 19

3.1 Kết luận: 19

3.2 Kiến nghị: 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 3

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài:

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi đạo đức của con người như gốccủa cây, như nguồn của sông Người luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng và tíchcực của đạo đức trong đời sống xã hội Vì vậy, nâng cao chất lượng dạy và họcmôn Giáo dục công dân (GDCD) là một yêu cầu cơ bản và quan trọng hàng đầutrong sự nghiệp giáo dục và đào tạo

Môn GDCD có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành thế giớiquan, nhân sinh quan và nhân cách của mỗi học sinh Đồng thời định hướng,giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng ứng phó, kỹ năng giải quyết vấn đề cho các

em, nhất là trong điều kiện nền kinh tế ở nước ta hiện nay đang phát triển mạnh

mẽ và đang hội nhập kinh tế quốc tế, mở ra bước ngoặt trong sự phát triển kinh

tế cũng như chính trị, xã hội; con người được tiếp cận với những tri thức nhanhhơn, hiệu quả hơn, đáp ứng kịp với thời đại 4.0… Bên cạnh đó lại đi đôi vớimặt trái, với những tiêu cực xã hội đã tác động không nhỏ đến suy nghĩ, hànhđộng của học sinh (nhất là học sinh THPT), cộng với sự thiếu quan tâm, chămsóc, giáo dục từ phía gia đình như cha mẹ nhiều em hiện nay đi làm chỉ lo kiếmtiền, không còn thời gian để dành cho con, không để ý đến việc học tập cũngnhư các hoạt động khác của con; mặt khác về phía nhà trường, môn dạy GDCDcòn mang nặng giáo trình, lý thuyết suông, xa rời thực tiễn

Đồng thời công tác giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh còn nhiều hạnchế, nhiều cơ sở giáo dục chỉ chú trọng đầu tư dạy “chữ”, mà xem nhẹ đầu tưdạy “người” nên dẫn đến một bộ phận học sinh học văn hóa tốt thì thiếu đi kỹnăng sống, kỹ năng ứng phó, kỹ năng giải quyết vấn đề và nhiều kỹ năng khác.Các em như “con mọt sách” giữa đời sống bộn bề phức tạp hiện nay, nên khigặp những tình huống bất ngờ xảy ra, các em không biết cách ứng phó, đối diệnvới nó Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến các em dễ rơi vào bếtắc hoặc mắc các căn bệnh như: căng thẳng, trầm cảm, âu lo Còn bộ phận các

em học văn hóa kém thì dễ rơi vào tệ nạn xã hội, vi phạm các quy định, nội quytrường lớp đề ra

Thực tế hiện nay cho thấy một bộ phận học sinh còn thiếu hiểu biết vềpháp luật, đạo đức, lối sống Đặc biệt kỹ năng sống còn rất kém, chưa biết ứng

xử với lối sống có văn hóa, chưa biết đấu tranh với những văn hóa đồi trụy, chủyếu đua đòi, a dua, sống buông thả, thiếu ý chí vươn lên

Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến hành vi sai trái về đạo đức, lối sống, viphạm pháp luật của học sinh, bên cạnh trách nhiệm của gia đình, nhà trường và

xã hội, nguyên nhân sâu xa là do bản thân học sinh thiếu kỹ năng sống, thiếunhững kiến thức, suy nghĩ nông cạn, thiếu kỹ năng ứng phó để giải qưuyết cácvấn đề trong cuộc sống Như vậy việc tiến hành tích hợp giáo dục kỹ năng sống,

kỹ năng ứng phó, kỹ năng giải quyết vấn đề vào trong các môn học, đặc biệt làmôn GDCD là việc làm có tính tất yếu và cấp thiết Chính vì vậy, bản thân tôi đã

chọn đề tài “Tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên và kỹ năng sống vào giảng dạy phần hai: “Công dân với đạo đức”- GDCD 10.Với hy

Trang 4

vọng cung cấp cho đồng nghiệp những kinh nghiệm nho nhỏ khi giảng dạy.Đồng thời nhằm khắc phục tình trạng trên cũng như phát huy vai trò của mônhọc và nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy của bộ môn, góp phần tích cựchóa việc học tập của học sinh Đây chính là lý do tôi chọn đề tài này.

1.2 Mục đích nghiên cứu.

1.2.1 Mục đích:

- Trước hết làm sáng tỏ phương pháp tích hợp kỹ năng sống là gì? Tại saocần phải vận dụng tích hợp kỹ năng sống trong quá trình giảng dạy môn GDCD?Những yêu cầu cơ bản để sử dụng tích hợp kỹ năng sống, những điều cần tránhtrong khi sử dụng?

- Giúp học sinh có kiến thức, thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lànhmạnh

- Kỹ năng sống giúp học sinh vững vàng trước khó khăn, thử thách; biếtứng phó, biết giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp trong cuộc sống,luôn tự tin làm chủ cuộc sống của mình

- Giáo dục kỹ năng sống chủ yếu vào hai nhóm kỹ năng chính, đó là dạy

kỹ năng ứng phó, dạy kỹ năng giải quyết vấn đề Hai nhóm kỹ năng được coi lànhững nhóm kỹ năng có hiệu quả nhất giúp các em giảm nguy cơ gặp phải cácvấn đề về cảm xúc (như căng thẳng, trầm cảm, lo âu ) và các hành vi có vấn đềnhư (chống đối, nghiện ngập, bạo lực học đường )

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Học sinh lớp 10A1, 10A2, 10A5, 10A6, 10A8

Trường THPT Hoằng Hóa 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

Sau 19 năm giảng dạy, tôi đã đúc kết ra từ chính kinh nghiệm giảng dạycủa mình và của đồng nghiệp

- Trước hết phải phác thảo đề cương nghiên cứu, thu thập số liệu, thôngtin qua thực tế giảng dạy, qua thông tin đại chúng, qua thực trạng xã hội để từ

đó xử lý thông tin

- Xâm nhập, khảo sát thực tế Thử nghiệm một số lớp giữa áp dụngphương pháp tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào giảng dạy và không áp dụng,thì hiệu quả giờ dạy và kỹ năng sống của đối tượng học sinh ở các lớp khácnhau: lớp áp dụng kết quả hơn hẳn lớp không áp dụng

- Áp dụng nhiều phương pháp dạy học khác như tích hợp kiến thức liênmôn, dạy học trực quan và một số kỹ thuật dạy học tích cực cùng tích hợp giáo

Trang 5

dục sức khỏe sinh sản vị thành niên và kỹ năng sống, để làm sao mang lại hiệuquả cao nhất trong giảng dạy.

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Hiện nay không chỉ riêng với nước ta, giáo dục kỹ năng sống là một xuhướng đối với những nước đang phát triển UNICEF nhận định rằng các chươngtrình kỹ năng sống phát triển rất nhanh chóng ở khu vực Nam Á bởi lẽ trướcđây, người dân chưa được tiếp cận với những chương trình giáo dục kỹ năngsống Trong khi đó trẻ em phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ và thách thứctrong xã hội, đòi hỏi trẻ em được trang bị những kiến thức và kỹ năng sống đểứng phó hiệu quả

WHO (tổ chức y tế thế giới) và UNICEF (quỹ nhi đồng liên hiệp quốc), làhai tổ chức đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển và hình thành cácchương trình giáo dục kỹ năng sống Word Health Organisation quan niệm rằng:

“Kỹ năng là khả năng giúp con người có thể thực hiện được một hành vi cụ thể( ) Kỹ năng sống là những khả năng thực hiện các hành vi có tích thích nghi vàtích cực, nó giúp cá nhân ứng phó một cách hiệu quả với những đòi hỏi và tháchthức của cuộc sống hàng ngày”

Theo WHO, kỹ năng sống phải là hành vi, hoặc là khả năng thực hiệnnhững hành vi bất kỳ mà những hành vi đó phải là những hành vi có tính tíchcực hoặc có tính thích nghi

Theo tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO)

kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết, gồm các kỹ năng

tư duy như: kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng ra quyếtđịnh, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng nhận thức được hậu quả Học để làm,gồm các kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kỹ năng đặt mụctiêu, kỹ năng đảm nhận trách nhiệm, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng tìmhiếm và xử lý thông tin Học để khẳng định, gồm các kỹ năng cá nhân như: kỹnăng ứng phó căng thẳng, kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng tự nhận thức, kỹnăng thể hiện sự tự tin Học để cùng chung sống, gồm các kỹ năng xã hội như:

kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thương lượng, kỹ năng hợp tác, kỹ năng làm việctheo nhóm, kỹ năng thể hiện sự thông cảm

Trong xã hội hiện đại ngày nay, luôn đặt ra những nguy cơ mới cho conngười nói chung và đặc biệt là trẻ em Nhịp sống nhanh của xã hội hiện đại làmcho gia đình không dành nhiều thời gian cho con cái như trước kia nữa, kết quả

là trẻ em ít nhận được sự chăm sóc cũng như dạy bảo từ bố mẹ hơn Thêm vào

đó sự thay đổi nhanh chóng của xã hội cũng làm cho các giá trị đạo đức, chuẩnmực xã hội cũng như phong cách sống thay đổi nhanh chóng đã làm gia tăngmâu thuẫn trong gia đình Tiếp đó là sự phát triển và bùng nổ thông tin làm chocon người mất dần kiểm soát Những vấn đề hành vi có tác hại nghiêm trọng vềsức khỏe như nghiện ngập, nhiều căn bệnh có một phần nguyên nhân lớn từ xãhội Một số lượng không nhỏ trẻ em gặp các vấn đề liên quan đến sức khỏe tinhthần và suy giảm chức năng trong cuộc sống Một trong những nguyên nhân

Trang 6

dẫn đến tình trạng đó là do các em không có đủ khả năng để ứng phó với nhữngthách thức trong xã hội hiện đại.

Trong bối cảnh toàn cầu nói chung và trong điều kiện kinh tế Việt Namnói riêng, ngày càng chúng ta cần nhận ra tầm quan trọng của việc tích hợp giáodục kỹ năng sống trong trường học sẽ giúp học sinh nâng cao khả năng thíchnghi, ứng phó tốt hơn với những vấn đề cũng như những thách thức mà các emđặt ra, cũng như giúp các em thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình tốt hơn

Do đặc trưng của môn GDCD là không chỉ cung cấp cho học sinh kiếnthức của môn học, mà còn hình thành và phát triển những kỹ năng vận dụngkiến thức đã học vào cuộc sống của mình, đồng thời hình thành và phát triểnnhân cách, cảm xúc, thái độ đúng đắn trước các vấn đề liên quan đến nội dungkiến thức học Mặt khác, trong thực tế giảng dạy cũng có một bộ phận nhỏ giáoviên không còn tâm huyết với nghề, ngại tham khảo, đọc tài liệu, xem ti vi,không chịu đổi mới và xem nhẹ với việc giáo dục kỹ năng sống trong học sinh

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Đối với các trường THPT hiện nay, việc đưa vào tích hợp kỹ năng sốngtrong chương trình dạy học là hoàn toàn mới, nên sẽ gặp nhiều khó khăn là điềukhông thể tránh khỏi Mặt khác, vấn đề thực tế hiện nay diễn ra trong cuộc sốngthường ngày là đạo đức của một bộ phận học sinh đang xuống cấp, sống buôngthả, không quan tâm đến việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức do thiếu hiểu biết,thiếu kỹ năng ứng phó, thiếu kỹ năng giải quyết vấn đề trước những cạm bẫy, tệnạn xã hội

Thuận lợi:

Nhận thức được tầm quan trọng trong ngành giáo dục, những năm qua SởGiáo dục&Đào tạo cũng đã tổ chức nhiều lớp, nhiều khóa học bồi dưỡng về kỹnăng sống Trong nhà trường được Ban giám hiệu, tổ bộ môn và sự giúp đỡ củađồng nghiệp, sự ủng hộ thích thú của học sinh

Do đặc thù của bộ môn GDCD, nên giáo viên có thể sử dụng nhiềuphương pháp dạy học tích cực để lồng ghép, dễ dàng đưa vào tích hợp giáo dụcsức khỏe sinh sản vị thành niên và kỹ năng sống Vì vậy việc giáo dục kỹ năngsống là gần gũi, thích hợp từ trong chương trình bài dạy, gắn liền với liên hệthực tế cuộc sống

Khó khăn:

Trong thực tế việc giảng dạy bộ môn GDCD gặp rất nhiều khó khăn bấtcập, vì từ trước tới nay bộ môn vẫn xem là một môn học phụ, việc giảng dạythường diễn ra một cách khô khan, đơn điệu, ít gây hứng thú cho học sinh, nênchất lượng và hiệu quả không cao trong giảng dạy

Về phía học sinh, một số em được gia đình nuông chiều và do tác động của xã hội, dẫn đến dễ rơi vào trạng thái tiêu cực ảnh hưởng tới sức khỏe, tinhthần của các em Tài liệu phục vụ giảng dạy và giáo dục kỹ năng sống còn thiếu,chỉ mang tính định hướng nên giáo viên phải tự nghiên cứu, tìm tòi các tài liệu

để bổ trợ cho việc dạy học…Điều này được thể hiện thông qua kết quả khảo sáttrước khi thực hiện đề tài:

Trang 7

Bảng kết quả khảo sát 2.3 Các giải pháp đã thực hiện.

Lớp số Sĩ

Thực trạng học môn GDCD Mức độ thực hành kĩ năng Mức độ không

hứng thú

Mức độ hứng thú

Không ứng dụng

Có ứng dụng

10A1 45 35 77,8% 10 22,2% 35 77,8% 10 22,2%

10A5 43 33 76,7% 10 23,3% 35 81,4% 8 18,6%10A6 42 30 71,4% 12 28,6% 35 83,3% 7 16,7%10A8 42 33 78,6% 9 21,4% 35 83,5% 7 16,7%

Tổng 212 163 76,9% 49 23,1% 170 80,2% 42 19,8%

Trước đây, chúng ta vẫn ngầm định rằng những kỹ năng sống được trẻ emhình thành thông qua các hoạt động hàng ngày với gia đình và cộng đồng Kỹnăng sống là điều mà chúng ta cho rằng trẻ sẽ biết hoặc đã biết

Xã hội hiện đại đặt ra những nguy cơ mới, nên càng ngày chúng ta càngnhận ra tầm quan trọng của việc học kỹ năng sống để ứng phó với sự thay đổi,biến động của môi trường kinh tế, xã hội và tự nhiên Chính vì vậy rèn luyện kỹnăng sống cho học sinh được xác định là một nội dung cơ bản của phong trào thiđua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổthông do Bộ Giáo dục&Đào tạo chỉ đạo, triển khai và thực hiện

Qua nghiên cứu tài liệu, hoạt động thực tiễn trong cuộc sống, tôi nhậnthấy: Nhóm những kỹ năng sống cơ bản cần tích hợp cho học sinh THPT thôngqua môn GDCD như sau:

- Nhóm kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng ra quyết định

- Nhóm kỹ năng suy nghĩ biện chứng - kỹ năng sáng tạo

- Nhóm kỹ năng giao tiếp - kỹ năng liên cá nhân

- Nhóm kỹ năng tự nhận thức - kỹ năng thấu cảm

- Nhóm kỹ năng ứng phó với cảm xúc và căng thẳng

(Theo WHO 1997 xếp kỹ năng sống làm 5 nhóm)

Để phát huy vai trò và đặc thù môn học, giúp học sinh có khả năng ứngphó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹpvới gia đình, cộng đồng và khả năng phòng tránh thiên tai hỏa hoạn Giáo viênphải là những người có lòng nhiệt huyết, biết lựa chọn và kết hợp tốt các phươngpháp dạy học và một trong những biện pháp cơ bản để phát huy vai trò giáo dục

bộ môn, đó là biện pháp tích hợp giáo dục kỹ năng sống trong giảng dạy

Thông qua chương trình GDCD lớp 10, giáo viên có thể tích hợp giáo dụcsức khỏe sinh sản vị thành niên và kỹ năng sống trong phần thứ hai: “Công dânvới đạo đức” Tùy từng nội dung kiến thức của từng bài, từng mục giáo viên

có thể lựa chọn tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên, cũng như cácloại kỹ năng sống phù hợp với từng bài dạy Qua đó sẽ làm thay đổi nhận thức

Trang 8

của học sinh về môn học và đặc biệt sẽ hình thành những kỹ năng sống cơ bảncho học sinh.

Mục 1c: Kỹ năng từ chối quan hệ tình dục

trước hôn nhân, kỹ năng giải quyết vấn đề,

kỹ năng tự nhận thức

Mục 1c: Tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên

13

Mục 1: Kỹ năng tư duy sang tạo, kỹ năng

tự tin khi trình bày ý kiến, kỹ năng sáng

tạo, kỹ năng lắng nghe

Mục 2: Kỹ năng sống vì người khác, kỹ

năng đảm nhiệm trách nhiệm, kỹ năng tìm

kiếm xử lý thong tin,kỹ năng xác định giá

trị tin tưởng vào bạn mình, kỹ năng hợp

tác

15

Mục 1a: Kỹ năng ứng phó với thiên tai, kỹ

năng nhận diên, kỹ năng tìm kiếm và xử lý

- Giáo viên có thể tích hợp các kỹ năng phù hợp: Kỹ năng xác định giá trị,

kỹ năng cảm thông, chia sẻ với những người xung quanh mình, kỹ năng từ chối,

kỹ năng đảm nhiệm trách nhiệm và kiến thức sức khỏe sinh sản vị thành niên

Từ đó giúp học sinh tích cực suy nghĩ, đưa ra các dẫn chứng, ví dụ minhhọa, rèn luyện tính kiên định, khả năng giao tiếp không lời (kỹ năng lắng nghe),

sẽ làm cho mối quan hệ giữa các bạn trong lớp với nhau, giữa học sinh với giáoviên trở nên gần gũi Qua đó quá trình học tập sẽ tích cực hơn

- Mục đích: Giúp học sinh hiểu được cuộc sống tình yêu (điều mà trongtình yêu chúng ta cần giữ gìn, điều nào cần tránh); học sinh hiểu được cuộc sốnghôn nhân và gia đình (có trách nhiệm với gia đình)

Khi giảng Mục 1b: Thế nào là một tình yêu chân chính?

- Cách tiến hành:

Bước 1: Giáo viên có thể đưa ra các mẩu chuyện sau và cho học sinh thảoluận:

Trang 9

Mẩu chuyện 1: Thương là một cô gái xinh đẹp, nết na, có nhiều chàng traitheo đuổi Trong số đó có cả bác sĩ, kỹ sư, có người là con nhà giầu có tronglàng Nhưng Thương lại dành tình yêu của mình cho Hùng - một chàng trai ởcùng xóm, hiền lành, tốt bụng, hay lam hay làm Bạn bè nhiều người chêThương là dại dột, mù quáng trong tình yêu.

Mẩu chuyện 2: Hòa là một cô gái xinh đẹp Đã có nhiều chàng trai theođuổi nhưng cô vẫn chưa nhận lời yêu ai Thấy vậy, Sơn - một bạn trai cùngtrường đánh cuộc với các bạn rằng mình sẽ chinh phục bằng được Hòa Từ đấy,Sơn ra sức săn đón, chăm sóc, chiều chuộng Hòa và nói với Hòa rằng anh takhông thể sống thiếu cô Cuối cùng, Hòa đã xiêu lòng

Mẩu chuyện 3: Ông Minh và ông Hoan là chỗ bạn bè thân thiết Hoa congái ông Hoan vừa xinh đẹp, lại giỏi giang Hai ông muốn làm thông gia vớinhau, nên ông Minh tìm mọi cách cùng con trai của mình lấy được tình cảm củaHoa

Bước 2: Giáo viên đặt câu hỏi và cho học sinh 3 nhóm thảo luận:

Hình 1: Học sinh đang thảo luận nhóm

Hỏi: Trình bày quan điểm của mình về các trường hợp trên?

Bước 3: Học sinh từng nhóm lên trình bày

Bước 4: Giáo viên kết luận: Tình yêu chân chính là tình yêu trong sáng vàlành mạnh, phù hợp với các quan niệm đạo đức tiến bộ của xã hội

Giáo viên lồng ghép giáo dục kỹ năng trình bày suy nghĩ, kỹ năng giảiquyết vấn đề…để học sinh ứng dụng vào cuộc sống

Khi giảng Mục 1c: Một số điều nên tránh trong tình yêu của nam nữ thanh niên.

- Giáo viên có thể tích hợp các kỹ năng như: Kỹ năng từ chối quan hệ tìnhdục trước hôn nhân, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tự nhận thức; giáo dụcsức khỏe sinh sản vị thành niên

Trang 10

- Cách tiến hành:

Bước 1: Giáo viên lần lượt nêu một số ý kiến liên quan đến tình yêu vàyêu cầu học sinh biểu lộ thái độ của mình về từng ý kiến đã nêu (tán thành/không tán thành/ phân vân) bằng cách đứng vào từng khu vực trong lớp họchoặc giơ các biểu tượng theo quy ước

Các ý kiến nêu ra như sau:

+ Tuổi học trò không yêu là “đụt”

+ Nên yêu nhiều nhưng chỉ lấy một

+ Đã yêu thì phải “yêu hết mình”, phải cho nhau tất cả

+ Chung thủy trong tình yêu là “xưa” rồi

+ “Tình yêu sét đánh” mới là tình yêu mãnh liệt

+ “Tình yêu đến em không mong đợi gì, tình yêu đi em không hề nuối tiếc” (lời của bài hát)

GV cho học sinh xem hình ảnh minh họa

Hình 2

Bước 2: Học sinh thảo luận trong nhóm về lý do tán thành, không tánthành hoặc phân vân lưỡng lự và trình bày trước lớp

Học sinh có thể trình bày quan niệm sống của mình về tình yêu Tất nhiên

có rất nhiều quan điểm khác nhau được nêu ra Giáo viên cần lắng nghe và tôntrọng tất cả các ý kiến của các em (không nên phủ nhận) như một người bạn, đểcác em bộc lộ tâm tư tình cảm khi chia sẻ vấn đề này Từ đó giúp các em hiểu

Trang 11

một cách sâu sắc ý nghĩa của một tình yêu trong sáng, lành mạnh phù hợp vớicác quan niệm đạo đức tiến bộ của xã hội.

Bước 3:Giáo viên kết luận: Một số điều nên tránh trong tình yêu của nam

nữ thaqnh niên: Yêu đương quá sớm; yêu một lúc nhiều người, yêu để chứng tỏkhả năng chinh phục bạn khác giới hoặc yêu đương vì mục đích vụ lợi; có quan

hệ tình dục trước hôn nhân

Giáo viên nhận xét sau khi học sinh đưa ra hết ý kiến của mình Đồngthời giáo viên đưa ra những dẫn chứng bằng kinh nghiệm sống của mình dướinhiều góc độ khác nhau để thuyết phục

Ví dụ: Sống thử trước hôn nhân đặc biệt là lứa tuổi học trò là vi phạmpháp luật, dù có đồng tình từ hai phía, nhưng chưa đạt tới độ tuổi mà pháp luậtcho phép “Sống thử” có thể để lại nhiều vấn đề phức tạp như: có thai ngoài ýmuốn, mất khả năng làm mẹ, quan hệ tình dục không an toàn dẫn đến

HIV/AIDS phái nữ sẽ chịu nhiều thiệt thòi và tai tiếng

Giáo viên giáo dục cho học sinh kỹ năng từ chối quan hệ tình dục trước hôn nhân Qua đó giúp các em biết đấu tranh chống lại tư tưởng về lối sốngbuông thả, đổ lỗi cho hoàn cảnh; biết bảo vệ mình và bảo vệ nhân phẩm danh dựcủa mình, đừng để sự việc xảy ra mới hối hận muộn màng

- Mặt khác, giáo viên cần lồng ghép thêm về kiến thức sinh sản vị thành niên khi giáo dục giới tính cho học sinh

Giáo dục giới tính là một đề tài không mới nhưng luôn nóng bỏng vì tínhcần thiết cũng như sự nhạy cảm của vấn đề Do các kiến thức về giới tính hiệnnay đã được phổ biến rộng rãi, phần này sẽ không đề cập đến kiến thức và thayvào đó là đề cập đến thái độ và cách tiếp cận trong giáo dục sức khỏe sinh sảncủa chúng ta

Trong vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản, có hai luồng quan điểm khácnhau Một luồng quan điểm chống lại việc giáo dục giới tính và cho rằng giáodục giới tính là “vẽ đường cho hươu chạy” và cho rằng dạy cho các em về kiếnthức sức khỏe sinh sản vị thành niên kích thích trí tò mò của các em, từ đó thúcđẩy các em dấn thân vào các hành vi tình dục sớm hơn Tuy nhiên, thực tế chothấy việc không giáo dục giới tính cho học sinh hoàn toàn phản tác dụng, làmcho các em gặp nhiều nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe sinh sản, mang thaingoài ý muốn

Thái độ của thầy cô với tình dục, các vấn đề sức khỏe sinh sản vị thànhniên sẽ ảnh hưởng lớn đến các em Nếu các thầy cô ngại ngùng, lúng túng vànhư vậy khi gặp vấn đề các em sẽ né tránh, tự tìm kiếm các giải pháp dựa trên sựhiểu biết chưa đầy đủ hoặc sai lệch của mình về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tìnhdục

- Về việc ứng dụng kỹ năng: hầu hết vị thành niên đều quan tâm đến việcứng dụng kiến thức sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục để bảo vệ bản thân chứkhông chỉ đơn thuần là kiến thức về các chủ đề đó

Ví dụ: Các em nữ sẽ không cảm thấy đủ nếu chỉ giới thiệu về phòng tránhthai Điều cần thiết hơn là việc sử dụng nó như thế nào? uống thuốc tránh thai

Ngày đăng: 13/07/2020, 18:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w