SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁTRƯỜNG THPT SẦM SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG T
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT SẦM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT SẦM SƠN
Người thực hiện: Trần Thị Duyên Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Công tác Chủ nhiệm
THANH HOÁ NĂM 2020
Trang 2MỤC LỤC
1 Mở đầu 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4
2.2.1 Vài nét về địa bàn điều tra 4
2.2.2 Thực trạng sử dụng điện thoại thông minh 4
2.2.3 Thời điểm sử dụng 6
2.2.4 Chức năng thường sử dụng 7
2.2.5 Ảnh hưởng của việc sử dụng ĐTTM đến kết quả học tập của học sinh 10
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 10
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 15
3 Kết luận, kiến nghị 18
3 1 Kết luận 18
3.2 Kiến nghị 19
Trang 31 Mở đầu.
1.1 Lí do chọn đề tài.
Điện thoại di động (ĐTDĐ) đang đóng vai trò rất lớn trong xu hướng pháttriển Internet và góp phần thay đổi cuộc sống của người Việt Nam ĐTDĐ giúpcon người trao đổi thông tin nhanh và tiện dụng, đáp ứng nhu cầu kết nối thôngtin liên lạc nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại Các loại ĐTDĐngày càng đa dạng, đa chức năng, bên cạnh những điện thoại thông thường vớicác chức năng chủ yếu là nghe gọi thì hiện nay, ĐTDĐ cũng đã khá phổ biếnvới nhiều các dịch vụ đa dạng hơn Nghe gọi dường như không còn là chức năngquan trọng nhất của ĐTDĐ, nhiều chức năng thông minh khác được tích hợp vàđược sự đón nhận đặc biệt của giới trẻ như ghi âm, chụp hình, kết nối mạnginternet, nghe nhạc và xem phim…Cùng với chiếc điện thoại thông minh(ĐTTM) người dùng có thể tiếp cận với một lượng thông tin khổng lồ, đa dạng
và tham gia vào một mạng lưới xã hội rộng lớn
Học sinh THPT thuộc lứa tuổi thanh niên Đây là lứa tuổi được xem là thế
hệ rường cột của quốc gia, là nguồn lực quyết định sự phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước Theo nghiên cứu của Tổng cục Dân số kế hoạch hóa gia đình năm
2009 ghi nhận ngẫu nhiên trên 10.000 thanh thiếu niên tại 63 tỉnh/thành ViệtNam, có đến 80% thanh thiếu niên sử dụng điện thoại di động (riêng khu vựcthành thị chiếm 97%) ĐTTM đã trở nên phổ biến và gần gũi, gắn liền trong đờisống hàng ngày đến mức nhiều học sinh hiện nay coi điện thoại như một “vậtbất li thân”
ĐTDĐ, đặc biệt là ĐTTM với sự phát triển lớn mạnh của nó đã có nhữngtác động lớn đến đời sống của học sinh THPT hiện nay Bên cạnh những mặttích cực, việc sử dụng ĐTTM đang tạo ra những biến đổi tiêu cực đến kết quả
học tập của học sinh Ngày càng có nhiều học sinh nghiện điện thoại thông
minh và các ứng dụng của nó như game, facebook…thời gian sử dụng điện thoạithông minh càng nhiều thì kết quả học tập càng giảm Tại Việt Nam, các nghiêncứu về những ảnh hưởng của điện thoại thông minh đến kết quả học tập của học
sinh rất hiếm Vì vậy, đề tài “Ảnh hưởng của việc sử dụng điện thoại thông minh đến kết quả học tập của học sinh trường THPT Sầm Sơn” là một việc
làm rất cấp thiết
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả đánh giá khái quát ảnh hưởng của việc sửdụng ĐTTM đến đến kết quả học tập của học sinh THPT Sầm Sơn Đồng thờiđưa ra một số khuyến nghị trong việc sử dụng ĐTTM để có những tác động tíchcực đến quá trình học tập của học sinh
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Trang 4Đề tài có đối tượng nghiên cứu là ảnh hưởng của việc sử dụng ĐTTM đếnkết quả học tập của học sinh THPT Sầm Sơn hiện nay.
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu tác động của việc sử dụng ĐTTM bằng cách thu thậpthông tin định tính và thông tin định lượng
- Phương pháp thu thập thông tin
+ Phương pháp phân tích tài liệu sẵn có.
Vận dụng phương pháp này, tác giả đã đọc và phân tích các tài liệu có liênquan đến ảnh hưởng của việc sử dụng ĐTTM từ sổ điểm của học sinh lớp 11trường THPT Sầm Sơn năm học 2019-2020
+ Phương pháp quan sát.
Tác giả thu thập thông tin về những hoạt động diễn ra của học sinh THPTSầm Sơn trong phạm vi trường học
Nội dung quan sát:
Tiến hành quan sát việc sử dụng ĐTTM của học sinh trong giờ học quan sátviệc sử dụng điện thoại của học sinh trong giờ ra chơi
- PP điều tra khảo sát thực tế
Nghiên cứu khảo sát 303 học sinh để điều tra thực trạng sử dụng điện thoạithông minh của học sinh trường THPT Sầm Sơn
- PP thống kê, xử lý số liệu
SKKN sử dụng phần mềm SPSS 18.0 để xử lí các thông tin định lượng
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
* Điện thoại là dic ̣h vụ viễn thông được phat́ triển rộng rãi nhât́, dịch vụ cungcấp khả năng truyền đưa thông tin dưới dạng tiếng nói hoặc tiếng nói cùng hìnhảnh từ một thuê bao tới một hoặc một nhóm thuê bao
* ĐTDĐ, hay còn gọi là điện thoại cầm tay, là thiết bị viễn thông liên lạc có thể
sử dụng trong không gian rộng, phụ thuộc vào nơi phủ sóng của nhà cung cấpdịch vụ
* Điện thoại thông minh (ĐTTM) (smartphone) là sự kết hợp của một chiếc điệnthoại và một thiết bị điện tử trợ giúp cá nhân (PDA) Ngoài chức năng thực hiện
và nhận cuộc gọi, ĐTTM còn đượctích hợp các chức năng khác như: nhắn tin,
Trang 5duyệt web, nghe nhạc, chụp ảnh, quay phim, xem truyền hình, kết nối mạng xãhội, chơi game…
ĐTTM có nhiều đặc điểm ưu việt trong sử dụng:
+ Giúp liên lạc dễ dàng với đối tượng khác khi đối tượng đó có phương tiện đểkết nối như điện thoại, máy tính …
+ Liên lạc nhanh chóng, tiện lợi chỉ cần ở đó có sóng điện thoại, internet
+ Có thể được nghe giọng, nhìn hình ảnh trực tiếp của người đang nói chuyệnvới mình một cách chân thực, gần gũi
+ Có nhiều công cụ hỗ trợ liên lạc: nhắn tin, gọi điện, chat qua mạng xã hội, gửiemail, tùy đối tượng có thể lựa chọn công cụ liên lạc nào cho phù hợp
+ Là công cụ giải trí hữu ích: có thể chơi game trên điện thoại, có thể nghe nhạc,
có thể nói chuyện phiếm thông qua công cụ mạng xã hội, giúp giải tỏa căngthẳng
+ Là thiết bị cá nhân, được thiết kế nhỏ, gọn, tiện lợi khi di chuyển, dễ dàng sửdụng trong bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào
ĐTTM thường có mẫu mã đẹp, đa dạng về hình thức, kích thước, màusắc Giá cả của một chiếc ĐTTM cũng đa dạng từ hàng giá rẻ đến cao cấp nên
có khả năng phù hợp với rất đông người sử dụng Bên cạnh khả năng nghe gọi,
gửi tin nhắn văn bản, tin nhắn hình ảnh tiện lợi, ưu điểm trong tính năng sử dụngđầu tiên của ĐTTM có thể kể đến đó là khả năng kết nối internet, thông qua thiết
bị di động cầm tay của mình, người sử dụng có thể kết nối với cả một mạng lướirộng lớn trên toàn thế giới Bên cạnh đó cùng mỗi hệ điều hành của ĐTTM đềutích hợp trong đó một kho ứng dụng khổng lồ Khi có trong tay một chiếcĐTTM có nghĩa là bạn có toàn quyền sử dụng kho ứng dụng ấy, trong đó có rấtnhiều ứng dụng sử dụng tiện ích, dễ dàng và hoàn toàn miễn phí
* Ảnh hưởng là sự tác động của vậtnọ đếnvậtkia, của người này đến ngườikhác
* Học sinh THPT là học sinh từ lớp 10 đến lớp 12 Tuổi của học sinh được tínhtheo năm, từ 15 tuổi đến 17 tuổi Có thể hiểu học sinh THPT là thuật ngữ chỉnhóm học sinh đầu tuổi thanh niên từ (15 tuổi đến 17 tuổi) Tuy nhiên giới hạntuổi chi ̉mang tính tương đối , vì có thể có học sinh đi học muộn hơn tuổi quyđịnh chung của nhà nước
Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sựphát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối
Ở tuổi đầu thanh niên, học sinh THPT vẫn còn tính dễ bị kích thích và sự biểuhiện giống như lứa tuổi thiếu niên Tuy nhiên tính dễ bị kích thích ở tuổi thanh
Trang 6niên không phải chỉ do nguyên nhân sinh lí như lứa tuổi thiếu niên mà nó còn docách sống của cá nhân ở độ tuổi này Sự phát triển của thể chất lứa tuổi này sẽ
có ảnh hưởng nhất định đến tâm lí và nhân cách cũng như ảnh hưởng tới nhữnglựa chọn trong cuộc sống
Trong gia đình, lứa tuổi THPT đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm nhưngười lớn Cha mẹ bắt đầu trao đổi với con cái ở lứa tuổi này về một số vấn đềquan trọng trong gia đình Học sinh lứa tuổi này bắt đầu quan tâm đến nề nếp,lối sống, sinh hoạt và điều kiện kinh tế của gia đình Đây là lứa tuổi vừa học tậpvừa lao động
Ở nhà trường, học tập vẫn là chủ đạo nhưng tính chất và mức độ thì caohơn lứa tuổi thiếu niên Lứa tuổi này đòi hỏi tính tự giác và độc lập hơn Tronggiai đoạn này, nhà trường có vị trí quan trọng, đây là nơi không chỉ trang bị trithức mà còn tác động hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho mỗi họcsinh Các hoạt động của học sinh THPT lúc này chịu ảnh hưởng của xã hội rấtmạnh Khi tiếp cận với công nghệ hiện đại như ĐTTM, máy vi tính…học sinhTHPT có cơ hội tiếp cận với nhiều thông tin, nhiều đối tượng khác nhau gópphần làm tăng thêm vốn xã hội, tăng cơ hội hòa nhập vào cuộc sống, giúp tíchlũy kinh nghiệm, vốn sống cho bản thân
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1 Vài nét về địa bàn điều tra.
Trường THPT Sầm Sơn nằm ở trung tâm thành phố du lịch Sầm Sơn vì vậycác em học sinh có điều kiện học tập tốt hơn, được tiếp cận với công nghệ thôngtin, các lĩnh vực truyền thông, các hoạt động trong xã hội…
Nhà trường rất quan tâm đến nề nếp, chất lượng học tập của học sinh Độingũ giáo viên nhiệt tình, năng động, có trình độ chuyên môn vững vàng, luônluôn đổi mới phương pháp dạy học hiện đại
Đa số các em học sinh có sử dụng điện thoại thông minh
Đa số phụ huynh học sinh làm nghề du lịch hoặc đi biển nên không có thờigian bên cạnh quan tâm sát sao các em học sinh mà chủ yếu phó thác việc họctập của các em cho nhà trường (các giáo viên đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm)nên nhà trường rất khó khăn trong việc theo dõi quá trình học tập, rèn luyện củacác em
Lứa tuổi THPT tâm sinh lí thay đổi thất thường, lại sống ở một thành phố
du lịch biển sầm uất và nhiều cám dỗ nên rất khó khăn cho ban nề nếp, các giáoviên trong việc giáo dục, định hướng các em học sinh
2.2.2 Thực trạng sử dụng điện thoại thông minh.
Trang 7* Số học sinh sử dụng điện thoại thông minh.
Học sinh THPT là lứa tuổi đang còn cắp sách tới trường, điều kiện kinh tếcòn phụ thuộc vào gia đình là chủ yếu nhưng việc sử dụng điện thoại thôngminh ngày càng nhiều, dần dần trở thành bình thường và tất yếu trong cuộcsống Theo kết quả điều tra của tác giả trên 303 học sinh lớp 11 năm học 2019-
2020 có 286 học sinh sử dụng điện thoại thông minh chiếm 94,4%
* Thời gian sử dụng.
Thời gian sử dụng thiết bị thông minh của một người cho thấy vị trí thiết bị
ấy trong đời sống của họ Thời gian sử dụng điện thoại thông minh lớn cho thấyvai trò của thiết bị ấy đối với người sử dụng cũng như sự phụ thuộc của người sửdụng vào thiết bị này
Học sinh THPT có khá nhiều thời gian rãnh trong ngày, do lịch học trêntrường của học sinh là từ thứ 2 đến thứ 7 Mỗi ngày chỉ học buổi sáng và 3 buổichiều, mỗi buổi chiều 2 h Thời gian còn lại các em tự học ở nhà và phụ giúp giađình Theo kết quả điều tra của tác giả tổng thời gian sử dụng điện thoại thôngminh/1 ngày của học sinh lớp 11 trường THPT Sầm Sơn được cho ở bảng 1.Tổng thời gian sử dụng ứng dụng %
Khi được hỏi có thường xuyên mang điện thoại bên người không thì chỉ có15,7% chỉ mang theo khi cần; 84,3% mang theo điện thoại bất kể lúc nào tức làgần như điện thoại là vật bất li thân
Mặc dù thói quen mang điện thoại thông minh theo người bất kể lúc nào làthói quen của đa số học sinh tham gia nghiên cứu, nhưng số học sinh sử dụngđiện thoại từ 3 năm trở lên trong nghiên cứu chỉ chiếm 15,9% tổng số học sinhđiều tra Như vậy, có thể thấy, việc hình thành thói quen này không liên quannhiều đến thời gian sử dụng điện thoại thông minh trước đó Việc ĐTTM đượcthiết kế để người sử dụng có thể mang theo trong nhiều hoàn cảnh, đây là ưuđiểm của điện thoại đồng thời nó cũng là nhược điểm đối với người sử dụng vìđiều này dễ dẫn đến tình trạng “nghiện” thiết bị thông minh này đối với người
sử dụng
Trang 8Số học sinh sử dụng ĐTTM từ dưới 1 năm đến 3 năm chiếm 84,1% Điềunày cho thấy học sinh thường lên cấp 3 mới bắt đầu sử dụng điện thoại thôngminh Số học sinh sử dụng sớm hơn không nhiều.
Có thể thấy, học sinh trong nghiên cứu phần lớn bắt đầu học cấp 3 mới sửdụng ĐTTM, tuy nhiên thời gian sử dụng trong 1 ngày là khá nhiều, hơn nữa sốhọc sinh được hỏi sử dụng điện thoại hơn 5 tiếng một ngày Điều này đặt ranhiều vấn đề trong việc quản lí cũng như hướng dẫn sử dụng điện thoại cho họcsinh nếu muốn việc sử dụng điện thoại một cách hợp lí, hạn chế tác hại có thểxảy ra
2.2.3 Thời điểm sử dụng.
Học sinh THPT thường mỗi buổi học từ 4 đến 5 tiết mỗi tiết kéo dài 45phút, được nghỉ giải lao giữa giờ là 5 phút sau 1 tiết, và giải lao giữa tiết 2 vàtiết 3 kéo dài 15 phút Như vậy có thể thấy thời gian rảnh các em sử dụng điệnthoại ở trường là không nhiều vì vậy mà tình trạng sử dụng điện thoại trong giờhọc khá phổ biến Có tới 70,4% học sinh được hỏi có sử dụng điện thoại tronggiờ ít nhất 1 lần Đặc biệt trong đó có 25,5% học sinh sử dụng điện thoại từ 3 lầntrở lên Như thế có thể thấy những học sinh này có sự tập trung vào bài giảngcủa các thầy cô thấp Bên cạnh đó vì thời gian sử dụng ở trường không nhiều,thời gian học sinh trong nghiên cứu giành nhiều nhất để sử dụng điện thoại làthời điểm đêm muộn, điều này đặt ra nhiều nguy cơ về sức khỏe thể chất cũngnhư tinh thần của các em
Biểu đồ: Thời điểm sử dụng ĐTTM nhiều nhất của học sinh THPT
(Nguồn: kết quả điều tra của tác giả)
Theo kết quả điều tra, thời điểm học sinh sử dụng điện thoại thông minhnhiều nhất là thời điểm sau 22 h Có thể thấy, khi sử dụng ĐTTM, học sinh thức
Trang 9khuya hơn để có thời gian sử dụng chiếc “dế yêu” của mình Điều này có thể là
do học sinh không có nhiều thời gian rãnh nên tranh thủ vào thời gian đi ngủ để
sử dụng điện thoại, đồng thời cũng có thể thời gian này, sự quản lí của bố mẹcũng trở nên lỏng lẻo hơn nên học sinh có thể sử dụng một cách thoải mái hơn.Việc sử dụng thời gian dài điện thoại, nhất là trong điều kiện ánh sángkhông tốt như ban đêm, đang được các nhà khoa học cảnh báo là có nguy cơ gâyhại cho mắt, khiến suy giảm thị lực một cách nhanh chóng, điều này tiềm ẩnnguy cơ đến sức khỏe học sinh Thêm vào đó, việc thức quá khuya cũng dẫn đếnnhững ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất cũng như tinh thần của học sinh,
từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng học tập của ngày hôm sau, chất lượngcác mối quan hệ xã hội của bản thân của học sinh này
2.2.4 Chức năng thường sử dụng.
Đối với ĐTTM, thì bất cứ khi nào hay bất cứ đâu, chỉ cần một vài thao tác
là đã có vô số lựa chọn để kết nối người thân, bạn bè Từ hội thoại kèm video,gửi tin nhắn có hình, chat tức thời và sinh động, hay đơn giản là cập nhật trạngthái lên facebook…
ĐTTM đáp ứng nhu cầu giải trí như nghe nhạc, chơi game, vì đặc điểmnhỏ, gọn nên các em có thể luôn mang theo người và sử dụng ở bất cứ đâu mộtcách tiện lợi
Qua nghiên cứu tôi tìm ra được bốn mục đích sử dụng điện thoại thôngminh và các hoạt động cụ thể cho từng mục đích như sau: sử dụng cho mục đíchhọc tập, mục đích giao tiếp, mục đích giải trí và mục đích thể hiện bản thân.Mức độ sử dụng điện thoại thông minh được thể hiện cụ thể qua bảng sau:
Hiếm khi (1-2
lần/tháng)
Thỉnh thoảng (1-2
lần/tuần)
Thường xuyên (3-5
lần/tuần)
Rất thường xuyên (hàng
Trang 10Không đồng ý
Phân
Hoàn toàn đồng ý
Hiếm khi (1-2
lần/tháng)
Thỉnh thoảng (1-2 lần/tuần)
Thường xuyên (3-5 lần/tuần)
Rất thườn xuyê (hàng ng
Trang 11Theo dõi lich
thi trên website
Sử dụng cho mục đích giao tiếp
Nghe điện thoại 3,1% 4,4% 12,9% 25,8% 53,8%
Trang 12mục đích giao tiếp cho thấy học sinh gần như sử dụng điện thoại thông minhmỗi ngày để theo dõi thông tin của bạn bè qua facebook, bên cạnh đó thỉnhthoảng trong 1 tuần học sinh sử dụng điện thoại để kết bạn trên mạng xã hội từ 1đến 2 lần Với kết quả nghiên cứu của việc sử dụng các hoạt động giải trí chothấy học sinh hầu hết sử dụng điện thoại thông minh mỗi ngày để tham gia cáctrang mạng xã hội (facebook, zalo, viber, instargram,…), trong khi đó hoạt độngđọc truyện học sinh chỉ sử dụng từ 1 đến 2 lần trong 1 tuần Cuối cùng là kết quảnghiên cứu về mục đích thể hiện giá trị bản thân khi sử dụng điện thoại lại chothấy đa số học sinh cảm thấy phân vân với việc tự tin hơn trước mọi người khi
sử dụng điện thoại thông minh, bên cạnh đó học sinh cũng không đồng ý với ýkiến “được nhiều người chú ý hơn khi sử dụng điện thoại thông minh” Một sốhọc sinh khác lại cảm thấy hoàn toàn không đồng ý với ý kiến sử dụng điệnthoại thông minh đắt tiền để bản thân thể hiện đẳng cấp
2.2.5 Ảnh hưởng của việc sử dụng ĐTTM đến kết quả học tập của học sinh.
Tiến hành phân tích mối tương quan giữa 4 biến định lượng: sử dụng điệnthoại thông minh cho mục đích học, sử dụng điện thoại thông minh cho mụcđích giao tiếp, sử dụng điện thoại thông minh cho mục đích giải trí, sử dụng điệnthoại thông minh cho mục đích thể hiện bản thân với biến kết quả học tập tronghọc kỳ gần đây nhất
Nếu học sinh sử dụng điện thoại thông minh cho mục đích học tập thườngxuyên hơn so với các hoạt động khác như: nghe sách nói phục vụ cho việchọc, tự học qua youtube, thu âm bài giảng trên lớp, tra từ điển trực tuyến, tìmkiếm tài liệu học tập,… thì sẽ làm cho kết quả học tập cao hơn Ngược lại nếunhư học sinh càng sử dụng điện thoại thông minh vào mục đích thể hiện bảnthân thì kết quả học tập của họ sẽ giảm sút Việc sử dụng điện thoại thông minhcho mục đích giao tiếp, cho mục đích giải trí không thấy có mối liên hệ có ýnghĩa thống kê với kết quả học tập Tuy nhiên trong thực tế, nếu học sinh sửdụng điện thoại thông minh cho các mục đích này quá nhiều có thể dẫn đếngiảm quỹ thời gian cho việc học và ảnh hưởng đến kết quả học tập Như vậy,qua phân tích cho thấy việc sử dụng điện thoại thông minh cho mục đích học tập
và sử dụng điện thoại thông minh cho mục đích thể hiện bản thân có mối liên hệtrực tiếp đến kết quả học tập của học sinh Càng sử dụng điện thoại thông minhcho mục đích học tập thì kết quả học tập càng cao, càng sử dụng điện thoạithông minh cho mục đích thể hiện bản thân thì kết quả học tập càng giảm
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Chúng ta không thể cấm con em mình sử dụng điện thoại, vì dù xét ở khíacạnh nào đi chăng nữa, điện thoại cũng có rất nhiều lợi ích nếu chúng ta sử dụngđúng cách Việc cần thay đổi ở đây chính là tìm cách giáo dục, thay đổi nhậnthức của học sinh, giải thích và hướng dẫn các em sử dụng điện thoại một cáchđúng đắn, lành mạnh