Trong nhiều năm công tác, tôi đã nỗ lực tìm kiếm, học hỏi, ứng dụng nhiều phương pháp dạy học mới nhằm khơi dậy sự hứng thú của học sinh đối với môn học, tăng cường năng lực nghiên cứu đ
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Cuộc sống luôn vận động và phát triển không ngừng, nó đòi hỏi mọi người
phải vận động để theo kịp sự phát triển của xã hội Người xưa đã nhắc nhở con cháu rằng: “Nếu còn trẻ mà chẳng chịu học hành thì khôn lớn sẽ chẳng làm việc
gì có ích” hoặc “Nhân bất học bất tri lí” Vì vậy việc học vô cùng quan trọng đối với mỗi con người Bởi học để nâng cao hiểu biết, kiến thức, kĩ năng và hoàn thiện nhân cách Nhưng học như thế nào để đạt hiệu quả thì thiết nghĩ mỗi người cần phải có phương pháp học Và qua kinh nghiệm bao đời được đúc kết, người
ta nhận ra rằng tự học là phương pháp hữu hiệu nhất
Sinh thời, Bác Hồ từng căn dặn: “ Không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa Phải biết tự động học tập ” Người cũng từng nhấn mạnh:
“không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi Thế giới ngày càng đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta cần phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”[1] Từ đó, ta thấy tự học có vai trò ý nghĩa rất
lớn, không chỉ trong giáo dục nhà trường mà cả trong cuộc sống
Từ nhỏ bản thân từng là một học sinh rất thích môn Địa lí Vì niềm yêu thích đó, tôi đã lựa chọn nghề nghiệp của mình là một giáo viên môn Địa lí với
hy vọng sẽ thổi tình yêu đó vào các thế hệ học trò mà mình giảng dạy Tuy nhiên, trong điều kiện và sự phát triển của xã hội hiện nay, nhiều học sinh không yêu thích môn học Địa lý, ngại học môn Địa lí
Trong chương trình Địa lí 11 bậc THPT thì kiến thức địa lí về khu vực và thế giới thường khá dài và có nhiều phần kiến thức khó, khô Vì vậy để có được
sự yêu thích, hứng thú của học sinh đối với môn học không phải dễ Người giáo viên giảng dạy phải có kiến thức bộ môn, yêu trò và không ngừng học hỏi nâng cao kiến thức chuyên môn, đổi mới phương pháp dạy học Trong nhiều năm công tác, tôi đã nỗ lực tìm kiếm, học hỏi, ứng dụng nhiều phương pháp dạy học mới nhằm khơi dậy sự hứng thú của học sinh đối với môn học, tăng cường năng lực nghiên cứu độc lập, tăng cường khả năng tổ chức, sử dụng kiến thức và khả năng sáng tạo của học sinh, thay đổi không khí tiết học Đồng thời thực hiện chỉ đạo đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của học sinh trên tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó
ưu tiên phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và phát triển năng lực của học sinh
Bản chất của sự học là tự học, cốt lõi của dạy học là dạy việc học, kết quả của người học tỉ lệ thuận với năng lực tự học của người học Trong quá trình công tác, tôi luôn chú trong rèn luyện các phương pháp tự học cho HS Đó không chỉ là một phương pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu của dạy học
Xuất phát từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài "Một số phương pháp hướng dẫn học sinh tự học môn Địa lí 11 ở trường THPT Quan Hóa" để
nghiên cứu và vận dụng
1.2 Mục đích nghiên cứu
Trang 2- Tăng cường khả năng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, giúp học sinh chủ động tích cực hơn trong việc tự tìm hiểu và ghi nhớ kiến thức, đặc biệt trong thời kì học sinh nghỉ học vì dịch bệnh co vid-19
- Rèn luyện kĩ năng làm việc độc lập, kĩ năng giao tiếp, hoạt động nhóm
- HS thấy được lợi ích của các kiến thức Địa lí trong đời sống hàng ngày, tạo cho các em thói quen quan sát và biết liên hệ thực tế về các đặc điểm dân số cũng như ảnh hưởng của các vấn đề dân số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
ở Việt Nam
- Góp phần đổi mới hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, tăng cường ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong dạy học
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Sáng kiến đề cập đến phần địa lí tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực và một số nước trên thế giới ở chương trình THPT
- Nghiên cứu ở trường THPT Quan Hóa trong năm học 2019 – 2020
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Bao gồm các tư liệu và bản đồ về dân cư, xã hội, tài liệu tập huấn về hướng dẫn học sinh tự học và theo định hướng phát triển năng lực của học sinh
1.4.2 Phương pháp lấy ý kiến
Được vận dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm lấy ý kiến của các nhà khoa học, các nhà quản lý, các đồng nghiệp trong và ngoài tỉnh trong việc chọn phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh, giúp các em chủ động, tích cực hơn trong giờ học Địa lí
1.4.3 Phương pháp so sánh địa lí
Thông qua các phương pháp truyền thống và phương pháp dạy học tích cực theo định hướng phát triển năng lực để đưa ra kết luận về mức độ thích hợp đối với từng đối tượng học sinh và từng bài học nghiên cứu
1.4.4 Phương pháp khảo sát học sinh
Thông qua các tiết dạy trên lớp và các bài kiểm tra trong các năm học trước cũng như năm học 2019 – 2020
Khảo sát thu thập tài liệu và kết hợp với điều tra phỏng vấn nhằm bổ sung thêm tư liệu, cứ liệu cho việc đề xuất một số phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh, giúp các em chủ động, tích cực hơn trong giờ học Địa lí.[4]
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận
Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức rõ vai trò của phương pháp dạy tự học Trong quá trình tự học, giáo viên không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức mà quan trọng là phải định hướng, tổ chức cho học sinh tự khám phá ra những kiến thức mới, qua đó giúp học sinh không chỉ nắm bắt được kiến thức
mà còn biết cách tìm ra kiến thức
Thực tế cho thấy càng ở bậc học cao thì tự học càng được coi trọng Tự học được xem là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học, là cầu nối giữa học tập và
Trang 3nghiên cứu khoa học.Vì thế muốn thành công trên bước đường học tập và nghiên cứu thì người học phải có khả năng tự học và tự giải quyết những vấn đề
mà cuộc sống hay khoa học đặt ra [5]
Với phương châm “Nghỉ học không có nghĩa là ngừng học, không đến trường không có nghĩa là ngừng thi” toàn ngành giáo dục luôn luôn tìm ra các giải pháp để hoàn thành chương trình năm học một cách tốt đẹp nhất
2.1.1 Cơ sở triết học
Theo triết học duy vật biện chứng, mâu thuẫn là động lực thúc đẩy quá trình phát triển Mâu thuẫn trong học tập nảy sinh giữa yêu cầu nhận thức với tri thức,
kỹ năng còn hạn chế của người học
2.1.2 Cơ sở tâm lý
Theo các nhà tâm lý học, chỉ tư duy tích cực khi có nhu cầu hoạt động, chỉ
có kết quả cao khi chủ thể ham thích tự giác và tích cực Thực tế cho thấy nếu học sinh chỉ học một cách thụ động, được nhồi nhét kiến thức, không có thói quen suy nghĩ một cách sâu sắc thì kiến thức nhanh chóng bị lãng quên
2.1.3 Cơ sở giáo dục học
Dạy học tự học nằm trong hệ thống giáo dục nó phù hợp với nguyên tắc về tính tích cực và tự giác Nó khêu gợi hoạt động học tập của học sinh, hướng đích gây hứng thú cho người học
Những kết quả nghiên cứu của giáo dục cho thấy: Sẽ đem lại kết quả giáo dục tốt hơn nếu quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo, quá trình giáo dục được biến thành quá trình tự giáo dục Từ đó cho thấy tầm quan trọng của việc dạy tự học
2.1.4 Cơ sở thực tiễn
Trong thực tế giảng dạy ở trường THPT hiện nay, hầu hết các giáo viên đã được trang bị lí luận về các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực Tuy nhiên việc thực hiện các phương pháp dạy học trong thực tế còn chưa thường xuyên và chưa hiệu quả, phương pháp giảng dạy chưa có nhiều đổi mới Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan trong đó một trong những nguyên nhân chủ yếu là do các em học sinh coi môn địa lí chỉ là môn phụ, học thuộc Phần lớn các em còn thụ động, quen với việc chờ giáo viên đọc - chép hoặc chờ giáo viên ghi lên bảng mới chép Các em chưa chủ động tích cực tự chiếm lĩnh kiến thức, còn duy trì thói quen học vẹt, lười tư duy
Thực tế hiện nay đa số học sinh ở trường THPT nói chung và học sinh lớp
11 nói riêng chưa xác định rõ động cơ học tập, chưa có kế hoạch học tập, chưa biết cách tìm kiếm thu thập thông tin, học liệu, khả năng hợp tác trong học tập chưa cao, chưa biết tự kiểm tra, đánh giá để xem năng lực của bản thân như thế nào Với lượng kiến thức ngày càng nhiều, cách học như vậy khiến nhiều học sinh không theo kịp chương trình, rơi vào tình trạng quá tải, chán học làm kết quả học tập bị sa sút, không còn duy trì được “phong độ” như các lớp dưới [6] Trên cương vị là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, bản thân tôi luôn ý thức phải đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để tổ chức các giờ dạy thật sinh động, tạo hứng thú, tăng cường tính tích cực chủ động của học sinh trong giờ học Một trong những phương pháp bản
Trang 4thân tôi đã và đang thực hiện đó là phương pháp hướng dẫn học sinh tự học -nhằm nâng cao khả năng tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức cho học sinh lớp 11
2.1.5 Một số khái niệm được sử dụng trong đề tài
Quan niệm về tự học: Hiện nay có nhiều quan niệm về tự học, ví dụ như:
- Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức thuộc một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học
- Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV và sự quản lí trực tiếp của cơ sở giáo dục và đào tạo Cụ thể hơn, tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và
có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan
có ý chí tiến thủ, không ngại khó, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành
sở hữu của mình
- Theo quan điểm dạy học tích cực, bản chất của học là tự học, nghĩa là người học luôn là chủ thể nhận thức, tác động vào nội dung học một cách tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo để đạt được mục tiêu học tập Hay nói cách khác, không ai học giúp cho người học được, vì thế muốn học được phải tự học Theo đó, quá trình hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ, chủ yếu là do HS tự thực hiện, còn môi trường học chỉ đóng vai trò trợ giúp Việc học chỉ có hiệu quả khi người học ý thức được việc học (có nhu cầu học tập) từ đó có động cơ, ý chí và quyết tâm để vượt qua những khó khăn, trở ngại trong học tập Tự học là một quá trình chủ thể nhận thức tác động một cách tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo vào đối tượng học nhằm chuyển hoá chúng thành tài sản riêng, làm cho chủ thể thay đổi và phát triển [5]
Như vậy, tự học là tự mình thực hiện việc học Tự học không thể thiếu trong hoạt động học, trong đó HS phải biết huy động hết khả năng trí tuệ, tình cảm và ý chí của mình để lĩnh hội một cách sáng tạo tri thức, kĩ năng và hoàn thiện nhân cách của mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên Trong cuộc đời của mỗi người bao giờ cũng có hoạt động tự học, song vấn đề quan trọng là tự học ở mức độ nào và tự học như thế nào, kết quả tự học cao hay thấp phụ thuộc vào kĩ năng tự học của mỗi cá nhân và đặc biệt với học sinh THPT thì còn phải phụ thuộc rất lớn đến sự hướng dẫn của GV hay học liệu, phương tiện hỗ trợ
Sử dụng sơ đồ tư duy trong tự học
Trong việc học và đặc biệt là khi ôn tập, hệ thống hoá kiến thức, học sinh
đã được làm quen với việc kẻ bảng, biểu, vẽ sơ đồ, biểu đồ,… và thường học sinh có chung cách “ghi chép” giống GV hay người trợ giúp, hoặc mẫu trong tài liệu, nên việc ghi nhớ thường bị động, khó khăn, khó khắc sâu, khó nhớ
Đến nay, sơ đồ tư duy được xem là hình thức ghi chép hỗ trợ tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống
Trang 5hoá một chủ đề, một hệ thống bài tập hay một mạch kiến thức, các cách giải của một dạng bài tập,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt, sơ đồ tư duy còn là một
sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau Do đó, việc lập sơ đồ tư duy còn giúp phát huy khả năng sáng tạo của mỗi người
Nghe hiệu quả: Biết nghe giảng đúng cách hay nghe tích cực sẽ giúp học
sinh rút ngắn thời gian học tập, làm bài tập nhanh chóng và dễ dàng hơn, tự tin, hứng thú hơn và không ngỡ ngàng khi gặp lại các nội dung học tập, nhất là trọng tâm bài học
Ghi chép hiệu quả: Ghi chép không những có thể khiến tăng cường sự tập
trung mà còn là một công cụ hỗ trợ ghi nhớ Khả năng ghi chép phụ thuộc vào từng người và được bắt nguồn từ những kinh nghiệm có sẵn Ghi chép còn giúp chúng ta nguồn lưu trữ thông tin để sau này dùng lại hay ôn lại nếu cần Song để ghi chép được nhanh và hiệu quả nên sử dụng các thủ thuật như: dùng từ viết tắt, dùng chữ bắt đầu của một từ; dùng các kí hiệu hoặc tạo ra những từ viết tắt riêng cho mình; đặt tựa đề riêng cho đề mục và ghi lùi sang phải từng chi tiết liên quan với đề mục; dùng những chấm riêng cho từng dòng và xuống dòng cho mỗi chi tiết; chừa chỗ trống nhiều so với lề trái, khoảng 1/3 chiều ngang tờ giấy; Không cần ghi lại mọi thứ mà hãy tư duy, lắng nghe để hiểu và ghi được những điều quan trọng nhất
Đọc hiệu quả: Đọc hiệu quả là đọc một cách tập trung và kĩ lưỡng để hiểu
được chính xác những gì đọc được Ta biết rằng một từ, một cụm từ hay một chữ, thường có hai phần là âm và nghĩa Đứng về mặt kĩ thuật, đọc là một quá trình kết hợp lướt mắt qua các con chữ và nhập nghĩa của các con chữ đó vào đầu
Ghi nhớ thông tin hiệu quả: Ghi nhớ là quá trình tiếp nhận thông tin và
lưu giữ thông tin ấy trong đầu, để sau đó có thể nhắc lại, dùng lại được Ghi nhớ đòi hỏi yêu cầu cao với người học Để có thể ghi nhớ thông tin nhanh và lâu
Liên tưởng trong tự học: Liên tưởng giúp các em phát huy tính khám phá,
t nh sáng tạo bằng cách kết nối vấn đề đang học, vấn đề đang gặp phải, cần được ghi nhớ, vấn đề chưa thật quen thuộc, chưa thật hiểu rõ, với cái mà mình đã biết Nhờ đó, ta sẽ dễ nhớ và dễ truy cập, sử dụng một vấn đề nào đó khi cần
Ứng dụng công nghệ thông tin trong tự học
Công nghệ thông tin không chỉ hiểu là máy tính và mạng Internet mà là tất
cả những phương tiện kĩ thuật dùng để khởi tạo, lưu trữ, chuyển tải, chia sẻ, trao đổi thông tin Trong giáo dục, công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng đối với dạy và học, tạo ra “môi trường số” giúp giáo viên, học sinh linh động hơn trong việc thu thập, xử lí, trao đổi, quản lí thông tin cũng như giao tiếp, cộng tác
và đánh giá hoặc liên kết nội dung bài học với những ý tưởng thực tế của cuộc sống
Tổ chức hoạt động nhóm hiệu quả
Nhóm là hình thức học tập phát huy rất tốt khả năng sáng tạo nên hình thức này dễ phù hợp với các hoạt động cần thu thập ý kiến và phát huy sự sáng tạo
Trang 6Điều quan trọng là học sinh cần phải biết mình làm gì và làm như thế nào khi tham gia làm việc nhóm
2.2 Thực trạng việc tự học của học sinh ở trường THPT Quan Hóa 2.2.1 Về giáo viên
Giáo viên theo biên chế hiện tại còn thiếu tới 14 người, tuy nhiên giáo viên được đào tạo đạt chuẩn, yêu nghề, có năng lực, nhiệt tình trong giảng dạy,
có ý thức chấp hành kỉ luật tốt và quan trọng là nắm được phương pháp giảng dạy, quan tâm đến việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, có ý thức học hỏi đồng nghiệp thông qua các hoạt động dự giờ rút kinh nghiệm và các buổi sinh hoạt nhóm chuyên môn Đặc biệt chú trọng đến đặc trưng của bộ môn
là sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học khi lên lớp
2.2.2 Về học sinh
Học sinh hầu hết là con em của các dân tộc thiểu số như Thái, Hmông, Mường nhưng các em rất chăm ngoan, hiền lành và đã được làm quen với cách học mới, tích cực chủ động hơn trong việc phát hiện kiến thức, có ý thức tự giác trong làm bài tập, chuẩn bị bài mới Qua kiểm tra vở, bài tập ở nhà của học sinh cho thấy phần lớn học sinh đã đầu tư thời gian cho việc làm bài tập, chịu khó tìm tòi những kiến thức thực tế khi giáo viên yêu cầu
Tuy nhiên, việc học tập của học sinh vẫn còn một số tồn tại sau:
- Trình độ nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, các em thường ngại ngùng, ít tham gia phát biểu ý kiến, xây dựng tập thể lớp
- Nhiều học sinh còn lười học, thiếu tính tích cực chủ động trong học tập, đặc biệt là trong việc hoạt động nhóm
- Một số học sinh không chịu khó làm bài tập ở nhà, thậm chí còn mượn vở của bạn ở trong lớp và các lớp khác để chép lại một cách thụ động, đối phó với giáo viên
- Các bài tập giáo viên hướng dẫn làm trên lớp nhưng học sinh không tiếp thu, làm hay chỉnh sửa, bổ sung những phần còn thiếu, sai [6]
2.2.3 Cơ sở vật chất của nhà trường
Trường THPT Quan Hoá là ngôi trường được thành lập năm 1980 trải 40 năm thành lập nhà trường có truyền thống hiếu học và đang từng bước có các phương tiện để phục vụ cho học tập tranh ảnh, bản đồ, sách tham khảo,
Được sự quan tâm của Ban giám hiệu cũng như Tổ chuyên môn nên việc phát huy phong trào dạy và học tốt ở bộ môn Địa lí nói riêng và các môn học khác nói chung rất thuận lợi [6]
2.3 Các giải pháp để giải quyết vấn đề
Để học sinh tự học có hiệu quả, ngoài việc tạo động cơ, hứng thú cho các
em, cũng như hướng dẫn các em lập kế hoạch học tập hay tự kiểm tra đánh giá
Đặc biệt trong năm học trải qua biết bao thăng trầm với sự bùng phát của dịch bệnh côvid- 19 này, tôi đã sử dụng một số phương pháp và kĩ thuật tự học sau:
2.3.1 Nghe hiệu quả
* Các năng lực phát triển ở học sinh: Năng lực sử dụng ngôn ngữ: Nghe hiểu và chắt lọc thông tin bổ ích từ các bài giảng, lời giải thích, thảo luận
* Ưu, nhược điểm:
Trang 7- Ưu điểm: Biết nghe giảng đúng cách hay nghe tích cực sẽ giúp học sinh rút ngắn thời gian học tập, làm bài tập nhanh chóng và dễ dàng hơn, tự tin, hứng thú hơn và không ngỡ ngàng khi gặp lại các nội dung học tập, nhất là trọng tâm bài học
- Nhược điểm: Nếu học sinh không chú ý, mất tập trung sẽ phá vỡ logic của nội dung cũng như quá trình nghe giảng
* Các biện pháp để luyện kĩ thuật nghe tích cực ở học sinh:
- Tập trung theo dõi bài giảng hay hướng dẫn học của giáo viên ngay từ lúc bắt đầu của tiết học
- Tập trung nghe trọn vẹn nội dung chính, những điểm quan trọng nhất mà giáo viên thường nhấn mạnh qua ngữ điệu hay qua việc nhắc lại nhiều lần, để hiểu vấn đề, rồi ghi chép ý chính theo cách hiểu của mình Chú ý ghi theo dàn bài để nhìn được khái quát cấu trúc chung của bài học, chú ý tới trọng tâm, mấu chốt của vấn đề
- Chú ý đến các bảng tóm tắt, các sơ đồ và các tài liệu trực quan khác đã giới thiệu, vì ở thời điểm này giáo viên sẽ hệ thống hoá kiến thức, so sánh, phân tích, nhờ đó ta có thể nắm được trình tự, tiến dần đến kết luận và rút ra cái mới
- Nếu gặp chỗ nào khó, không hiểu, thì hãy tạm thời gác nó lại và sẽ cố gắng tìm hiểu những điều đó sau, để quá trình nghe giảng không bị gián đoạn
- Nghe giảng với thái độ độc lập và có phê phán; ghi chép hoặc thắc mắc những chỗ còn hoài nghi hoặc chưa hiểu để hỏi bạn và thầy Trong hoặc cuối tiết học, có thể nêu câu hỏi với GV để làm rõ những chỗ chưa hiểu, khắc sâu kiến thức
- Nghe giảng đồng thời phải tư duy tích cực, khẩn trương: Liên hệ những kiến thức đang nghe với kiến thức đã học và trong thực tế để tìm ra mối liên hệ Lưu ý:
- Đối với học sinh: luôn phải đọc bài mới trước khi đến lớp Nhờ đó, biết được những vấn đề khó để nhắc mình chăm chú hơn khi nghe giảng
- Đối với giáo viên:
+ Cần giảng bài truyền cảm để thu hút học sinh
+ Quan sát thường xuyên quá trình nghe giảng của học sinh
+ Xây dựng kế hoạch bài giảng cụ thể, chắt lọc thông tin để tránh dàn trải, không phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh
2.3.2 Ghi chép hiệu quả
* Các năng lực phát triển ở học sinh
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ: viết đúng các dạng văn bản với cấu trúc hợp
lí, logic, đúng chính tả, rõ câu, rõ ý
- Năng lực sáng tạo: Xem xét sự vật dưới nhiều góc độ khác nhau, hình thành và kết nối các ý tưởng
* Ưu, nhược điểm
- Ưu điểm: Ghi chép không những có thể khiến tăng cường sự tập trung mà còn là một công cụ hỗ trợ ghi nhớ Ghi chép còn giúp chúng ta nguồn lưu trữ thông tin để sau này dùng lại hay ôn lại nếu cần
Trang 8- Nhược điểm: Khả năng ghi chép phụ thuộc vào từng người và được bắt nguồn từ những kinh nghiệm có sẵn Nhiều học sinh chỉ chăm chú ghi chép mà không chú ý đến việc nghe giảng học sinh dù có ghi chép cẩn thận mà không xem lại thì cũng dễ bị lãng quên kiến thức
* Biện pháp ghi chép hiệu quả
Song để ghi chép được nhanh và hiệu quả nên sử dụng các thủ thuật như: dùng từ viết tắt, dùng chữ bắt đầu của một từ; dùng các kí hiệu hoặc tạo ra những từ viết tắt riêng cho mình; đặt tựa đề riêng cho đề mục và ghi lùi sang phải từng chi tiết liên quan với đề mục; dùng những chấm riêng cho từng dòng
và xuống dòng cho mỗi chi tiết; chừa chỗ trống nhiều so với lề trái, khoảng 1/3 chiều ngang tờ giấy Không cần ghi lại mọi thứ mà hãy tư duy, lắng nghe để hiểu
và ghi được những điều quan trọng nhất Lưu ý:
- Cần kết hợp giữa việc vừa nghe giảng vừa ghi chép Ghi chép bài giảng theo ý hiểu của mình, có thể dùng các ký hiệu hoặc chữ viết tắt để tiết kiệm thời gian ghi chép dành thời gian cho việc nghe giảng
- Ghi nhanh thuật ngữ hay khái niệm, vấn đề mới lạ vào giấy, vở hay sổ tay
- Trước tiết kiểm tra, viết lại những gì đã ghi chép sẽ giúp em nhớ được các chi tiết quan trọng và dễ dàng truy cập khi cần
- Tất cả những gì ghi chép được cần sắp xếp theo từng mục, theo nhu cầu
và cách riêng của mình
- Nếu có máy tính thì nên sắp xếp dữ liệu theo thư mục các tập tin, khi đó, việc tìm kiếm sửa đổi thật là đơn giản
- Chú ý viết lại những vấn đề quan trọng khi nghe người khác hay khi đọc tài liệu, nhờ đó sẽ hiểu sâu, hiểu liền mạch nội dung nghe được, tránh được tình trạng học vẹt
2.3.3 Đọc hiệu quả
Đới với môn học Địa lí, đọc hiệu quả không chỉ dừng lại ở việc đọc các văn bản, tài liệu, nội dung SGK mà cần rèn luyện cho học sinh các kĩ năng khác như: đọc bản đồ, lược đồ, sơ đồ, nhận xét bảng số liệu
* Các năng lực phát triển ở học sinh:
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ: Đọc và lựa chọn được các thông tin quan trọng từ các văn bản, tài liệu
- Năng lực giải quyết vấn đề: Phát hiện, phân tích các tình huống có vấn đề;
đề xuất một số giải pháp giải quyết vấn đề
- Năng lực sử dụng bản đồ, lược đồ: Mô tả, so sánh, giải thích được sự phân
bố hoặc mối quan hệ của các yếu tố tự nhiên hoặc kinh tế-xã hội trên bản đồ, lược đồ
- Năng lực sử dụng số liệu thống kê; sử dụng hình vẽ, tranh ảnh địa lí, mô hình, video: Nhận biết, phân tích, so sánh, giải thích các yếu tố tự nhiên và kinh
tế - xã hội
* Ưu, nhược điểm:
- Ưu điểm:
Trang 9+ Đọc hiệu quả là đọc một cách tập trung và kĩ lưỡng để hiểu được chính
xác những gì đọc được, giúp ta trả lời được những câu hỏi đã đặt ra
+ Đồ dùng trực quan (bản đồ, lược đồ, sơ đồ…) là phương tiện mang lại hiệu quả cao để hình thành khái niệm, có vai trò to lớn giúp học sinh nhớ kĩ những hình ảnh và khắc sâu kiến thức
- Nhược điểm: Đòi hỏi về thời gian cho việc đọc, trình bày kết quả, đánh giá chéo Nếu được thực hiện kém, nó thường mang lại kết quả ngược lại
* Biện pháp đọc hiệu quả
- Khi đọc cần ghi chép các ý chính, các chi tiết quan trọng
- Một số điều nên làm khi đọc hiểu:
+ Trau dồi vốn từ: Nên hiểu rõ các sắc thái nghĩa của từ, chú ý cách dùng từ của người khác và biết lựa chọn, sử dụng từ, ngữ một cách chính xác, uyển chuyển và cẩn trọng trong viết và nói
+ Khi đọc các sách có tính chuyên sâu hay mang tính học thuật thì trước hết phải hiểu đúng các khái niệm đồng thời biết trân trọng cách dùng từng từ của người viết để ý thức đầy đủ về tính chính xác của từ ngữ
+ Khi gặp một khái niệm mới thì đừng bỏ qua mà cần tìm hiểu kĩ nội hàm của khái niệm này
+ Sau khi đọc, nên hình thành thói quen liên tưởng, tìm nghĩa và bắt lấy dụng ý của người viết thật nhanh
+ Đọc kĩ khái niệm và những từ cần xem xét nghĩa của nó trong tổng thể + Đối với môn địa lí, ngoài các văn bản, nội dung SGK; giáo viên cần hướng dẫn học sinh kĩ năng đọc hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa như các bảng số liệu, sơ đồ, hình ảnh Nó không chỉ là nguồn kiến thức mà còn có khả năng phát triển tư duy, rèn luyện các kĩ năng đặc thù của bộ môn Từ việc quan sát thực tế học sinh sẽ phải tư duy trừu tượng, tuy nhiên để học sinh tìm
ra được kiến thức từ những kênh hình này thì phải có định hướng của giáo viên
vì bản thân tranh ảnh không thể tạo ra sự quan sát tích cực từ học sinh nếu như
nó không được quan sát trong những tình huống “có vấn đề” Từ việc quan sát, học sinh sẽ phải phân tích, giải thích và rút ra những kết luận Địa lí
Ví dụ 1: Trong bài 7 Liên minh châu Âu EU, tiết 1 EU- liên minh khu vực
lớn nhất, giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào hình 11.3 phân tích ba trụ cột của Liên minh châu Âu, từ đó học sinh trình bày được mục đích của EU
Ví dụ 2: Trong bài 4: Thực hành: Tìm hiểu các cơ hội và thách thức của
toàn cầu hóa đối với các nước đang phát triển, giáo viên hướng dẫn học sinh đọc các nội dung SGK, gạch chân những cơ hội và thách thức, từ đó nắm được các tác động của xu hướng toàn cầu hóa đến nền kinh tế - xã hội các nước đang phát triển để viết báo cáo
Ví dụ 3: Khi học sinh nghiên cứu bài 5, tiết 1: Một số vấn đề của châu Phi,
giáo viên cung cấp thêm thông tin như sau:
“Liên hợp quốc hôm 20/7/2011 đã tuyên bố nạn đói ở nhiều khu vực nam Sômali Đây là lần đầu tiên từ “nạn đói” chính thức được dùng, kể từ khi gần
10 triệu người chết đói ở Êtiôpia năm 1984 “Nạn đói” được xác định khi tỉ lệ
Trang 10tử vong là hơn 2/10.000 người/ngày và tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi chết chiếm trên 30% trong một khu vực”.
HS dựa vào nội dung SGK, thông tin bổ sung để trả lời các câu hỏi của giáo: Thông tin trên cho thấy tình trạng gì ở châu Phi ? Em hãy đề xuất một số biện pháp để khắc phục tình trạng này ở châu Phi
2.3.4 Ghi nhớ thông tin
* Năng lực phát triển ở học sinh :
- Năng lực tự quản lí: Bước đầu biết làm việc độc lập theo thời gian biểu,
làm chủ được các cảm xúc của bản thân trong học tập và đời sống
- Năng lực giải quyết vấn đề: Thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến vấn đề
- Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ:
* Ưu, nhược điểm:
- Ưu điểm: ghi nhớ vừa giúp nhớ kiến thức, vừa tăng cường tính chủ động, tích cực trong học tập
- Nhược điểm: Ghi nhớ đòi hỏi yêu cầu cao với người học, nhất là sựu tự ý thức Vì thế, giáo viên khó kiểm soát được việc thực hiện của học sinh
* Các biện pháp ghi nhớ thông tin hiệu quả
Ghi nhớ là quá trình tiếp nhận thông tin và lưu giữ thông tin ấy trong đầu,
để sau đó có thể nhắc lại, dùng lại được Để có thể ghi nhớ thông tin nhanh và lâu, cần lưu ý các bước sau:
- Đọc đi đọc lại: Đọc lại những gì đã ghi chép sau buổi học sẽ giúp nhớ bài
tốt hơn Có thể đọc một tài liệu nhiều lần, mỗi lần với một mục tiêu khác nhau
và đọc theo đúng mục tiêu đó
- Nắm ý chính: Nắm được ý chính trong mỗi đoạn văn và hiểu nó theo cách
của mình là điều cốt lõi của việc đọc có hiệu quả
- Trích lược những chi tiết quan trọng: Mỗi ý chính trong một bài đều có
liên quan đến một chi tiết quan trọng, vì thế, nếu càng nhớ và dẫn được càng nhiều chi tiết quan trọng hay các liên hệ giữa các chi tiết và các ý, hoặc giữa các
ý với nhau, thì càng liên hệ được các ý tưởng với kiến thức nền tảng Nhờ đó, ta
dễ dàng huy động, sử dụng khi cần
- Ghi thành dàn bài: bằng cách chia nội dung bài thành các phần chính, có
bố cục rõ ràng
- Nhẩm trong óc: Là cách hệ thống lại và ôn từng phần của bài, chỗ nào
quên thì dừng lại và lật bài đã có ra xem Tiếp đó nhẩm sang phần khác, chú ý các phần quan trọng cần ghi nhớ Sau đó, tìm những nội dung còn sót để học lại cho thuộc và đặt thành câu hỏi rồi tự giải quyết câu hỏi ấy
- Ghi ra giấy: Có thể ghi riêng ra giấy những thuật ngữ hay những khái
niệm mới, sau đó đóng hay cất những tờ giấy này vào nơi dễ nhìn thấy, có thể
mở ra xem để ghi nhớ Khi ghi chỉ nên tóm tắt phần quan trọng, chính yếu nhất, tránh ghi rườm rà
- Hỏi và tự trả lời: Tự đặt cho mình những câu hỏi và trả lời các câu hỏi để ghi nhớ được các thông tin cần tìm hiểu Các loại câu hỏi như: Cái gì? Ở đâu?