Việc áp dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy kết hợp với các phương pháp học nhóm, công nghệ thông tin,… vào trong giảng dạy hiện đang là công cụ phù hợp và đạt hiệu quả mà ở một
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT QUAN HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC 1O CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN CHO HỌC SINH
TRƯỜNG THPT QUAN HÓA
Họ và tên: Lục Thị Thảo Chức vụ : Tổ trưởng Chuyên môn
SKKN thuộc môn: Hóa học
THANH HOÁ NĂM 2020
Trang 2MỤC LỤC
1 Mở đầu …… Trang 1
1.1 Lý do chọn đề tài Trang 1 1.2 Mục đích nghiên cứu Trang 2 1.3 Đối tượng nghiên cứu Trang 2 1.4 Phương pháp nghiên cứu Trang 2 1.5 Giới hạn của đề tài Trang 2
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm …….Trang 2 2.1 Cơ sở lý luận …….Trang 2
2.1.1 Khái quát về bản đồ tư duy …….Trang 2 2.1.2 Vai trò của bản đồ tư duy …….Trang 3 2.1.3.Xây dựng bản đồ tư duy …….Trang 3
2.1.3.1 Những điều cần tránh khi thiết kế bản đồ tư duy ……… Trang 3 2.1.3.2 Các bước để thiết bản đồ tư duy ……… Trang 3
2.2 Thực trạng và những mâu thuẫn ………Trang 4 2.3 Các biện pháp giải quyết vấn đề ……….Trang 5
2.3.1.Sử dụng bản đồ tư duy trong việc giảng bài mới……… Trang 5 2.3.2 Sử dụng bản đồ tư duy trong việc củng cố kiến thức bài học Trang 6 2.3.3.Sử dụng bản đồ tư duy để dạy các bài luyện tập ……… Trang 8
2.4 Hiệu quả của giải pháp ……… Trang 10
3 Kết luận và đề xuất ……… Trang 11
3.1 Ý nghĩa của giải pháp………Trang 11
3.2 Ý kiến đề xuất Trang 12 Tài liệu Tham khảo
Phụ lục
Chú giải danh mục viết tắt
Trang 31 Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
Hoá học không phải là quá trình được dạy, là sự tiếp nhận một cách thụ động những tri thức hoá học mà chủ yếu là quá trình học sinh tự học, tự nhận thức, tự khám phá, tìm tòi các tri thức hoá học một cách chủ động, tích cực, là quá trình tự phát hiện vấn đề và giải quyết các vấn đề Chính vì vậy mà việc đổi mới phương pháp trong dạy học phải phát huy được tính tích cực, năng lực sáng tạo, tính mềm dẻo, linh hoạt của học sinh
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Đó là quá trình làm cho người học trở thành chủ thể tích cực trong hoạt động học tập của chính họ Phương pháp dạy học tích cực đã
có từ xa xưa Ngày nay, do những yêu cầu đổi mới giáo dục, đáp ứng sự phát triển kinh tề - xã hội của đất nước trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, PPDH tích cực cần được quan tâm thực hiện và trở thành phổ biến trong nhà trường của chúng ta Để phát huy tính tích cực của học sinh cần tạo điều kiện để học sinh được suy nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn, được phát biểu quan niệm của mình, được đưa ra những nhận xét về vấn đề đang bàn luận, được tham gia vào quá trình học tập để chiếm lĩnh tri thức
Từ trước đến nay, đa số học sinh cho rằng Hóa học là môn học rất khó và khô khan Nhiều học sinh đã phải rất vất vả để ghi nhớ kiến thức nhưng kết quả mang lại chưa cao Thực tế cho thấy một số học sinh học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém, các em này thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau Phần lớn số học sinh này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Nguyên nhân đó chính là do các em chưa tìm ra phương pháp học tập phù hợp, chưa có phương pháp ghi nhớ kiến thức một hiệu quả Từ đó dễ gây tâm lý chán nản, buông xuôi dẫn đến
lỗ hổng kiến thức ngày càng rộng hơn và đến một lúc nào đó không thể lắp được
Hiện nay, các giáo viên đang áp dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực
để từng bước chuyển dần cách dạy học từ chỗ trang bị kiến thức cho học sinh sang dạy cho học sinh cách tiếp cận và tìm tòi kiến thức Từ đó, vận dụng kiến thức vào thực tế và biến đổi thành kỹ năng cho riêng bản thân mình Việc áp dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy kết hợp với các phương pháp học nhóm, công nghệ thông tin,… vào trong giảng dạy hiện đang là công cụ phù hợp và đạt hiệu quả mà ở một số trường đang dần thực hiện trong việc nâng cao chất lượng dạy và học trong giáo dục hiện nay
Với những vấn đề đặt ra ở trên đã khẳng định hơn nữa vai trò của giáo dục Dạy học không chỉ đơn thuần là cung cấp kiến thức mà còn phải giúp học sinh nhận thức được con đường chiếm lĩnh tri thức, giúp học sinh biết cách lựa chọn, hệ thống hóa và ghi nhớ kiến thức hiệu quả; đồng thời biết biết liên kết nhiều nguồn kiến thức lại với nhau và vận dụng một cách hiệu quả vào trong học
Trang 4Qua thực tế giảng dạy bồi dưỡng học sinh Tôi nhận thấy kết quả học tập của học sinh đã được nâng cao hơn, nhiều học sinh đã yêu thích môn Hoá học hơn Vì vậy tôi mạnh dạn đề xuất một kinh nghiệm nhỏ:
“Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học hóa học 10 chương trình cơ bản cho học sinh Trường THPT Quan Hóa.”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện sáng kiến này, nhằm mục đích:
- Khẳng định tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp trong giảng dạy
- Giúp học sinh lĩnh hội và vận dụng kiến thức tốt hơn
- Nâng cao kết quả học tập và chất lượng của học sinh trong các kì thi
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh lớp 10a1,10a2 Trường THPT Quan Hóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục:
- Phương pháp thu thập thông tin:
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
1.5 Giới hạn của đề tài.
Tổ chức hoạt động dạy học trong phạm vi chương trình của sách giáo khoa lớp 10 chương trình cơ bản cho học sinh lớp 10A1, 10A2 trường THPT Quan Hóa năm học 2019 – 2020
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận.
2.1.1 Khái quát về bản đồ tư duy.
Bản đồ tư duy hay còn gọi là sơ đồ tư duy do Tony buzan là người đầu tiên nghiên cứu tìm ra hoạt động của não bộ và ứng dụng vào cuộc sống Bản đồ
tư duy ( còn gọi là sơ đồ tư duy hay lược đồ tư duy ) là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức, bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực
Đặc biệt ở đây là một bản đồ mở, việc thiết kế bản đồ tư duy theo mạch tư duy của mỗi người, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồ địa lý, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một nội dung nhưng mỗi người có thể thể hiện nó dưới dạng bản đồ tư duy theo một cách riêng, do đó việc lập sơ đồ tư duy phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người
Bản đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó
là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não
Bản đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh) Bản đồ tư duy là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với nhau vì vậy có thể vận dụng sơ đồ tư duy vào hỗ trợ dạy học kiến thức
Trang 5mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương,
Bản đồ tư duy có những ưu điểm sau :
- Lôgic, mạch lạc
- Trực quan, dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ
- Nhìn thấy “bức tranh tổng thể mà lại chi tiết”
- Dễ dạy, dễ học
- Kích thích hứng thú học tập và sáng tạo của học sinh
- Giúp mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức
- Giúp hệ thống hóa kiến thức, ôn tập kiến thức
- Giúp ghi nhớ nhanh , nhớ sâu, nhớ lâu kiến thức
2.1.2 Vai trò của bản đồ tư duy.
Bản đồ tư duy giúp học sinh học được phương pháp học: Việc rèn luyện
phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn nhằm mục đích hình thành phương pháp tự học cho học sinh Sử dụng thành thạo bản đồ tư duy trong dạy học sẽ giúp học sinh học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy
Bản đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực: Một số kết quả
nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái
mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình, vì vậy việc sử dụng bản đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não giúp học sinh học tập một cách tích cực, là biện pháp hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học một cách hiệu quả Việc học sinh tự
vẽ bản đồ tư duy có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của học sinh, các
em tự “sáng tác” nên trên mỗi sơ đồ tư duy thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinh qua đó giáo viên có thể uốn nắn chỉnh sửa các lối cho học sinh
2.1.3 Xây dựng bản đồ tư duy.
2.1.3.1.Những điều cần tránh khi thiết kế bản đồ tư duy.
Không ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng: Khi thiết kế bản đồ tư duy cần chọn lọc những ý cơ bản, kiến thức cần thiết, ví dụ minh họa để có nhiều thông tin cho bài học Thiết kế bản đồ tư duy của một bài học phải thể hiện được kiến thức trọng tâm, cơ bản cần chốt lại của bài học đó
Không ghi chép quá nhiều ý không cần thiết hoặc quá sơ sài không có thông tin
Không dành quá nhiều thời gian để vẽ, viết, tô màu… Chỉ nên vẽ những hình ảnh có liên quan đến chủ đề kiến thức
Tránh khuynh hướng vẽ quá cầu kì những hình ảnh không cần thiết
2.1.3.2 Các bước để thiết bản đồ tư duy.
- Bước 1: Tên bài học hoặc chủ đề học tập
- Bước 2: Các nội dung cơ bản của bài học
- Bước 3: Những kiến thức cơ bản của các nội dung
Trang 6Trong quá trình giảng dạy tôi thiết kế bản đồ tư duy dựa trên tiện ích của phần mềm Buzan's iMindMap và Mindjet MindManager Pro đây là hai phần mềm có đồ họa và các tiện ích rất tốt để thiết kế bản đồ tư duy Tiện ích của hai phần mềm này giúp giáo viên có thể chuyển sang các định dạng phù hợp với nội dung bài dạy
2.2 Thực trạng và những mâu thuẫn.
Hóa học là một môn học gắn liền với các hiện tượng trong cuộc sống
Do đó giáo viên phải làm cho học sinh thông hiểu được vấn đề này Để làm được điều này không phải là nói suông mà chúng ta phải đưa kiến thức Hóa học vào cuộc sống, từ kiến thức Hóa học đã học các em có thể liên hệ để giải thích các hiện tượng đang diễn ra xung quanh Đây là một công việc không hề đơn giản chút nào Nó đòi hỏi học sinh phải chịu khó, biết liên hệ nhiều kiến thức…Đây
là công việc mà không phải bất lỳ học sinh nào cũng làm được Do đó giáo viên phải hướng dẫn học sinh phương pháp học tập để ghi nhớ kiến thức một cách đầy đủ và hệ thống, biết cách liên hệ, gắn kết các kiến thức đã học
Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy hầu hết học sinh không biết ghi chép kiến thức Các em chỉ trông chờ giáo viên đọc hoặc viết lên bảng rồi từ đó mới viết vào vở Các em không biết lĩnh hội kiến thức theo cách hiểu của mình mà chỉ ghi chép một cách thụ động Điều này dẫn tới chất lượng học tập chưa cao, học sinh không tích cực trong học tập cũng như không tích cực trong ghi nhớ kiến thức
Phần đông học sinh chưa có phương pháp tự học, đặc biệt là đối với học sinh miền núi nói chung và học sinh Quan hóa nói riêng Do đó việc ghi nhớ những kiến thức đã học còn hạn chế và đặc biệt là có nhiều trường hợp học sau quên trước Việc kiểm tra đánh giá học sinh còn mang tính tái hiện kiến thức nên thường dẫn tới việc các em học vẹt, không có tư duy lôgic
2.3 Các biện pháp giải quyết vấn đề.
Trong thực tế giảng dạy tôi sử dụng bản đồ tư duy vào giảng dạy bài mới, cũng cố kiến thức sau bài học, dạy các bài luyện tập và bài thực hành
Trang 72.3.1 Sử dụng bản đồ tư duy trong việc giảng bài mới.
Để sử dụng bản đồ tư duy trong day bài mới tôi xây dựng bản đồ tư duy trên phần mềm Buzan's iMindMap sau đó chuyển sang định dạng file PowerPoint File này được sử dụng như các đường dẫn để học sinh xây dựng các phần kiến thức của bài học
Khi giảng dạy trên lớp tôi chia lớp thành 4 hoặc 5 nhóm mỗi nhóm được phát giấy A0 và bút màu Các nhóm sẽ nghiên cứu bài theo các nội dung của bài học Cuối tiết học các nhóm đã xây dựng được một bản đồ tư duy của bài học đó
Giáo viên yêu cầu các nhóm trình bày bản đồ tư duy của nhóm mình các nhóm khác nhận xét để hoàn thiện bản đồ tư duy của nhóm mình Khi kết thúc bài học thì bản đồ tư duy cũng được hình thành
Trong thực tiễn giảng dạy tôi nhận ra sử dụng bản đồ tư duy khi dạy các bài về chất mới như bài Clo, Flo –Brom- Iot, Oxi – Ozon, Lưu huỳnh… đạt được hiệu quả cao Các bài về chất này thường có mô tiếp tương tự nhau nên việc sử dụng bản đồ tư duy kết hợp với phương pháp thảo luận nhóm đạt được hiệu quả cao, học sinh lĩnh hội kiến thức chủ động hơn
Khi dạy bài đầu tiên thì giáo viên cần làm rõ hơn cách xây dựng một bản
đồ tư duy để học sinh làm quen với bản đồ tư duy tổng thể của một bài, từ các bài dạy tiếp theo việc dạy theo bản đồ tư duy trở nên đơn giản và hiệu quả
Ví dụ : Thiết kế bản đồ tư duy dạy bài Clo
Bước đầu giáo viên thiết kế mẫu gồm những nội dung cơ bản của bài Clo như hình vẽ sau
Sau khi các học sinh trong các nhóm nắm được những nội dung của bài học, giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh tìm hiểu các nội dung của bài Để các nhóm tìm hiểu kiến thức tôi sử dụng file PowerPoint để hướng dẫn các nhóm tìm hiểu từng nội dung của bài Các nhóm thảo luận và hoàn thành bản đồ tư duy bài Clo của nhóm Giáo viên yêu cầu các nhóm báo cáo kết quả, các nhóm còn lại nhận xét để hoàn thành bản đồ tư duy của bài học
Bản đồ tư duy của bài Clo có thể thiết kế như sau:
Trang 82.3.2 Sử dụng bản đồ tư duy trong việc củng cố kiến thức bài học.
Bản đồ tư duy rất phù hợp với mục đích củng cố kiến thức cho học sinh sau bài học Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy dạng bài tập thích hợp để củng cố bài học là điền thông tin còn thiếu vào sơ đồ tư duy Các thông tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toàn bài để một lần nữa nhằm khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm của bài học
Ví dụ 1: Khi học xong bài “ Thành phần nguyên tử ” giáo viên yêu cầu
học sinh vẽ BĐTD tư duy để củng cố bài học
Để xây dựng được BĐTD học sinh cần nhớ được nội dung chính của bài gồm 2 nội dung lớn gồm:
-Thành phần cấu tạo nguyên tử
- Kích thước và khối lượng nguyên tử
Trong đó :
Mỗi nội dung lại bao gồm các nội dung nhỏ
+Thành phần cấu tạo nguyên tử bao gồm 2 nội dung nhỏ hơn là Electron và hạt nhân nguyên tử ( Thí nghiệm tìm ra các hạt cấu tạo nên nguyên tử, khối lượng, điện tích)
+ Kích thước nguyên tử , hạt nhân nguyên tử và đơn vị đo
+ Khối lượng các hạt cấu tạo nên nguyên tử
Trang 9Ví dụ 2: Khi học xong bài “ Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học ” giáo
viên yêu cầu học sinh vẽ BĐTD để củng cố bài học.Để có thể vẽ được BĐTD học sinh cần nhớ lại các nội dung lớn của bài, trong các nội dung lớn đó bao gồm những nội dung nhỏ nào và đặc điểm cần lưu ý cũng như nội dung quan trọng của mỗi nội dung Khi nắm được nội dung trọng tâm các em sẽ biết cách vận dụng để trả lời các câu hỏi bài tập lí thuyết lẫn bài tập tính toán.Cụ thể bài
có 2 nội dung lớn là : Nguyên tắc sắp xếp các nguyên tố trong bảng tuần hoàn
và cấu tạo bảng tuần hoàn Học sinh phải trình bày được các ý nhỏ của mỗi nội dung sau đó hoàn thiện thành bản đồ tư duy
Trang 102.3.3 Sử dụng bản đồ tư duy để dạy các bài luyện tập.
Dùng BĐTD có thể thể hiện một lượng thông tin nhỏ đến lớn và rất lớn
Do đó trong các bài luyện tập giáo viên hướng dẫn học sinh hệ thống hóa lại kiến thức, nội dung bài học Trong quá trình giảng bài luyện tập ở phần kiến thức cần nắm vững tôi nhận thấy nếu cứ dạy theo phương pháp cũ thì học sinh thấy nhàm chán một số còn không nắm lại được kiến thức, nên tôi luôn yêu cầu học sinh hệ thống hóa kiến thức trên bản đồ tư duy, sau đó yêu cầu một học sinh trình bày và các học sinh khác nhận xét, từ đó kết luận các kiến thức trọng tâm của bài
Ví dụ 1: Dạy bài “ Bài 3: Luyện tập: Thành phần nguyên tử” bản đồ tư duy có
thể thiết kế đơn giản như sau:
Hiểu được nội dung trọng tâm trong bài gồm:
- Cấu tạo nguyên tử
- Đặc điểm thành phần cấu tạo nguyên tử
- Hạt nhân nguyên tử, kí hiệu nguyên tử
Từ đó học sinh xây dựng thành BĐTD , học sinh khác bổ sung nhận xét và cho các em làm bài tập vận dụng từ thấp đến vận dụng cao