1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HƯỚNG dẫn học SINH KHÁ, GIỎI PHƯƠNG PHÁP GIẢI các bài TOÁN NÂNG CAO về mức CƯỜNG độ âm

20 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 415 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng một số phương pháp sau : - Nghiên cứu lí thuyết về mức cường độ âm, các kiến thức vật lí có liên quan đã được học ở cá

Trang 1

I MỞ ĐẦU:

1.1 Lý do chọn đề tài:

Vật lí là một môn học khó và trừu tượng, cơ sở của nó là toán học Bài tập vật

lí rất đa dạng và phong phú Trong phân phối chương trình số tiết bài tâp lại hơi ít

so với nhu cầu cần củng cố và nâng cao kiến thức cho học sinh Chính vì thế, người giáo viên phải làm thế nào để tìm ra phương pháp tốt nhất nhằm tạo cho học sinh niềm say mê yêu thích môn học này Giúp học sinh việc phân loại các dạng bài tập

và hướng dẫn cách giải là rất cần thiết Việc làm này rất có lợi cho học sinh trong thời gian ngắn đã nắm được các dạng bài tập, nắm được phương pháp giải và từ đó

có thể phát triển hướng tìm tòi lời giải mới cho các dạng bài tương tự

Trong yêu cầu về đổi mới giáo dục về việc đánh giá học sinh bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan thì khi nắm được dạng bài và phương pháp giải sẽ giúp cho học sinh nhanh chóng trả được bài

Trong chương trình Vật lí lớp 12, chương “Sóng cơ” có nhiều dạng bài tập phức tạp và khó Nhóm các bài toán về mức cường độ âm là một trong những nhóm bài tập phức tạp và khó nhất trong chương (bởi lẽ nhiều bài tập không theo một quy luật chung nào cả), học sinh thường rất lúng túng khi gặp câu trắc nghiệm phần này, phần lớn là các em bỏ qua câu này hoặc chọn bừa đáp án Có nhiều em thường rất sợ khi đề thi có câu trắc nghiệm của phần này

Qua quá trình nghiên cứu rất nhiều tài liệu từ nhiều tác giả, qua rất nhiều kênh thông tin (như: sách tham khảo, Internet ), tôi thấy rằng các tác giả chưa thực sự đi sâu vào tính tổng quát của loại bài toán này Cho đến nay chưa có một tác giả nào phân ra từng dạng và tìm ra quy luật giải cho mỗi dạng toán của phần này, thường đưa ra cách giải phức tạp và không có tính tổng quát gây hoang mang cho học sinh

Xuất phát từ thực trạng trên tôi mạnh dạn đề xuất đề tài “Hướng dẫn học sinh khá, giỏi phương pháp giải các bài toán nâng cao về mức cường độ âm”

nhằm góp ích vào nâng cao hiệu quả giảng dạy cho môn học

1.2 Mục đích nghiên cứu:

1.2.1 Đối với giáo viên.

Nhằm xây dựng một chuyên đề chuyên sâu, chi tiết có thể làm tài liệu tham khảo cho các đồng nghiệp ôn thi THPT Quốc Gia và ôn thi học sinh giỏi

1.2.2 Đối với học sinh.

Đề tài nhằm giúp học sinh khá, giỏi khắc sâu những kiến thức lí thuyết, có một hệ thống bài tập và phương pháp giải chúng, giúp các em có thể nắm được cách giải và từ đó chủ động vận dụng các phương pháp này trong khi làm bài tập có liên quan Từ đó học sinh có thêm kỹ năng về cách giải các bài tập Vật lí, có thể

Trang 2

nhanh chóng giải các bài toán trắc nghiệm về mức cường độ âm phong phú và đa dạng

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Tôi đã thực hiện dạy đề tài này trên lớp 12A3 trong năm học 2018 – 2019, so sánh với lớp 12A5 cùng đối tượng

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng một số phương pháp sau :

- Nghiên cứu lí thuyết về mức cường độ âm, các kiến thức vật lí có liên quan (đã được học ở các lớp dưới), các công cụ toán học và đi sâu vào phần bài tập về mức cường độ âm của chương trình vật lí lớp 12, từ đó xây dựng cơ sở lí thuyết cho loại bài tập này

- Phân tích và giải các bài tập phần mức cường độ âm

- Sử dụng phương pháp hoạt động nhóm và động não khi dạy bài tập phần này cho học sinh

- Phương pháp khảo sát thực tế và thu thập thông tin

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Đối với môn vật lí ở trường phổ thông, bài tập vật lí đóng một vai trò hết sức quan trọng, việc hướng dẫn học sinh làm bài tập vật lí là một hoạt động dạy học, một công việc khó khăn, ở đó bộc lộ rõ nhất trình độ của người giáo viên vật lí trong việc hướng dẫn hoạt động trí tuệ của học sinh, vì thế đòi hỏi người giáo viên

và cả học sinh phải học tập và lao động không ngừng Bài tập vật lí sẽ giúp học sinh hiểu sâu hơn những qui luật vật lí, những hiện tượng vật lí Thông qua các bài tập ở các dạng khác nhau tạo điều kiện cho học sinh vận dụng linh hoạt những kiến thức để tự lực giải quyết thành công những tình huống cụ thể khác nhau thì những kiến thức đó mới trở nên sâu sắc hoàn thiện và trở thành vốn riêng của học sinh Trong quá trình giải quyết các vấn đề, tình huống cụ thể do bài tập đề ra học sinh phải vận dụng các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp khái quát hoá để giải quyết vấn đề, từ đó sẽ giúp phát triển tư duy và sáng tạo, óc tưởng tượng, tính độc lập trong suy nghĩ, suy luận Nên bài tập Vật lí gây hứng thú học tập cho học sinh

Đối với phần kiến thức về “mức cường độ âm” tôi thấy việc phân dạng, chỉ rõ điểm mấu chốt của vấn đề sẽ giúp học sinh, đặc biệt là học sinh giỏi không chỉ nắm vững kiến thức phần đã học mà còn có thể vận dụng sáng tạo vào giải quyết tốt các bài toán tương tự

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

2.2.1 Thuận lợi

Trong quá trình giảng dạy, khi tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của một số học

sinh lớp 12 tôi được biết có rất nhiều học sinh thích học môn vật lí, nhiều học sinh

có nguyện vọng thi vào đại học khối A và khối A1

2

Trang 3

2.2.2 Khó khăn:

Là một giáo viên khi dạy bài tập phần mức cường độ âm, tôi thấy sách giáo khoa chỉ đề cập đến những vấn đề hết sức cơ bản về mức cường độ âm (Như: Tìm cường độ âm hoặc mức cường độ âm tại một vị trí cách nguồn âm một khoảng cho trước, tìm công suất phát âm của nguồn, tìm khoảng cách từ nguồn tới một vị trí ) với số lượng bài tập không nhiều và còn đơn giản trong khi đó các bài tập phần này rất đa dạng và thường xuất hiện nhiều trong các đề thi THPT Quốc Gia, đề thi thử THPT Quốc Gia của các trường trên cả nước Khi gặp các bài toán thuộc dạng nâng cao về mức cường độ âm thì học sinh thường lúng túng không biết cách giải hoặc phải mất rất nhiều thời gian cho một bài, trong khi thời gian dành cho mỗi câu trong các đề thi trắc nghiệm lại rất ngắn Thực tế phần bài tập mức cường độ âm dành cho đối tượng học sinh giỏi thì có rất ít các tài liệu hướng dẫn một cách hệ thống, do vậy trong qúa trình giảng dạy việc tổng hợp kiến thức, phân chia dạng toán, hướng dẫn cụ thể là việc làm vô cùng quan trọng của mỗi người giáo viên; bởi có làm như vậy mới giúp học sinh hiểu rõ bản chất của vấn đề và vận dụng làm bài tập một cách có hiệu quả

Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy rằng đa số học sinh khi học đến phần mức cường độ âm thì tỏ ra không mấy hứng thú, nhiều em thì thiếu tự tin vào bản thân mình khi tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài Khi làm các đề kiểm tra chất lượng ôn thi cho kì thi Quốc Gia thì các em thường bỏ qua các câu hỏi của phần này, hoặc là đánh bừa đáp án Từ đó dẫn đến kết quả của việc dạy và học của phần này là không cao Bằng một khảo sát nhỏ tôi đã thu thập được ý kiến đánh giá của các em về phần này như sau:

Ý kiến

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

Từ thực tế như trên tôi đã đề ra một số biện pháp khắc phục như sau:

2.3.1 Các yêu cầu chung:

Trước khi giảng dạy phần bài tập nâng cao về mức cường độ âm, tôi đã yêu cầu học sinh phải nắm chắc các kiến thức của các dạng bài tập cơ bản về cường độ

âm và mức cường độ âm, bao gồm:

- Biết khoảng cách từ nguồn âm đến một vị trí nào đó, tìm cường độ âm và mức cường độ âm tại vị trí đó (hoặc ngược lại biết cường độ âm, mức cường độ âm tại một vị trí xác định, tìm khoảng cách từ vị trí đó tới nguồn)

- Biết mức cường độ âm, tìm cường độ âm, công suất của nguồn âm

Trang 4

Mặt khác tôi đã tiến hành nghiên cứu, phân loại các dạng bài tập về mức cường độ âm, thiết lập một số công thức tổng quát; đồng thời cũng yêu cầu học sinh thiết lập các công thức hệ quả cho từng loại bài toán qua đó học sinh sẽ nắm vững bản chất của từng loại bài toán

2.3.2 Biện pháp phân loại bài tập và thiết lập công thức tổng quát theo từng dạng.

Để học sinh nắm vững được phần kiến thức cần tiếp nhận tôi đã thực hiện

theo quy trình như sau:

Bước 1: Hệ thống lại các kiến thức cơ bản của phần mức cường độ âm.

Bước 2: Ôn lại một số kiến thức bổ trợ cho việc giải bài tập phần này: Động

học chất điểm trong chương trình vật lí lớp 10, các công thức toán học

Bước 3: Phân loại các dạng bài tập về mức cường độ âm (nêu rõ kiến thức

trọng tâm của mỗi dạng toán) Đối với phần mức cường độ âm, tôi phân ra làm hai mảng bài tập (mảng bài tập cơ bản và mảng bài tập nâng cao), với mỗi mảng bài tập đó tôi lại phân ra theo dạng bài tập

Bước 4: Hướng dẫn học sinh làm một số bài tập ví dụ cụ thể về mỗi dạng

toán

Bước 5: Sau mỗi dạng toán rút ra những lưu ý cho học sinh cần ghi nhớ

những chỗ mà học sinh thường hay mắc phải nhầm lẫn (nếu có)

Bước 6: Đưa ra các bài toán để học sinh tự rèn luyện thêm nhằm nâng cao kĩ

năng giải toán

a Kiến thức cơ bản về cường độ âm và mức cường độ âm tại một điểm xác định  4 .

- Cường độ âm tại một điểm xác định: 4 R2

P

I M

- Mức cường độ âm tại một điểm xác định:

0 log 10

I

I

M

Trong đó: P là công suất của nguồn âm đặt tại vị trí O (W).

R là khoảng cách từ nguồn âm đến điểm đang xét M (m).

I M là cường độ âm tại vị trí M 

 2

m

W

L M là mức cường độ âm tại M (dB)

I 0 là cường độ âm chuẩn 

 2

m

W

4

(Hình vẽ 1)

Nguồn âm

R

Trang 5

b Ôn lại các kiến thức cơ bản về động học chất điểm  4 :

b.1 Chuyển động thẳng đều:

Độ lớn vận tốc: v = không đổi

Quãng đường: s = v.t

Phương trình chuyển động : x = x0 + v.t

b.2 Chuyển động thẳng biến đổi đều:

Công thức tính vận tốc: vv0 at

Công thức tính gia tốc:

t

v v

Công thức tính quãng đường:

a

v v at t v S

2 2

0

2 2 0

b.3 Rơi tự do:

Quãng đường rơi tự do: 2

2

1

gt

S 

Thời gian rơi tự do: t  2g S

c Ôn lại các kiến thức toán học liên quan, dùng bổ trợ cho việc giải bài tập phần này.

c.1 Các công thức về logarit  5 :

loga = n → a = 10 n (Điều kiện: a > 0)

loga m = mloga

loga – logb = log b a

loga + logb = loga b

c.2 Phương pháp chuẩn hóa số liệu  3 :

Phương pháp “Chuẩn hóa số liệu” là dựa trên việc thiết lập tỉ lệ giữa các đại

lượng vật lý (thông thường là các đại lượng cùng đơn vị), theo đó đại lượng này sẽ

tỉ lệ theo đại lượng kia với một hệ số tỉ lệ nào đó, nó giúp ta có thể gán số liệu đại lượng này theo đại lượng kia và ngược lại

Dấu hiệu nhận biết để áp dụng phương pháp này là bài ra sẽ cho biết các tỉ lệ giữa các đại lượng cùng đơn vị; hoặc là biểu thức liên hệ giữa các đại lượng ấy với nhau có dạng tỉ số Sau khi nhận biết, xác định được “đại lượng cần chuẩn hóa” thì

ta bắt đầu tính toán, việc xác định được “đại lượng cần chuẩn hóa” thông thường sẽ

Trang 6

là đại lượng nhỏ nhất và gán cho đại lượng ấy bằng 1, các đại lượng khác sẽ từ đó biểu diễn theo “đại lượng chuẩn hóa” này

Như vậy ý nghĩa của chuẩn hóa là làm đơn giản các phép tính, giảm thiểu tối

đa ẩn số và đưa đến phương trình đơn giản đề bấm máy tính nhanh gọn phù hợp với tính chất của thi trắc nghiệm

Ví dụ đơn giản: Cho phương trình a2 + ab – 2b2 = 0 (a, b ≠ 0) (*) Tính tỉ số b a ?

- Cách làm thông thường:

Chia hai vế cho b2 (hoặc a2) ta được:

2

1 0

2

2

b a b a b

a

b

a

(Bấm máy tính với ẩn số X  b a)

- Cách chuẩn hóa:

Ta chuẩn hóa a = 1 (hoặc b = 1)

Khi đó phương trình (*) trở thành: 1 + b – 2b2 = 0, bấm máy ta thu được b = 1 

1

b

a

hoặc b =  

2

b a

Lưu ý:

- Ở phương trình (*) vế trái và vế phải phải đồng bậc (Nếu xét cho bài toán vật lý thì khi chuẩn hóa một đại lượng từ biểu thức thì nhất thiết biểu thức đó phải cùng thứ nguyên)

- Việc chuẩn hóa hợp lý thì sẽ giải quyết nhanh, nếu không biết chuẩn hóa, chuẩn hóa tùy tiện thì sẽ dẫn đến sai kết quả Do đó muốn thành thạo phương pháp này đòi hỏi các em phải làm nhuần nhuyễn các bài tập

c.3 Các công thức hình học liên quan  5 :

Cho tam giác ABC vuông góc tại A, đường cao AH (Hình vẽ 2) Khi đó ta

có:

c 2 = ac', b 2 = ab'

a 2 = b 2 + c 2

ah = bc

h 2 = b'.c'

6

(Hình vẽ 2)

Trang 7

2 2 2

1 1 1

b a

h  

d Các dạng toán.

Trong quá trình giảng dạy phần này, trước khi đi cụ thể đối với từng loại bài tập tôi đã định hướng học sinh một cách tổng quát nhất, đó là kĩ năng phân tích đề bài Đối với mỗi bài toán phần này cần chia làm các phần (phần bản chất Vật lý, phần kĩ năng biến đổi toán học và những lưu ý về các cách hiểu khác khi làm bài)

Về phần bản chất vật lý : Cần phải giúp học sinh nhận diện được loại bài

toán về mức cường độ âm bằng cách phân loại bài tập phần này và chỉ ra được những dấu hiệu cụ thể mà đề bài thường đề cập tới

Sau đây tôi xin đưa ra cách giải một số loại bài tập nâng cao của phần này như sau:

Dạng 1: Bài toán có liên quan tới mức cường độ âm tại các vị trí khác nhau (khi công suất của bộ nguồn âm không đổi).

Trước khi đưa ra phương pháp giải đối với dạng bài tập này giáo viên cần lưu

ý học sinh một số dấu hiệu để nhận diện dạng bài tập này như sau :

- Thứ nhất: Đối với loại bài tập dạng này đề bài thường đề cập tới các vị trí khác nhau (có thể nằm trên cùng một phương truyền sóng hoặc không nằm trên một phương truyền sóng), ít nhất là hai vị trí

- Thứ hai: Điều kiện bài toán bao giờ cũng cho là “công suất phát sóng âm của bộ nguồn đặt tại một điểm là không đổi”

- Thứ ba: Đề bài thường cho các mức cường độ âm tại các vị trí mà đề bài đề cập tới, cho biết một vài khoảng cách và yêu cầu tìm các khoảng cách chưa biết hoặc tỉ

số giữa các khoảng cách (hoặc ngược lại)

Các bước thông thường để giải bài tập dạng này như sau:

- Bước 1: Tìm công thức chủ đạo cho dạng bài toán này

Xét hai vị trí 1 và 2, cách nguồn âm các khoảng lần lượt là R 1 và R 2, có các cường

độ âm và mức cường độ âm lần lượt là I 1 , I 2 và L 1 , L 2 Khi đó ta luôn có:

I 1 = 2

1

4 R

P

; I 2 = 2

2

4 R

P

L 1 – L 2 = 10log

1 2 2

1 20 log

R

R I

I

 (1)

- Bước 2: Áp dụng công thức (1) cho các cặp vị trí khác nhau:

Trang 8

Xét cặp vị trí 1 và 2: L 1 – L 2

1

2

log 20

R

R

Xét cặp vị trí 2 và 3: L 2 – L 3

2

3

log 20

R

R

Xét cặp vị trí 1 và 3: L 1 – L 3

1

3

log 20

R

R

- Bước 3: Sử dụng kĩ năng toán học để giải (cần phải sử dụng kết hợp với các công thức toán học, phương pháp chuẩn hóa số liệu để tìm mối liên hệ giữa các khoảng cách)

Dạng 2 : Bài toán liên quan tới mức cường độ âm tại các vị trí khác nhau khi nguồn âm hoặc thiết bị đo mức cường độ âm chuyển động thẳng (công suất của bộ nguồn không đổi).

Trước khi đưa ra phương pháp giải dạng bài toán này giáo viên cần lưu ý học sinh về các dấu hiệu để nhận biết dạng bài toán này như sau :

- Thứ nhất: Đối với loại bài tập dạng này đề bài thường đề cập tới các vị trí khác nhau (có thể nằm trên cùng một phương truyền sóng hoặc không nằm trên một phương truyền sóng), ít nhất là hai vị trí

- Thứ hai: Điều kiện bài toán bao giờ cũng cho là “công suất phát sóng âm của bộ nguồn đặt tại một điểm là không đổi”

- Thứ ba: Đề bài thường cho các mức cường độ âm tại các vị trí mà đề bài đề cập tới, cho biết một vài khoảng cách và yêu cầu tìm các khoảng cách chưa biết hoặc tỉ

số giữa các khoảng cách

- Thứ tư: Đề bài sẽ cho biết tính chất chuyển động của nguồn âm hoặc thiết bị đo mức cường độ âm (chuyển động thẳng đều, chuyển động thẳng biến đổi đều, rơi tự do)

Các bước thông thường để giải bài tập dạng này như sau:

- Bước 1 và bước 2 làm tương tự như dạng 1

- Bước 3: Lựa chọn các công thức động học chất điểm phù hợp với tính chất chuyển động của nguồn phát sóng âm hoặc thiết bị đo mức cường độ âm

- Bước 4: Sử dụng kĩ năng toán học để giải (cần phải sử dụng kết hợp với các công thức toán học để tìm mối liên hệ giữa các khoảng cách)

Dạng 3 : Bài toán liên quan tới mức cường độ âm tại các vị trí khác nhau khi công suất của nguồn có sự thay đổi.

8

Trang 9

Trước khi đưa ra phương pháp giải dạng bài toán này giáo viên cần lưu ý học

sinh về các dấu hiệu để nhận biết dạng bài toán này như sau :

- Thứ nhất: Đối với loại bài tập dạng này có trường hợp đề cho các khoảng cách hoặc mối liên hệ giữa các khoảng cách, cho biết số nguồn (hoặc công suất của nguồn) trước hoặc sau khi thay đổi, yêu cầu tìm số nguồn (hoặc công suất của nguồn) chưa biết

- Thứ hai: Có thể đề bài cho biết số nguồn lúc trước và sau khi thay đổi, tìm khoảng cách chưa biết hoặc mối liên hệ giữa các khoảng cách

- Thứ ba: Có thể đề bài yêu cầu tìm số nguồn tăng thêm hoặc giảm bớt đi (hoặc công suất tăng thêm hay giảm đi)

Phương pháp thông thường để làm dạng toán này như sau :

- Bước 1 : Tìm ra công thức chủ đạo có liên quan trực tiếp đến các đại lượng mà bài toán đề cập tới

Xét hai vị trí 1 và 2, cách nguồn âm các khoảng lần lượt là R 1 và R 2 có các cường

độ âm và các mức cường độ âm lần lượt là I 1, I 2 và L 1 , L 2 Khi đó ta luôn có:

I 1 = 2

1

1

4 R

P

; I 2 = 2

2

2

4 R

P

L 1 – L 2 = 10log





2

1 2 2 1 2

1 10 log

R

R P

P I

I

(2)

- Bước 2 : Áp dụng công thức chủ đạo (2) cho các lần thay đổi công suất của bộ nguồn

Lần đầu: L 1 – L 2 = 10log





2

1 2 2 1 2

1 10 log

R

R P

P I

I

Lần 2: L 2 – L 3 = 10log





2

2 3 3 2 3

2 10 log

R

R P

P I

I

Lần 3: L 1 – L 3 = 10log





2

1 3 3 1 3

1 10 log

R

R P

P I

I

- Bước 3 : Sử dụng kĩ năng toán học để giải (cần phải sử dụng kết hợp với các công thức toán học để tìm mối liên hệ giữa các khoảng cách)

Lưu ý: Điều kiện chung của cả ba dạng bài tập ở trên là “nguồn phát sóng âm đẳng

hướng trong không gian, coi môi trường không hấp thụ âm”

đ Các ví dụ cụ thể về các dạng toán đã nêu ở trên:

Trang 10

Sau đây tôi xin đưa ra một số bài toán ví dụ cụ thể mà tôi nghĩ nó rất cần cho

vấn đề nâng cao chất lượng ôn thi THPT Quốc Gia

Bài 1  1 : Ba điểm O, A, B cùng nằm trên một nửa đường thẳng xuất phát từ

O Tại O đặt một nguồn điểm phát sóng âm đẳng hướng trong không gian, môi

trường không hấp thụ âm Mức cường độ âm tại A là 60 dB, tại B là 20 dB Mức

cường độ âm tại trung điểm M của đoạn AB là

A 40 dB B 34 dB C 26 dB D 17 dB.

Giải : + Bài này chỉ đề cập tới mức cường độ âm tại các vị trí khác nhau mà không

đề cập tới sự thay đổi của công suất hay số nguồn, đây chính là dấu hiệu cho thấy

bài toán này thuộc dạng 1

+ Áp dung công thức (1) cho cặp vị trí A và B ta có: L A – L B = 20logOB OA

Gán cho OA = 1 ta có L A – L B = 20logOB

 60 – 20 = 20logOB  OB = 102 = 100  AB = OB – OA = 99

Vì M là trung điểm của AB (Hình vẽ 3), nên: OM = OA + AM = 1 + 49,5 = 50,5

+ Áp dụng công thức (1) cho cặp vị trí A và M ta có:

L A – L M = 20log OM OA = 20log(50,5)

 60 – L M = 20log(50,5)  L M ≈ 26 dB

Kết luận: Như vậy mức cường độ âm tại trung điểm M của đoạn AB xấp xỉ bằng 26

dB (chọn đáp án C)

Bài 2  2 : Ba điểm A, O, B cùng nằm trên đường thẳng qua O, với A, B khác

phía so với O Tại O đặt một nguồn điểm phát sóng âm đẳng hướng ra không gian,

coi môi trường không hấp thụ âm Mức cường độ âm tại A là 100 dB, tại B là 86

dB Mức cường độ âm tại trung điểm M của đoạn AB là:

A 93 dB B 186 dB C 94 dB D 90,4 dB.

Giải : + Bài này chỉ đề cập tới mức cường độ âm tại các vị trí khác nhau mà không

đề cập tới sự thay đổi của công suất hay số nguồn, đây chính là dấu hiệu cho thấy

bài toán này thuộc dạng 1

+ Áp dung công thức (1) cho cặp vị trí A và B ta có: L A – L B = 20log OB OA

Gán cho OA = 1 ta có L A – L B = 20log OB

 100 – 86 = 20logOB  OB = 100,7  AB = OB + OA = 100,7 + 1

Vì M là trung điểm của AB (Hình vẽ 4), nên: MA = MB =

2

AB

≈ 3,006

 OM = MA - OA = 2,006

F

10

O

(Hình vẽ 3)

Ngày đăng: 13/07/2020, 18:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w