SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓATRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA IV SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI : HƯỚNG DẪN HỌC SINH SỬ DỤNG ATLAT ĐỊA LÍ VIỆT NAM ĐỂ HỌC BÀI 32 “VẤN ĐỀ KHAI THÁC THẾ MẠNH Ở TRUNG D
Trang 1SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA IV
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI : HƯỚNG DẪN HỌC SINH SỬ DỤNG ATLAT ĐỊA LÍ VIỆT NAM ĐỂ HỌC BÀI 32 “VẤN
ĐỀ KHAI THÁC THẾ MẠNH Ở TRUNG DU VÀ MIỀN MÚI BẮC BỘ” – ĐỊA LÍ LỚP 12 CƠ BẢN
Người thực hiện: Nguyễn Thị Nhung
Chức vụ : Giáo viên SKKN thuộc môn : Địa lí
THANH HÓA NĂM 2020
Trang 21 Mở đầu 1.1 Lý do chọn đề tài
Việc dạy học địa lí ở trường phổ thông hiện nay là một quá trình sư phạmphức tạp, bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của giáo viên và học sinh Nhữnghoạt động đó nhằm mục đích: học sinh nắm vững tri thức địa lí và phát triển tưduy địa lí Do dạy học địa lí là một quá trình rất phức tạp nên đòi hỏi người giáoviên cần có một phương pháp dạy học đúng đắn, khoa học và linh hoạt mới cóthể đạt được mục đích dạy học
Có nhiều quan niệm khác nhau về phương pháp dạy học địa lí Có quanniệm cho rằng: chỉ cần có những tri thức địa lí sâu rộng là có thể dạy học địa lí
Ý kiến khác cho rằng phương pháp dạy học địa lí chỉ là phương tiện, thủ thuậtcủa người thầy để cung cấp kiến thức cho học sinh Chỉ cần có kiến thức địa lívững chắc, cứ dạy theo sách giáo khoa không cần phải có những tư tưởng,phương pháp giáo dục
Những quan điểm trên rất phiến diện và sai lầm Về mặt lí luận, nói đếnphương pháp là nói đến đối tượng cần tác động, làm biến đổi đối tượng cho phùhợp với mục đích của sự nghiệp giáo dục Không hiểu được quy luật vận độngcủa đối tượng thì không thể có phương pháp, cách thức tác động đến đối tượng
đó Một phương pháp được coi là khoa học khi nó tác động đúng vào đối tượngphù hợp với quy luật vận động của đối tượng
Nói đến phương pháp dạy học là nói đến các yếu tố cấu thành: mục đích,nội dung, phương pháp dạy học Các yếu tố này có tác động biện chứng vớinhau Mục đích và nội dung tác động phương pháp dạy học và phương pháp dạyhọc lại tác động trở lại giúp chúng ta thực hiện tốt nội dung và đạt được mụcđích dạy học Khoa học dạy học địa lí đã ra đời dựa trên cơ sở nghiên cứu quyluật nhận thức của đối tượng và bản chất của nhận thức đó là đi từ trực quansinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Do đó để
có thể truyền thụ một cách tốt nhất những kiến thức địa lí đến học sinh thì chúngta- những người giáo dục cần phải có phương pháp dạy học riêng của mình,vìmỗi đối tượng có một cách tiếp thu, lĩnh hội tri thức riêng Vì thế giáo viên cầnlinh hoạt, có những tri thức về quy luật vận động nội tại của đối tượng trước khixác định phương pháp, tức là phương pháp có chủ thể và khách thể, phải xuấtphát từ việc nắm vững quy luật vận động của đối tượng ,quy luật nhận thức của
Trang 3học sinh để có tư tưởng giáo dục và dạy học đúng đắn chỉ đạo Phải nắm vững
và vận dụng một cách linh hoạt và thành thạo kĩ năng, kĩ xảo và phương phápdạy học phải dựa trên gốc rễ sâu bền là khoa học và thực tiễn
Phương pháp dạy học địa lí cũng đòi hỏi những kinh nghiệm dạy họccũng như năng lực lao động sáng tạo, không ngừng cải tiến phương pháp dạyhọc của người thầy và cải tiến phương pháp tiếp cận, lĩnh hội của học sinh Haynói khác đi, phương pháp dạy học còn là một nghệ thuật của người thầy
Trong phương pháp dạy học có hai hoạt động: dạy và học, do hai chủ thểđảm nhiệm Hai hoạt động này có tác động biện chứng với nhau.Thầy đóng vaitrò chủ đạo tổ chức, hướng dẫn; trò có vai trò tích cực chủ động trong quá trìnhthi công lĩnh hội tri thức xã hội từ thầy Nhiệm vụ của phương pháp dạy học địa
lí là nghiên cứu và phát hiện ra những quy luật của quá trình dạy học địa lí xácđịnh nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp dạy học cho phù hợp với đặctrưng bộ môn, tâm lí lứa tuổi học sinh và mục tiêu đào tạo của nhà trường
Với khóa trình địa lí khối 12 hiện hành,chưong trình địa lí bao gồm cảđịa lí tự nhiên, địa lí dân cư, địa lí các ngành kinh tế, địa lí các vùng kinh tế, địa
lí địa phương … Với lượng kiến thức rất nhiều cùng với việc thay đổi hình thứcthi từ tự luận sang trắc nghiệm nên việc học tập địa lí đối với học sinh cuối cấplại càng khó khăn hơn
Xuất phát từ thực tiễn dạy học phần địa lí các vùng kinh tế thuộc khoá
trình địa lí lớp 12 , tôi đã rút ra một số phương pháp dạy học địa lí để học sinh
có thể hiểu những kiến thức địa lí một cách hiệu quả nhưng khắc sâu nhất ,cóthể vận dụng các kiến thức địa lí để phối hợp trong học tập các môn học kháccũng như áp dụng những kiến thức địa lí trong thực tiễn cuộc sống
Một trong những phương pháp mà tôi đã và đang sử dụng trong dạy học
phần địa lí các vùng kinh tế này là: hướng dẫn học sinh sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam để có thể đơn giản hoá những kiến thức địa lí được coi là khó học,
khó nhớ đối với học sinh hiện nay Với mong muốn học sinh sẽ hứng thú hơnvới môn học địa lí , chủ động trong việc lĩnh hội những tri thức địa lí của cácvùng kinh tế ở đất nước mình từ đó liên hệ với vùng mình sinh sống , tôi đã
mạnh dạn chọn đề tài : hướng dẫn học sinh sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam để tìm hiểu bài 32 “Vấn đề khai thác thế mạnh ở Trung du và miền núi Bắc Bộ ” – Địa lí lớp 12 cơ bản
Trang 4
1 2 Mục đích nghiên cứu :
Mục đích của đề tài là nhằm phát tiển tư duy địa lí , khơi dậy tính chủ
động và sáng tạo của học sinh trong qúa trình lĩnh hội tri thức địa lí Đây là mụcđích lớn nhất của phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm
1.3 Đối tượng nghiên cứu :
Trong đề tài này tôi xác định đối tượng nghiên cứu là toàn bộ học sinh khối
12 , Atlat Địa Lí Việt Nam , Sách giáo khoa địa lí lớp 12 cùng với sự bổ trợ củacông nghệ thông tin , các tài liệu tham khảo Trên cơ sở đó 90% học sinh trở lênhiểu được kiến thức cơ bản của bài học,70% học sinh trở lên hứng thú với môn
học, có thể tự nêu được các vấn đề cơ bản của những bài học về địa lí các vùng kinh tế
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này tôi xác định phương pháp nghiên cứu chủ đạo là : Quan sát ,thực hành , phân tích, so sánh, khái quát và tổng hợp về các vùng kinh tế dưới
các hình thức khác nhau
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Như đã trình bày, dạy học địa lí là một quá trình phức tạp, phải dựa trênnhững quy luật của nhận thức, phù hợp với từng bài học, từng lứa tuổi, tâm sinh
lí học sinh Dựa trên nguyên tắc này người thầy mới có thể đưa ra phươngpháp dạy học đúng đắn, từ đó mới nâng cao được hiệu quả trong dạy học địa lí
Địa lí các vùng kinh tế là một trong ba vấn đề chủ yếu của Địa lí Việt
Nam Trong đổi mới phương pháp dạy học chúng ta không nên tập trung cungcấp kiến thức một chiều mà quan trọng hơn hết là gợi mở các vấn đề của bàihọc thông qua việc sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam để học sinh phát huy năng lực
tư duy, đảm bảo tính tự lực ,vận dụng kiến thức đã học và đánh giá Trong
khuôn khổ của nội dung Địa lí các vùng kinh tế nói chung và bài 32 “Vấn đề khai thác thế mạnh ở Trung du và miền núi Bắc Bộ ” – Địa lí 12 ban cơ bản
nói riêng tôi xin đưa ra các nội dung chính mà trong 1 tiết học giáo viên và học
sinh cần phải giải quyết thông qua sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam
* Thứ nhất: Khái quát chung
Trang 5Trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng lãnh thổ có diện tích tự nhiên lớnnhất so với các vùng trong nước nhưng là vùng thưa dân , có nhiều dân tộc ítngười, vùng gồm 15 tỉnh Vùng có vị trí địa lí đặc biệt , có căn cứ địa cáchmạng có di tích lịch sử Điện Biên Phủ Cơ sở vật chất có nhiều tiến bộ , mạnglưới giao thông vận tải đang được đầu tư nâng cấp nên ngày càng thuận lợi choviệc giao lưu với các vùng khác trong nước và xây dựng nền kinh tế mở
* Thứ hai: Khai thác, chế biến khoáng sản và thủy điện
Trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng có tài nguyên khoáng sản phong
phú nhất nước ta Điều này tạo ra lợi thế của vùng về các ngành công nghiệpkhai thác , chế biến khoáng sản , từ đó tạo ra cơ cấu các ngành công nghiệpnặng
Trung du và miền núi Bắc Bộ có có thế mạnh rất nổi bật về năng lượng ,với vùng than Quảng Ninh và trữ năng thủy điện lớn nhất cả nước Việc pháttriển thủy điện đã nâng cao vị trí của vùng trong phân công lao động theo lãnhthổ giữa các vùng và góp phần quân trọng vào việc nâng cao cơ sở năng lượngcủa vùng
* Thứ ba: Thế mạnh về trồng và chế biến cây công nghiệp , cây dược liệu , rau quả cận nhiệt và ôn đới
Trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng có thế mạnh đặc sắc về các cây
công nghiệp cận nhiệt ( chè ), cây dược liệu ( tam thất , đương quy , đỗ trọng …)Rau quả cận nhiệt và ôn đới ( mận , đào , lê , các giống rau vụ đông … )
* Thứ tư: Về chăn nuôi gia súc
Đây cũng là một thế mạnh đặc trưng của vùng , các loại gia súc lớnnhư trâu , bò đã tạo ra nhiều lợi thế cho vùng trong lĩnh vực chăn nuôi nói riêng
và trong ngành nông nghiệp nói chung
Là một nội dung quan trọng của bài, song không nên trình bày chi tiết,cụthể mà phải chọn những kiến thức cơ bản, kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan,tài liệu tham khảo để miêu tả nhằm tạo biểu tượng cho học sinh về bức tranhchăn nuôi ở Trung du và miền núi Bắc Bộ
* Thứ năm: Thế mạnh về kinh tế biển.
Được trình bày thông qua trao đổi, thảo luận dưới sự hướng dẫn củagiáo viên để học sinh thấy rằng :
Trang 6Thế mạnh về kinh tế biển của tỉnh Quảng Ninh bao gồm : du lịchbiển , thủy sản , dịch vụ hàng hải …đã tạo nên một thế mạnh độc đáo của vùng ,làm cho cơ cấu kinh tế của vùng càng thêm hoàn chỉnh và phát triển năng độnghơn ở hiện tại và trong tương lai Đặc biệt thế mạnh kinh tế biển hiện nay làmột vấn đề vô cùng quan trọng không chỉ riêng vùng mà còn quan trọng hơnbao giờ hết đối với toàn quốc , toàn khu vực và trên thế giới
2.2 Thực trạng vấn đề.
Hiện nay, việc dạy và học về vấn đề các vùng kinh tế nói chung và bài 32
“Vấn đề khai thác thế mạnh ở Trung du và miền núi Bắc Bộ ” nói riêng là cả
một quá trình phức tạp và khó khăn Do lượng kiến thức nhiều ( mặc dù có giảmtải ở mục khái quát chung ) song thời gian hạn chế, lại có nhiều thế mạnh khácnhau nhưng bắt buộc học sinh cần nhớ Do đó nếu thầy không đổi mới phươngpháp dạy học, không sử dụng Atlat để hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài thì trongthời lượng 1 tiết học thầy và trò không thể nào giải quyết hết nội dung của bàihọc cũng như rút ra bài học và liên hệ thực tế
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi đã sử dụng Atlat kết hợp với xây dựng hệthống câu hỏi nêu vấn đề và câu hỏi gợi mở,giải quyết vấn đề để phần nào tháo
gỡ những khó khăn trong dạy và học bài 32 “Vấn đề khai thác thế mạnh ở Trung du và miền núi Bắc Bộ ” hiện nay.
2 3 Giải pháp thực hiện
Căn cứ vào mục đích, nội dung của bài học, tôi đã hướng dẫn học sinh sử
dụng Atlat để dạy bài “ Vấn đề khai thác thế mạnh ở Trung du và miền núi Bắc Bộ “ như sau:
Mục 1 Khái quát chung
Khi giảng phần Khái quát chung , giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụngAtlat trang bản đồ Hành chính Việt Nam và trang Các miền Địa lí tự nhiên cùngkết hợp với sử dụng kênh hình 32 sách giáo khoa
Đối với trang bản đồ Hành chính
Trang 7giáo viên hướng dẫn học sinh đọc tên được Trung du và miền núi Bắc Bộ gồm các tỉnh : Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình ( thuộc Tây Bắc ) và các tỉnh : Lào Cai, Yên Bái , Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên , Bắc Giang và Quảng Ninh ( thuộc Đông
Bắc ) Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào trang các miền địa lí tự nhiên để xác định dãy Hoàng Liên Sơn là ranh giới để chia vùng Trung du và miền núi Bắc
Bộ thành khu vực Tây Bắc và Đông Bắc Qua sử dụng Atlat bước đầu học sinh
đã có khái quát đầu tiên về vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng lãnh thổ
có diện tích lớn nhất nước ta , vùng có 15 tỉnh và thấy được vị trí của mỗi tỉnh trên bản đồ
Trang 8Đến với trang bản đồ Các miền Địa lí tự nhiên
giáo viên hướng dẫn học sinh xác định được vị trí tiếp giáp của vùng với cácnước trong khu vực và các vùng trong nước Từ đó làm sáng tỏ nhận định củasách giáo khoa “ Trung du và miền núi Bắc Bộ có vị trí địa lí đặc biệt , lại cómạng lưới giao thông vận tải đang được đầu tư , nâng cấp, nên ngày càng thuậnlợi cho việc giao lưu với các vùng khác trong nước và xây dựng nền kinh tếmở”
Trang 9Mục 2 : Khai thác, chế biến khoáng sản và thủy điện.
Khi giảng mục này , giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác các trang Atlat
về địa chất khoáng sản, các hệ thống sông và các miền địa lí tự nhiên cùng kếthợp với hình 32 sách giáo khoa
Giáo viên hướng dẫn học sinh học thuộc , nhớ và sử dụng được trang mở đầucủa Atlat ( nhớ, thuộc các kí hiệu và chú giải của Atlat , vận dụng được trongđọc các trang bản đồ của Atlat)
Sau đó giáo viên có thể cho học sinh lập bảng các tài nguyên khoáng sản chủyếu phân bố theo tỉnh để từ đó học sinh nắm được Trung du và miền núi Bắc Bộ
là tỉnh giàu có khoáng sản bậc nhất nước ta Qua Atlat học sinh có thể thuộcđược ngay Trung du miền núi Bắc Bộ có 4 nhóm khoáng sản là ( nhóm khoángsản năng lượng, khoáng sản kim loại, khoáng sản phi kim loại và khoáng sản vậtliệu xây dựng ) Và các khoáng sản này có vị trí phân bố tại mỗi tỉnh trong vùng
Trang 10Ví dụ khi giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu về nhóm khoáng sản nănglượng của vùng, giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh dựa vào Atlat địa lí Việt Namtrang địa chất khoáng sản và hình 32 sách giáo khoa Sau khi học sinh hiểu được
kí hiệu trên bản đồ học sinh sẽ thấy được rằng vùng có khoáng sản năng lượngnhiều nhất là than được phân bố nhiều nhất là ở tỉnh Quảng Ninh Và giáo viêncũng phải cho học sinh hiểu được rằng than được khai thác sàng tuyển để phục
vụ cho nhiệt điện và xuất khẩu
Dựa vào Atlat địa lí Việt Nam trang công nghiệp trọng điểm
giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ công nghiệp năng lượng tìm vị tríphân bố của các nhà máy nhiệt điện đã và đang hoạt động trong vùng Đó lànhà máy nhiệt điện Uông Bí và Uông Bí mở rộng ( Quảng Ninh ) tổng công suất
450 MW, Cao Ngạn ( Thái Nguyên ) 116 MW , Na Dương ( Lạng Sơn ) 110
MW Trong kế hoạch vùng sẽ xây dựng nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả ( QuảngNinh ) công suất lên tới 600 MW
Đối với nhóm khoáng sản kim loại , giáo viên hướng dẫn học sinh liệt kê cácloại khoáng sản như : sắt , đồng, thiếc, chì, kẽm … sau đó giáo viên hướng dẫnhọc sinh dựa vào kí hiệu trong Atlat để học sinh tự xác định vị trí phân bố củatừng loại khoáng sản này trên bản đồ Ví dụ học sinh sẽ đọc được đồng có kí
Trang 11hiệu hình chữ nhật màu đen và soi vào bản đồ học sinh sẽ nhận thấy đồng đượcphân bố nhiều ở Lào Cai , Sơn La …
Đối với nhóm khoáng sản phi kim loại giáo viên hướng dẫn học sinh dựavào kiến thức sách giáo khoa kể tên các khoáng sản phi kim như : apatit , đấthiếm … và giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào Atlat địa lí Việt Nam để xácđịnh vị trí phân bố của từng loại khoáng sản này trên bản đồ Ví dụ apatit đượcphân bố nhiều ở Lào Cai dùng để làm nguyên liệu cho công nghiệp hóa chất(phân bón )
Với nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng, giáo viên cũng hướng dẫn họcsinh sử dụng Atlat địa lí Việt Nam theo các cách trên và nhấn mạnh được rằngkhoáng sản vật liệu xây dựng của vùng rất dồi dào, phân bố rộng khắp vàkhoáng sản này dùng để làm nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất vật liệu xâydựng
Sau khi hình thành được trong tư duy học sinh những kiến thức cơ bản vềkhai thác, chế biến khoáng sản ở vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ bằngphương tiện Atlat trực quan sinh động , giáo viên mới nhấn mạnh rằng : Việckhai thác chế biến khoáng sản có ý nghĩa to lớn tới sự hình thành công nghiệp
cơ cấu công nghiệp của vùng Tuy nhiên phát triển công nghiệp nặng đòi hỏiđầu tư lớn và phải có công nghệ , có lao động lành nghề Về điểm này Trung dumiền núi Bắc Bộ còn nhiều hạn chế
Tiếp theo đến vấn đề khai thác thủy điện , giáo viên hướng dẫn học sinh sửdụng Atlat trang hệ thống sông