“Khoảng cách thẩm mỹ” giữa các tác phẩm văn chương thời trung đại với học sinh phổ thông hiện nay trước hết là khoảng cách về thời gian và không gian nghệ thuật trong bối cảnh văn hóa lị
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Văn học Việt Nam trung đại bao gồm những văn bản văn chương thẩm mỹ
và những văn bản văn học chức năng ra đời trong khoảng thời gian từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX Những văn bản thuộc nền văn học này được chọn dạy học trong trường phổ thông hiện nay ra đời muộn nhất cũng cách đây hơn trăm năm, không ít
văn bản ra đời cách đây cả ngàn năm như: Quốc tộ, Nam quốc sơn hà, Thiên đô chiếu… Những văn bản được chọn dạy học trong nhà trường là những văn bản
thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo với giá trị nghệ thuật cao,
cả nội dung cả hình thức đều mang dấu ấn đương thời Do có giá trị đích thực nên nhiều văn bản trong số đó vượt qua được thử thách của thời gian, tồn tại trong nhiều chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn của nền giáo dục Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Văn học trung đại là một thành tựu cực kì quan trọng trong văn học Việt Nam Khám phá thế giới nghệ thuật này không hề đơn giản Để trở thành một tượng đài nghệ thuật, nó phải là kết tinh từ đỉnh cao của những thủ pháp nghệ thuật
Để làm nên thành công và chất đặc trưng của văn học trung đại, yếu tố không gian nghệ thuật là điều không thể thiếu Không gian không đơn thuần mang ý nghĩa khách quan mà nó là không gian được quan niệm, được gán cho một ý nghĩa nhất định Tìm hiểu về không gian nghệ thuật của văn học trung đại Việt Nam, ta sẽ càng hiểu hơn về cha ông của mình
Những giá trị to lớn của văn học cổ chưa được khai thác một cách sâu sắc để
giúp cho học sinh hiểu thấu và tâm đắc với tiếng nói cha ông Lý do khiến các
em chưa có hứng thú học tập với các tác phẩm văn học trung đại nói chung và
“Bạch Đằng giang phú” nói riêng là bởi sáng tác văn chương thời trung đại thâm thúy, sâu sắc và tinh tế, tao nhã, trong sáng được sản sinh trong một bối cảnh văn hóa, lịch sử cụ thể đã lùi rất xa so với thời đại ngày nay “Khoảng cách thẩm mỹ” giữa các tác phẩm văn chương thời trung đại với học sinh phổ thông hiện nay trước hết là khoảng cách về thời gian và không gian nghệ thuật trong bối cảnh văn hóa lịch sử đương thời Để xóa nhòa “khoảng cách” đã nói, đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu để định hướng cho học sinh khám phá không gian được tác giả đề cập đến trong tác phẩm từ đó hiểu được tư tưởng, tâm niệm của thi nhân
Qua đề tài “Giải pháp giúp học sinh trường THPT Quan Hóa tăng hứng thú
học bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu: cảm nhận tác phẩm từ góc
nhìn không gian nghệ thuật” tôi sẽ đưa ra một cách giảng dạy mới nhằm đem đến hứng thú, sự hiểu biết của học sinh về văn bản “Phú sông Bạch Đằng” nói riêng và các tác phẩm văn học trung đại nói chung
1.2 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, tôi mong muốn văn bản “Phú sông Bạch Đằng” dù ra đời cách xa hàng bảy, tám thế kỉ vẫn được học sinh hào hứng cảm nhận và thấu hiểu về tinh thần yêu nước, tư tưởng nhân văn, tinh thần nhân đạo, niềm tự hào, sự suy tư
Trang 2của cha ông xưa kia, từ đó có ý thức tiếp nối những truyền thống cao đẹp của dân tộc
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Là học sinh lớp 10 trường THPT Quan Hóa – một trường miền núi, vùng sâu vùng xa của tỉnh Thanh Hóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành thực hiện đề tài này tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: thu thập thông tin thông qua đọc sách báo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm và tư tưởng cơ bản là cơ sở cho lý luận của đề tài
- Phương pháp quan sát: nhằm thu thập những số liệu, thông tin về quá trình diễn biến của học sinh trong học tập và rèn luyện
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: thông qua phiếu trả lời câu hỏi, phiếu học tập để nắm bắt sự vướng mắc của học sinh trong quá trình học tập tác phẩm
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: sau khi đã thu thập được thông tin từ học sinh sẽ tiến hành xử lí số liệu, thống kê để sắp xếp thứ tự các khó khăn, vướng mắc của học sinh…
- Phương pháp vận dụng lí thuyết của thi pháp học hiện đại kết hợp với một
số phương phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
2 Nội dung
2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề
Không gian nghệ thuật là một yếu tố thi pháp được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Đến nay, khái niệm không gian nghệ thuật có thể được khái lược trong một số công trình nổi bật Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), không gian nghệ thuật là “Hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong trường nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần, rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian, nên mang tính chủ quan Ngoài không gian vật thể, có không gian tâm tưởng” Tác phẩm cũng nhận định: “Không gian nghê thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng,
mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật”[6]
Trong cuốn “Dẫn luận thi pháp học” giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Nếu như mọi vật trong thế giới đều tồn tại trong không gian ba chiều: cao, rộng, xa và chiều thời gian, thì không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có nhân vật nào không có một một nền cảnh nào đó” “Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một
Trang 3quan niệm nhất định về cuộc sống, do đó không thể quy nó về sự phản ánh giản đơn không gian địa lý hay không gian vật lý, vật chất Trong tác phẩm ta thường bắt gặp sự miêu tả con đường, căn nhà, dòng sông… Nhưng bản thân các sự vật ấy chưa phải là không gian nghệ thuật Chúng chỉ được xem là không gian nghệ thuật trong chừng mực chúng biểu hiện mô hình thế giới của tác giả” Nhà nghiên cứu còn viết rằng: “Không gian nghệ thuật là mô hình thế giới của tác giả cụ thể, được biểu hiện bằng ngôn ngữ của các biểu tượng không gian Ngôn ngữ này tự nó ít tính
cá thể và phần lớn là thuộc về thời đại, xã hội và các nhóm nghệ sĩ khác nhau, nhưng cái điều mà nghệ sĩ nói bằng ngôn ngữ ấy thì lại khác – đó là mô hình thế giới riêng của anh ta”[2]
2.2 Thực trạng của vấn đề
Trong bài viết “Dạy văn học trung đại – những khó khăn và giải pháp khắc phục” (“Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ Văn THPT”), Thạc sĩ Trịnh Trọng Nam – chuyên viên Sở Giáo dục & Đào tạo Thanh Hóa đã khẳng đinh: có nhiều khó khăn trong dạy và học văn học trung đại Đề cập đến vấn đề này Thạc sĩ Trịnh Trọng Nam đã nêu ra 05 khó khăn mang tính khát quát trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy của giáo viên và việc ngại học của học sinh hiện nay là: về chương trình, về thể loại, về hiện tượng văn sử triết bất phân, thi pháp văn học trung đại và cuối cùng là vốn chữ Hán và chữ Nôm[1]
Trường THPT Quan Hóa là trường vùng cao của tỉnh Trong những năm qua,
số học sinh khá, giỏi từ THCS đăng kí vào học tại trường rất ít Các em học khá giỏi hầu hết đều đi học tại trường Dân tộc nội trú tỉnh, kế đến là trường Dân tộc nội trú Ngọc Lặc, trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc Thái Nguyên và một số trường trên địa bàn thành phố Thanh Hóa Số học sinh ở lại trường chỉ là các em học lực thuộc diện trung bình khá, trung bình và hầu hết là yếu kém khi học THCS Bản thân văn học trung đại đã khó tiếp cận, lực học của học sinh lại yếu nên tạo ra khó khăn cho chúng tôi khi hướng dẫn các em khám phá bộ phận văn học này nói chung và “Phú sông Bạch Đằng” nói riêng
Để hiểu rõ hơn điều này, sau khi giảng dạy tác phẩm “Phú sông Bạch Đằng”, năm học 2018 – 2019, tôi đã cho học sinh làm bài kiểm tra và kết quả:
chú
Số lượng (SL)
Từ kết quả trên (0 học sinh có điểm giỏi, 8/118 điểm khá, 63/118 học sinh điểm trung bình, 34/118 học sinh điểm yếu và 13/118 học sinh điểm kém) có thể thấy, chỉ có lớp 10a1 – lớp chọn của khối là khá hiểu bài song vẫn chưa đạt yêu cầu
vì có 02 học sinh điểm yếu Ngược lại, 02 lớp 10a6, 10a7 đa phần học sinh chưa
Trang 4hiểu bài, nhất là học sinh lớp với lực học kém nhất khối – 10a6, các em rất mơ hồ
về bài giảng
Tôi cũng khảo sát bằng phiếu học tập và thu được kết quả như sau:
Số lượng (SL)
Thực trạng trên bức thiết đòi hỏi phải tìm ra một giải pháp dạy, một thiết kế bài giảng thích hợp cho những học sinh vùng cao
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện
Qua điều tra, tìm hiểu, tôi rút ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng khó hiểu, khó nắm bắt tác phẩm như sau:
- Trừ sông Bạch Đằng, tác phẩm có nhiều địa danh học sinh gần như mới nghe lần đầu, không hiểu đó là những nơi nào, mục đích tác giả kể những địa danh
đó để làm gì
- Bài phú có nhiều từ cổ, từ khó, nhiều điển tích điển cố khó hiểu
- Chưa hiểu tại sao “Khách” và “Bô lão” nhắc đến và có tình cảm đặc biệt với sông Bạch Đằng, các vị vua nhà Trần nhiều đến vậy
- Vì sao đứng trước sông Bạch Đằng các nhân vật trên ngoài sự tự hào, niềm vui lại bồi hồi, buồn, suy tư
Để làm rõ đề tài và có một thiết kế bài dạy hiệu quả tôi xác định cần phải giải quyết được những vướng mắc sau cho các em:
Thứ nhất, làm rõ một số khái niệm, vấn đề để học sinh có hiểu biết cơ bản
về một vài yếu tố lí luận liên quan trong bài dạy
* Khái niệm không gian
Trong “Từ điển tiếng Việt” chế bản tại Trung tâm Từ điển học lí giải không gian là “Khoảng không bao trùm mọi vật xung quanh con người”[5]
* Không gian nghệ thuật
+ Khái niệm: không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó; là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ, không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có một nhân vật nào không có một nền cảnh nào đó
Không gian nghệ thuật là một hình tượng nghệ thuật sinh động chứ không không cứng Nó không đơn giản chỉ là cảm nhận bằng tư duy tỉnh táo mà nó còn được cảm nhận bằng óc chủ quan, bằng cảm xúc, bằng tâm trạng của nhà văn Không gian nghệ thuật trong thơ có cách biểu hiện riêng, không chỉ đơn thuần là không gian vật chất bên ngoài, nó mang tính ước lệ, mang ý nghĩa cảm xúc sâu sắc
+ Đặc điểm của không gian nghệ thuật:
Trang 5- Không gian nghệ thuật thống nhất nhưng không đồng nhất với không gian khách thể, không gian vật chất bên ngoài Bản thân không gian vật chất tồn tại khách quan, nghĩa là sự tồn tại của nó không phụ thuộc vào ý thức của con người Không gian vật chất chỉ trở thành không gian nghệ thuật khi được tác giả cảm nhận
về nó và qua đó thể hiện cách cảm, cách nghĩ của nhà văn về thế giới, là một quan niệm nhân sinh, một thái độ sống trước cuộc đời
- Không gian nghệ thuật trong tác phẩm có một ranh giới phân biệt với không gian vật chất bên ngoài nhưng ranh giới ấy không dễ thấy mà nó mờ nhạt, mong manh, mơ hồ, độc giả cần dựa vào hoàn cảnh ra đời, đề tài, chủ đề, thể loại…
để cảm nhận không gian nhà văn xây dựng trong tác phẩm Từ đó mới thấy được không gian ấy có thể mở rộng bao la hay thu hẹp chật chội tùy theo cái nhìn nghệ thuật của tác giả; Nó không đơn giản chỉ là cảm nhận bằng tư duy tỉnh táo mà nó còn được cảm nhận bằng óc chủ quan, bằng cảm xúc, bằng tâm trạng của nhà văn (Ví dụ: Đèo Ngang là một địa danh địa lí nhưng trong thi phẩm của Bà Huyện Thanh Quan nó lại là nơi phân giới của triều đại cũ, triều đại mới, là nơi tận cùng của xứ này và bắt đầu của xứ khác, việc bước qua đó có một ý nghĩa đạo đức, chính trị quan trọng đối với con người); Đó cũng còn là sự tách biệt về ranh giới giữa không gian bên trong và không gian bên ngoài, giữa ranh giới bất biến và khả biến (Chẳng hạn, đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” (“Truyện Kiều” – Nguyễn Du) cho thấy sự phân chia giữa cuộc sống bên ngoài theo đúng nghĩa của nó và không gian tù túng, giam cầm “khóa xuân” nàng Kiều)
- Không gian nghệ thuật mang tính ước lệ, mang ý nghĩa cảm xúc Trong văn học, không gian “bãi bể nương dâu” luôn gợi tới sự trôi chảy, đổi thay, biến đổi lớn lao của thời gian, của kiếp người; không gian: đỉnh Ôlympơ, Thiên đình, vườn ruộng, bến nước, con đường, ngã ba… đều mang một ước lệ, tượng trưng cụ thể; cái nhìn, điểm nhìn, điểm quan sát, khoảng cách xa – gần… cũng thể hiện quan niệm, tư tưởng nghệ thuật của nhà văn
* Phú: là một thể văn cổ, có nhịp điệu, nhằm miêu tả, trình bày sự vật để biểu hiện tư tưởng tình cảm của tác giả
Phú có 4 loại chính, trong đó, phú cổ thể (còn gọi là cổ phú) khi viết có hai đối tượng là “chủ - khách”, hai nhân vật này đối đáp, đối thoại với nhau về một vấn
đề nào đó Trong bài phú thường xuất hiện tiếng “chừ” – một từ đặc trưng của thể loại cổ phú và phép đối câu
Thứ hai hướng dẫn các em cách thức khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm
Cần cho học sinh hiểu rằng tất cả những không gian: bể, sông, hồ, vùng đất… mà nhà thơ gợi lên trong tác phẩm không phải chỉ được hiểu là không gian vật chất, không gian địa lí đơn thuần mà nó còn biểu hiện thế giới nội tâm của tác giả, mang nhiều thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm cho độc giả và còn thể hiện chiều sâu cảm thụ của một giai đoạn, một thời đại – thời đại Đông A Trong bài phú, Trương Hán Siêu giới thiệu về nhiều địa danh, thắng cảnh của Trung Quốc Điều này thể hiện đặc trưng của văn học trung đại khi mà thơ xưa chịu ảnh hưởng
Trang 6nặng nề của văn học Trung Quốc - do việc đô hộ cả ngàn năm tạo nên, các thi liệu, học liệu và chữ viết thời xưa của ông cha đều xuất phát từ phương Bắc Việc nhắc tới “Nguyên, Tương”, “Vũ Huyệt”, “Cửu Giang”, “Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt”,
“Vân Mộng” còn cho thấy nhân vật trữ tình trong tác phẩm có kiến thức một lượng kiến thức sách vở đồ sộ Hơn nữa, thi nhân còn nhắc tới nhân vật Tử Trường (tự của Tư Mã Thiên, một sử gia nổi tiếng đã đi khắp đất nước Trung Hoa rộng lớn để thăm thú cảnh vật và ghi chép lịch sử đất nước) nên có thể thấy Trương Hán Siêu là một người ham mê khám phá cảnh sắc non sông, tráng trí du ngoạn và có ý thức tìm hiểu, lưu giữ, giới thiệu về cảnh đẹp cũng như những dấu ấn lịch sử của những vùng đất nổi danh trong đất nước như Tư Mã Thiên khi xưa
Song các địa danh, cảnh đẹp của Trung Quốc được nhắc tới không phải nhằm ca ngợi đất nước Trung Hoa mà đó chỉ là cách giới thiệu, vào đề của các nhà thơ xưa – thường dùng sử cũ, người xưa trong tác phẩm Mục đích chính của Trương Hán Siêu là muốn độc giả biết đến những cảnh vật của đất nước ta: “cửa Đại Than”, “bến Đông Triều” và nhất là thắng cảnh – di tích lịch sử liệt oanh của cha ông “sông Bạch Đằng” Vì thế con sông hiên lên vô cùng đẹp đẽ, tráng lệ Nhà thơ sử dụng các từ ngữ “bát ngát”, “muôn dặm”, “thướt tha”, các hình ảnh ước lệ
“sóng kình”, “đuôi trĩ” và phép đối “Nước trời một sắc/ Phong cảnh ba thu” để thể hiện vẻ đẹp kì vĩ của Bạch Đằng giang Con sông mênh mông, bát ngát, nước trời hòa sắc xanh thắm, nó khiến người thưởng ngoạn đắm say
Cũng cần nhắc lại, Trương Hán Siêu học Tư Mã Thiên về “thú tiêu dao” và học ông cả tình yêu với lịch sử của dân tộc Tư Mã Thiên tự hào về lịch sử Trung Hoa, Trương Hán Siêu cũng tự hào về lịch sử hào hùng của nước ta Dòng sông Bạch Đằng chính là chiến địa của những cuộc giao chiến “long trời lở đất” của ta trước kẻ thù phương Bắc hung hãn Đến bên sông, ngắm nhìn sự tàn phá của thời gian: lau sậy um tùm che kín “Bờ lau san sát”, cảnh hoang vu, hiu hắt “bến lách đìu hiu” và nhất là tàn tích chiến trường “sông chìm”, “giáo gãy”, “gò đầy xương khô”,
“tiếc thay dấu vết còn lưu” nhà thơ chất chứa bao nỗi niềm quan hoài, bao sự xót xa cho cảnh xưa oai hùng giờ phai dấu bởi tháng năm: “cảnh thảm”, cũng là sự thương cảm, tiếc thương cho những con người đã nằm lại nơi đây “đứng lặng giờ lâu”,
“thương nỗi anh hùng đâu vắng tá” Giá trị yêu nước và nhân đạo cao cả ẩn giấu sau những dòng thơ ngắn ấy
Cảm hứng của bài phú là con sông Bạch Đằng Cần giúp cho học sinh hiểu được vì sao Bạch Đằng giang trở thành cảm hứng nghệ thuật của tác giả và nhiều văn nhân, nghệ sĩ sau này Bởi đây không phải là một dòng sông, một địa danh đơn thuần gắn liền với nhân dân địa phương mà nó là nơi thể hiện lòng yêu nước, tinh thần, bản lĩnh, ý chí của dân tộc Chính tại dòng sông này Ngô Quyền đã đánh đuổi quân Nam Hán, chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở ra thời kì độc lập, tự chủ cho dân tộc Việt Hơn 300 năm sau, vua tôi nhà Trần chống lại lần xâm lược lần thứ ba của giặc Nguyên Mông cũng trên sông Bạch Đằng Đây được xem là trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử Việt Nam và là thắng lợi tiêu biểu nhất của Đại Việt trong ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông, dẫn đến chấm
Trang 7dứt thắng lợi cho Đại Việt trong cuộc chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt lần thứ ba
Vì thế, sông Bạch Đằng trong tác phẩm ngoài được cảm nhận về cảnh sắc bên ngoài còn là những xúc cảm nội tâm, những dòng tâm trạng của nhà thơ về lịch
sử, về dân tộc và về cuộc đời Việc Trương Hán Siêu dành nhiều dòng thơ kể về cuộc giao tranh quyết liệt và chiến thắng vinh quang trước kẻ thù cho thấy niềm tự hào về chiến công oanh liệt và tinh thần quả cảm, sự can trường của ông cha xưa Hơn nữa còn là sự ca ngợi truyền thống yêu nước, sự bất khuất trước kẻ thù dù là hùng mạnh đến đâu của dân tộc Việt Tất cả những điều này thể hiện rõ nhất thời nhà Trần với việc ba lần chiến thắng kẻ thù khiến thế giới khiếp sợ - Nguyên Mông Vì thế hào khí nhà Trần – hào khí Đông A mãi vang vọng sông núi, mãi mãi chảy trong huyết quản người Việt Từ chiến thắng Bạch Đằng nhà thơ cũng đúc rút
ra những bài học kinh nghiệm, những chân lí sáng ngời qua hai lời ca kết thúc văn bản: một thực tế, một triết lí không thể thay đổi được là sử sách và lòng người chỉ lưu giữ những sự việc, những con người chính nghĩa, còn bọn tham lam, xâm lược hòng cướp nước người mãi là bia miệng cười chê của thế gian Trong các yếu tố tạo nên chiến công mà người xưa thường nhắc: “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” thì yếu tố
“nhân hòa” – yếu tố con người là tiên quyết Đây thực sự là tầm nhìn vượt thời đại của Trương Hán Siêu Trong khi nhiều người, nhiều học giả luôn đề cao thời cơ, địa hình, cho rằng chiến thắng phụ thuộc nhiều vào sự giúp đỡ của trời đất thì nhà thơ khẳng định rõ ràng “Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao” Chiến thắng Bạch Đằng lịch sử phần nhiều do có sự tài tình lãnh đạo của các đấng thánh đế, minh quân, các vị tướng tài ba
Trong quá trình khám phá tác phẩm, giáo viên phải đồng thời chỉ ra những không gian địa lí, vật chất và những không gian tâm tưởng, cách nghĩ, cảm cảm của tác giả qua các không gian vật chất ấy
Mô hình thiết kế “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu theo cách khám phá không gian nghệ thuật:
Tiết: 56, 57
PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG (Bạch Đằng giang phú)
Trương Hán Siêu
I Mục tiêu bài học
1 Kiến thức
- Cảm nhận được nội dung yêu nước và tư tưởng nhân văn của bài phú Nội dung yêu nước thể hiện ở niềm tự hào về chiến công lịch sử và chiến công thời Trần trên dòng sông Bạch Đằng Tư tưởng nhân văn thể hiện qua việc đề cao vai trò, vị trí, đức độ của con người, coi đây là nhân tố quyết định đối với sự nghiệp cứu nước
- Thấy được đặc trưng cơ bản của thể phú và những nét đặc sắc của bài “Phú sông Bạch Đằng”
2 Kĩ năng
- Kĩ năng đọc – hiểu văn bản
Trang 8- Kĩ năng trình bày vấn đề trước tập thể.
3 Thái độ
- Bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý thức trân trọng những địa danh lịch sử, những danh nhân lịch sử
- Bồi dưỡng tình yêu văn học nói riêng, các bộ môn khoa học xã hội nói chung qua việc tìm hiểu một tác phẩm văn học trung đại xuất sắc
II Phương tiện dạy học
- Giáo viên (GV): Sách giáo khoa, thiết kế bài dạy, video về Trương Hán Siêu, video “Đại chiến Bạch Đằng giang”, đoạn video trận Xích Bích trong phim “Tam quốc diễn nghĩa”, hình ảnh sông Bạch Đằng
- Học sinh (HS): đọc tác phẩm ở nhà, soạn bài theo hướng dẫn trong sách giáo khoa, tìm hiểu về sông Bạch Đằng và những chiến thắng từng diễn ra trên dòng sông này, sưu tầm những sáng tác văn chương về dòng sông thơ mộng và oanh liệt này Tìm hiểu dòng sông từ kiến thức các môn học liên quan: Lịch sử, Địa lí, Giáo dục quốc phòng, Giáo dục công dân
III Phương pháp dạy học
Giáo viên kết hợp các phương pháp: đọc sáng tạo, nêu vấn đề, thảo luận nhóm…
IV Tiến trình dạy học
1 Ổn định tổ chức lớp
2 Kiểm tra bài cũ
3 Bài mới
Một nhạc sĩ từng viết: “Trong tim ai cũng có một dòng sông riêng mình”, quả thật mỗi con người và mỗi vùng đất gần như gắn liền với một con sông khác nhau Đó là lí do vì sao, hầu hết các con sông nước ta trở thành nguồn cảm hứng vô tận của nhiều môn nghệ thuật: âm nhạc, hội họa, điện ảnh và nhất là được tái hiện sinh động trong những tác phẩm văn chương Trong đó có “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu - đỉnh cao nghệ thuật của văn học Việt Nam thời trung đại
Hoạt động 1: Tìm hiểu khái quát
về tác giả, tác phẩm, thể phú,
con sông Bạch Đằng
- GV: Em hãy nêu những hiểu
biết của mình về tác giả Trương
Hán Siêu?
- HS: Dựa vào phần tiểu dẫn và
các tài liệu đã tìm đọc trả lời
ngắn gọn
- GV: Bổ sung thêm (nếu cần),
chiếu video về Trương Hán
Siêu
- GV: Em hãy nêu vị trí địa lí,
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
- Trương Hán Siêu (?-1354), tự là Thăng Phủ, quê ở Ninh Bình ngày nay
- Là người có tài về chính trị, văn chương, từng
là môn khách của Trần Quốc Tuấn
- Làm quan rất được kính trọng dưới 4 đời vua Trần, các vị vua nhà Trần thường gọi ông là
“thầy”, khi qua đời được thờ ở Văn Miếu Hà Nội
2 Sông Bạch Đằng
- Là đoạn sông Kinh Thầy đổ ra biển Đông, nằm
ở giữa Quảng Ninh và Hải Phòng
Trang 9các chiến công oanh liệt, các tác
phẩm văn chương liên quan đến
sông Bạch Đằng?
- HS: Nêu vị trí, các chiến công,
các sáng tác thơ văn về sông
Bạch Đằng
- GV: bổ sung (nếu cần), chiếu
video về đại chiến Bạch Đằng
giang trước lớp
- GV: Bài phú ra đời trong hoàn
cảnh như thế nào?
- HS: Dựa vào bài soạn trả lời
- GV: Em hãy nêu những đặc
điểm của thể phú?
- HS: Trả lời dựa vào bài chuẩn
bị
- GV: Bổ sung và nêu về loại cổ
phú của tác phẩm
- GV: Thuyết giảng về không
gian nghệ thuật trong tác phẩm
văn học
- HS: Lắng nghe và ghi chép
- Sông này rộng, sóng to, địa thế hiểm trở Nơi đây quân ta đã hai lần chiến thắng quân xâm lược phương Bắc: 938 Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, 1288 nhà Trần tiêu diệt lần xâm lược thứ ba của quân Mông – Nguyên
- Con sông từng soi bóng trong sáng tác của nhiều thi nhân: “Bạch Đằng giang” (Nguyễn Sưởng), “Bạch Đằng giang” (Trần Minh Tông),
“Bạch Đằng hải khẩu” (Nguyễn Trãi)
3 Tác phẩm
a Hoàn cảnh ra đời Chưa rõ bài phú được viết năm nào, có lẽ khoảng 50 năm sau cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên thắng lợi Chỉ biết “Phú sông Bạch Đằng” gợi cảm hứng sau một cuộc dạo chơi của nhà thơ trên sông Bạch Đằng
b Thể loại
- Phú là thể văn có nhịp điệu, nhằm miêu tả, trình bày sự vật để biểu hiện tư tưởng tình cảm của tác giả
- Phú có 4 loại chính: cổ phú, bài phú, luật phú
và văn phú
- “Phú sông Bạch Đằng” thuộc loại cổ phú, sử dụng lối “chủ - khách đối đáp”, câu thơ có xen tiếng “chừ”, sử dụng câu đối theo kiểu vế sau phô diễn tiếp mạch ý của vế trước
4 Vài nét khái quát về không gian nghệ thuật + Khái niệm: không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật Không gian nghệ thuật không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng mà còn cho thấy những quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học
+ Đặc điểm:
- Không gian nghệ thuật thống nhất nhưng không đồng nhất với không gian vật chất bên ngoài
- Không gian nghệ thuật của tác phẩm chỉ có thể được cảm nhận đầy đủ thông qua thể loại, hoàn cảnh ra đời, đề tài, chủ đề… của nó
- Không gian nghệ thuật có tính ước lệ, mang ý
Trang 10Hoạt động 2: Hướng dẫn học
sinh đọc – hiểu văn bản
- GV: Yêu cầu học sinh đọc diễn
cảm văn bản và phân chú thích
dưới chân trang
- HS: Đọc theo yêu cầu
- GV: Theo em nên chia bài phú
làm mấy phần? nội dung của
từng phần?
- HS: Trả lời theo cách hiểu
- GV: Định hướng chia làm 3
phần
- GV: Từ nào trong đoạn thơ thể
hiện đặc điểm của thể phú cổ
thể?
- HS: Từ “Khách” ngay đầu văn
bản
- GV: Trong hai câu thơ đầu, chỉ
ra các từ chỉ không gian và cho
biết những động từ kết hợp với
các từ ấy? Qua đó cho thấy điều
gì về “Khách”?
- GV: Nhà thơ sử dụng biện
pháp gì khi nêu các địa danh?
Đó là những địa danh nào? Ở
đâu? Từ đó cho thấy “Khách” là
người như thế nào?
- HS: Suy nghĩ trả lời
nghĩa cảm xúc
II Đọc – hiểu văn bản
1 Đọc và chú thích
2 Bố cục: 3 phần
- Phần 1: “Khách có kẻ …luống còn lưu”: cảm xúc lịch sử của khách trước cảnh sắc sông Bạch Đằng
- Phần 2: “Bên sông các bô lão… chừ lệ chan”: các bô lão kể về chiến công lịch sử và suy ngẫm, bình luận của họ về những chiến công trên sông Bạch Đằng
- Phần cuối: còn lại: lời ca khẳng định vai trò và đức độ của con người
3 Tìm hiểu tác phẩm
a Phần 1 + “Khách” – từ thể hiện đặc trưng của phú cổ thể “Khách” ở đây là tác giả, ở đoạn 2 tác giả xưng là “ta” Văn bản chủ yếu đều xuất phát từ
sự quan sát của nhân vật này
+ Hai câu đầu: nhà thơ sử dụng các từ: “buồm”,
“gió”, “bể”, “trăng”-> không gian khoáng đạt, mênh mông
Kết hợp với các động từ: “giương”, “giong”,
“lướt”, “chơi”-> hành động của người thích dạo chơi ngắm cảnh
=> Hiện lên hình ảnh một con người thích ngao
du, thưởng ngoạn cảnh vật
+ 10 câu thơ tiếp:
- Liệt kê các địa danh:
“Nguyên”, “Tương”, “Vũ Huyệt”, “Cửu Giang”, “Ngũ Hồ”, “Tam Ngô”, “Bách Việt”, “Vân Mộng”
-> Những địa danh lấy trong từ điển Trung Quốc Có lẽ nhà thơ biết đến chủ yếu qua sách vở
“Cửa Đại Than”, “bến Đông Triều”,
“sông Bạch Đằng”
-> Những địa danh của đất Việt, tác giả trực tiếp thăm thú, đến thưởng thức cảnh trí