1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo dục nâng cao tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT hậu lộc 4, thông qua bài bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia

27 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 537 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa và vận mệnh của đất nước đều nhận được sự quan tâm của mọi ngườitrong đó có học sinh, là chủ nhân tương lai của

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

GIỚI QUÔC GIA”

Người thực hiện : Nguyễn Văn Giáp Chức vụ : Giáo viên

SKKN thuộc môn : Giáo dục quốc phòng – An ninh

Trang 2

THANH HOÁ NĂM 2020

2 Nội dung

2.1.3 Khái quát hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của

2.2.1 Nội dung chương trình giáo dục môn GDQP.AN đối

với cấp trung học phổ thông

9

2.2.3 Các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng

vấn đề biển Đông để chống phá cách mạng nước ta

10

2.3 Giải pháp chính của sáng kiến 10

2.3.1 Một số kiến thức về biển, đảo Việt Nam; đặc biệt là

hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

10

2.3.2 Một số kiến thức về biển, đảo Việt Nam theo pháp

luật quốc tế

10

Trang 3

2.3.3 Một số kiến thức về lịch sử xác lập và thực thi chủ

quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa

10 – 11

2.3.4 Một số vụ “gây hấn” của Trung Quốc đối với Việt

Nam trên biển Đông trong thời gian gần đây

11 – 12

2.3.5 Một số bản đồ chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa

và Trường Sa không thuộc chủ quyền của Trung Quốc

12 – 15

2.3.6 Ý kiến của một số học giả Trung Quốc nói về đường

lưỡi bò (đường chữ U hay đường đứt khúc chín đoạn) của

Trung Quốc

15 -16

2.3.7 Ý kiến của một số học giả Trung Quốc nói về việc

thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” của Trung Quốc

16

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 17

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 4

1 Mở đầu

I.1 Lí do chọn đề tài.

Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đãkhẳng định một chân lý: Dựng nước phải đi đôi với giữ nước Chân lý đó đã trởthành truyền thống quý báu của dân tộc, đồng thời là một quy luật nội tại củaquá trình xây dựng và phát triển bền vững đất nước Ngay sau chiến thắng ÐiệnBiên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Tại Ðềnthờ các Vua Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ân cần căn dặn cán bộ, chiến sĩ Ðạiđoàn 308 trước khi về tiếp quản Thủ đô: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước,Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” Ðây là tư tưởng chỉ đạo rất quantrọng của Bác với quân và dân ta Nắm vững và vận dụng quy luật đó, ngày nay

Đảng ta khẳng định: “Xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai

nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam”.

Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng xác định Giáo dục Quốc phòng

-An ninh là một bộ phận quan trọng trong xây dựng nền Quốc phòng toàn dân,đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới

Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã xác định: Giáo dục Quốc phòng

- An ninh là bộ phận của nền giáo dục quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; là môn học chính khoá trong

chương trình giáo dục của cấp THPT

Luật Giáo dục Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã xác định

mục tiêu giáo dục là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo

đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tuởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Chương trình Giáo dục Quốc phòng – An ninh góp phần giáo dục toàndiện cho học sinh về lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, niềm tự hào và sựtrân trọng đối với truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, của cáclực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam Trên cơ sở đó, nâng cao cảnh giác cáchmạng, ý thức trách nhiệm công dân; có ý thức cảnh giác trước âm mưu thủ đoạncủa các thế lực thù địch; có kỹ năng quân sự, an ninh cần thiết để tham gia vào

sự nghiệp xây dựng, củng cố quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân

Vậy, việc giảng dạy và học tập bộ môn Giáo dục Quốc phòng – An ninhtrong nhà trường THPT là hết sức cần thiết

Thời gian qua, tình hình tranh chấp ngày càng gia tăng và diễn biến ngàycàng phức tạp về chủ quyền của một số nước trên biển Đông, trong đó có ViệtNam Vấn đề về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa và vận mệnh của đất nước đều nhận được sự quan tâm của mọi ngườitrong đó có học sinh, là chủ nhân tương lai của đất nước

Lợi dụng về vấn đề tranh chấp trên biển Đông, chủ quyền của Việt Namđối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các thế lực thù địch trong và

Trang 5

ngoài nước đã tiến hành xuyên tạc, kích động nhằm chống đối cách mạng nước

ta, làm mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Đối với học sinh làlực lượng đông đảo và có vai trò to lớn trong đời sống xã hội; là bộ phận năngđộng, nhạy bén, có khả năng thích nghi cái mới nhanh, nhiệt tình, xông xáo;nhưng vốn sống và kinh nghiệm ít, kiến thức và bản lĩnh chính trị có hạn, mức

độ kiềm chế và năng lực đề kháng trước những cám dỗ còn thấp, dễ bị lôi kéobởi những nguồn thông tin sai lệch

Từ ý nghĩa và thực tiễn đó tôi chọn đề tài: Giáo dục nâng cao tình yêu

biển, đảo cho học sinh trường THPT Hậu Lộc 4, thông qua bài “ Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của tôi.

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Giáo dục Quốc phòng - Anninh tại các Trường THPT trong toàn tỉnh nói chung và trường THPT Hậu Lộc 4nói riêng, đồng thời để bồi dưỡng đào tạo thêm kiến thức GDQP - AN cho độingũ giáo viên

Giúp học sinh hứng thú hơn, tích cực hơn trong quá trình tiếp nhận trithức và kiến thức về tình yêu biển, đảo; chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và biêngiới quốc gia

Giúp học sinh hiểu được khái niệm; sự hình thành; các bộ phận cấu thànhlãnh thổ và chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam và cách xác địnhđường biên giới quốc gia trên biển

Quán triệt các quan điểm của Đảng, Nhà nước; các nội dung biện pháp cơbản về xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia

Xác định thái độ, trách nhiệm của học sinh trong xây dựng, quản lý và bảo

vệ biên giới quốc gia

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng là học sinh khối 11 đang học tập tại trường THPT Hậu Lộc 4năm học 2019 - 2020 Đề tài tập trung nghiên cứu những hình ảnh, xây dựng cáccổng thông tin về vấn đề tranh chấp trên biển Đông; khái quát về hai quần đảoHoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam và các bản đồ về biển, đảo để đưa vào cáctiết dạy sao cho sinh động hợp lý, phát huy tính tích cực, tự học, chủ động, sángtạo của học sinh trong hoạt động học tập, khắc phục thói quen học tập thụ động,lối truyền thụ kiến thức chưa phù hợp trước kia

Trao đổi thảo luận với đồng nghiệp và học sinh

Nghiên cứu sách Lịch sử, sách Địa lý và trao đổi, thảo luận với giáo viêngiảng dạy môn Lịch sử, môn Địa lý của trường THPT Hậu Lộc 4

Nghiên cứu nội dung, mục tiêu các bài học trong sách giáo khoaGDQP.AN khối: 11, sưu tầm thêm tài liệu thông tin, bản đồ biển, đảo để từ đóxây dựng sơ đồ tư duy phù hợp với chương trình và giảng dạy

Trang 6

Trao đổi với học sinh để tìm hiểu đặc tính tâm sinh lý trong quá trìnhgiảng dạy.

Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT Hậu Lộc 4

1.5 Những điểm mới của SKKN.

Đề tài Giáo dục nâng cao tình yêu biển, đảo cho học sinh trường THPT

Hậu Lộc 4, thông qua bài “Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia” có

những điểm mới như sau:

Một là: Giúp học sinh nắm chắc kiến thức về chủ quyền lãnh thổ và biêngiới quốc gia Việt Nam

Hai là: Cung cấp các kiển thức mới nhất về tình hình Biển đông Đặc biệt

là vấn đề tranh chấp trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam màhiện nay trong sách giáo khoa Lịch Sử, sách giáo khoa GDQP.AN chưa đượccập nhật

Ba là: Xây dựng cho học sinh ý thức, trách nhiệm trong việc bảo vệ Tổquốc Kiên định, vững vàng trước những âm mưu ngày càng tinh vi và xảo quyệtcủa các thế lực thù địch, đặc biệt trong tình hình mới hiện nay

2 Nội dung

2.1 Cơ sở lý luận:

2.1.1 Khái quát về biển, đảo Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia ven biển nằm trong khu vực trung tâm củaĐông Nam Á Bờ biển Việt Nam dài 3.260km, từ Quảng Ninh ở phía Đông Bắctới Kiên Giang ở phía Tây Nam Có 28/63 tỉnh, thành phố của Việt Nam nằmven biển, chiếm 42% diện tích và 45% dân số cả nước; có khoảng 15,5 triệungười sống gần bờ biển và hơn 175 ngàn người sông ở đảo Tính trung bình tỉ lệdiện tích theo số km bờ biển thì cứ 100km2 có 1km bờ biển (so với trung bìnhcủa thế giới là 600km2 đất liền trên 1km bờ biển)

Vùng biển Việt Nam bao gồm vùng nội thủy nằm bên trong đường cơ sở;lãnh hải có chiều rộng 12 hải lý (1 hải lý tương đương 1.852km); vùng đặcquyền kinh tế và thềm lục địa có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở;riêng thềm lục địa có thể kéo dài 350 hải lý Theo công ước của Liên Hiệp Quốc

về luật biển năm 1982, vùng biển Việt Nam có diện tích trên 1 triệu km2 gấp 3lần diện tích đất liền và chiếm 30% diện tích biển Đông Nhà nước Cộng Hòa

Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền, quyền chủ quyền và quyềntài phán quốc gia đối với các vùng biển trên Năm 1982, Chính Phủ Việt Nam đãtuyên bố xác định đường cơ sở thẳng ven bờ lục địa Việt Nam gồm 10 đoạn nối

11 điểm

Vùng biển Việt Nam có khoảng 3.000 đảo lớn nhỏ và hai quần đảo xa bờ

là Hoàng Sa và Trường Sa Trong đó: 84 đảo có diện tích trên 1km2; 24 đảo códiện tích trên 10km2; 66 đảo có dân sinh sống với tổng số dân là 175 nghìnngười Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ quốc

Trang 7

gia đã làm tăng giá trị kinh tế và an ninh quốc phòng đất nước Các đảo có diệntích lớn nhất: Đảo Phú Quốc (320km2 có 50 nghìn dân); Đảo Cái Bầu (200km2

trên 21 nghìn dân); Đảo Cát Bà (149km2 trên 15 nghìn dân); Đảo Côn Đảo(56,7km2 có 1.640 dân); Đảo Phú Quý (32km2 gần 18 nghìn dân) và Đảo Lý Sơn(3km2 có trên 16 nghìn dân sinh sống)

Ý nghĩa kinh tế lớn nhất của đảo không chỉ là giá trị vật chất của bản thânchúng mà còn là vị trí chiến lược, là cầu nối vươn ra biển cả, là điểm tựa khaithác các nguồn lợi biển, là những điểm tiền tiêu bảo vệ Tổ quốc Nhờ có hệthống đảo ven bờ được vận dụng làm các điểm cơ sở của hệ thống đường cơ sởthẳng nên đã tạo ra vùng nội thủy rộng lớn, do đó vùng lãnh hải, vùng đặc quyềnkinh tế và thềm lục địa cũng được mở rộng ra hướng biển Về giá trị văn hóa, hệthống đảo đã tạo nên những cảnh quan thiên nhiên như những di sản văn hóa cósức thu hút mạnh đối với du khách (ví dụ Vịnh Hạ Long)

Vịnh Hạ Long – Kỳ quan thiên nhiên của Thế Giới

2.1.2 Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia

- Vùng nội thủy

Vùng nội thủy là vùng nước biển được xác định bởi một bên là bờ biển

và một bên khác là đường cơ sở của quốc gia ven biển Vùng nước nội thủythuộc chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ của quốc gia ven biển Chủquyền này bao gồm cả lớp nước biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển và vùngtrời trên nội thủy

Thực tế của các quốc gia có biển cho thấy, vùng nước nội thủy bao gồmnhiều bộ phận có tính chất và quy chế pháp lý khác nhau Trong vùng này cácquốc gia ven biển sẽ thực hiện đầy đủ quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp giốngnhư trên đất liền Mọi luật lệ do quốc gia ban hành đều được áp dụng cho vùngnội thủy mà không có một ngoại lệ nào

Chủ quyền quốc gia ven biển trong vùng nội thủy được quy định rõ ràng

và chủ yếu trong các văn bản pháp luật quốc gia Theo pháp luật Việt Nam, chủ

Trang 8

quyền quốc gia trong nhiều văn bản pháp luật, từ hiến pháp đến các luật và cácvăn bản dưới luật như Luật hình sự Việt Nam năm 1999, Luật biên giới quốc gianăm 2003

Nguồn: www.vietbao.com.vn

- Vùng nước lãnh hải

Vùng nước lãnh hải là vùng biển nằm bên ngoài và tiếp liền với vùngnước nội thủy của quốc gia (hoặc vùng nước quần đảo của quốc gia quần đảo).Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển(Công ước 1982) Bề rộng của lãnh hải theo Công ước Luật Biển năm 1982 doquốc gia tự quy định nhưng không vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở dùng

để tính chiều rộng lãnh hải của quốc gia (điều 3 Công ước 1982)

Tuyên bố năm 1977 của Chính Phủ Việt Nam đã nêu rõ: “Lãnh hải củanước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía ngoàiđường cơ sở nối liền các điểm nhô ra xa nhất của bờ biển và các điểm ngoàicùng của các đảo ven bờ của Việt Nam, tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhấttrở ra

Luật biên giới quốc gia năm 2003 quy định: “Lãnh hải của Việt Namrộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía ngoài Lãnh hải của Việt Nam baogồm lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo”

Theo các văn bản pháp luật này, chiều rộng của lãnh hải Việt Nam đãtuyên bố hoàn toàn phù hợp với quy định tại điều 3 Công ước năm 1982 Theođó: “Với điều kiện phải chấp hành Công ước, tàu thuyền của tất cả các quốc gia,

có biển hay không có biển, đều được hưởng quyền đi qua không gây hại tronglãnh hải” Quyền này được cộng đồng quốc tế thừa nhận vì lợi ích phát triển,hợp tác trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, hàng hải và anninh quốc phòng của các quốc gia trong quan hệ quốc tế từ trước đến nay

- Vùng tiếp giáp lãnh hải

“Vùng tiếp giáp không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng

Trang 9

để tính chiều rộng của lãnh hải” (điều 33 Công ước 1982).

Tuyên bố 1977 của Chính Phủ Việt Nam: “Vùng tiếp giáp lãnh hải củanước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoàilãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thànhvùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hảiViệt Nam”

Nguồn: www.tuyengiaoqna.vn

- Vùng đặc quyền kinh tế

“Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa ViệtNam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùngbiển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ViệtNam” (tuyên bố của Chính Phủ Việt Nam năm 1977)

Theo Công ước 1982: “Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phíangoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy địnhtrong phần này, theo đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, cácquyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ướcđiều chỉnh”

Theo quy định của Công ước 1982, quốc gia ven biển có các quyền thuộcquyền chủ quyền về việc thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tàinguyên thiên nhiên, sinh vật hay không sinh vật, của vùng nước bên trên đáybiển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khácnhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuấtnăng lượng từ nước, hải lưu và gió

Các quốc gia khác muốn nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh

tế của quốc gia ven biển phải được sự đồng ý và tôn trọng luật pháp của quốcgia ven biển

Trang 10

Ngày 26/05/2011 ba tàu Hải giám của Trung Quốc mang số hiệu 12, 17 và 84 cắt cáp của tàu Bình Minh 02 đang làm nhiệm vụ thăm dò khảo sát địa chấn bằng phương pháp thu nổ tại lô

125 – 126 và 148 – 149 thuộc vùng lãnh hải của Việt Nam.

Nguồn: www.laodong.com.vn

- Thềm lục địa

“Thềm lục địa của quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dướiđáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần đất kéo dài tựnhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa,hoặc đến các đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn” (Công ước 1982)

“ Thềm lục địa của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam baogồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địaViệt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa;nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng củalãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200hải lý kể từ đường cơ sở đó” (Tuyên bố của Chính Phủ Việt Nam 1977)

Trong nhiều năm qua, đặc biệt là từ những năm cuối thập niên 80 của thế

kỷ XX, chúng ta đã tiến hành nhiều hoạt động nghiên cứu, thăm dò, khai tháccác loại tài nguyên khoáng sản và đặc biệt là dầu khí, cũng như thành lập cáccụm khoa học, kinh tế và dịch vụ trên thềm lục địa Việt Nam, đặt dây cáp, ốngdẫn ngầm để chứng minh và khẳng định quyền chủ quyền đối với thềm lục địaViệt Nam với cộng đồng quốc tế

2.1.3 Khái quát hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

- Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam

Quần đảo Hoàng Sa là một trong hai quần đảo xa bờ thuộc chủ quyền của

Việt Nam từ lâu đời Trong lịch sử quần đảo Hoàng Sa còn có tên là “Bãi Cát

Vàng” Tên quốc tế thường được thể hiện trên các hải đồ là Paracels Quần đảo

Trang 11

gồm 37 đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm và một số đối tượng địa lý khác thuộc huyệnHoàng Sa, thành phố Đà Nẵng Khu vực quần đảo nằm trên vùng biển rộngkhoảng 30.000km2 Phạm vi quần đảo được giới hạn bằng các đảo, bãi ở các cựcBắc, Nam, Đông, Tây như sau:

Vị trí các cực của quần đảo Vĩ độ Bắc Kinh độ ĐôngCực Bắc: Đảo Đá Bắc 170 06’ 0” 1110 30’ 8”

Cực Nam: Bãi ngầm Ốc Tai Voi 150 44’ 2” 1120 14’ 1”

Cực Đông: Bãi cạn Gò Nổi 160 49’ 7” 1120 53’ 4”

Cực Tây: Đảo Tri Ôn 150 47’ 2” 1110 11’ 8”

Về khoảng cách đến đất liền, từ đảo Tri Ôn đến mũi Ba Làng An, tỉnhQuảng Nam là 135 hải lý; đến Cù Lao Ré tỉnh Quảng Ngãi 123 hải lý Tổng diệntích phần nổi của quần đảo Hoàng Sa khoảng 10km2, đảo lớn nhất là đảo PhúLâm với diện tích khoảng 1,5km2 Quần đảo Hoàng Sa nằm ngang bờ biển cáctỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và một phần tỉnh Quảng Ngãi

Hoàng Sa nằm trong vùng “xích đạo từ” có độ sai lệch từ không thay đổihoặc thay đổi rất nhỏ, rất thuận lợi cho việc đi biển Quần đảo này có khí hậunhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều, thường có sương mù và nhiều giông bão, nhất là

từ tháng 6 đến tháng 8 hằng năm Trên một số đảo có nguồn nước ngọt, cây cối

um tùm, vô số chim và đặc biệt là có nhiều Rùa biển sinh sống

Nằm phía Đông của Việt Nam, Hoàng Sa án ngự đường hàng hải quốc tếhuyết mạch từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương Vùngbiển này có tiềm năng lớn về khoáng sản và nguồn hải sản, thuận lợi trong việcphát triển kinh tế, quan trọng hơn đây là vị trí quân sự chiến lược, khống chếđường giao thông trên biển và trên không trong khu vực phía Bắc Biển Đông

Nguồn: www.truongsahoangsa infonet.vn

Trang 12

- Quần đảo Trường Sa của Việt Nam

Quần đảo Trường Sa cách quần đảo Hoàng Sa tính đến đảo gần nhất làkhoảng 350 hải lý, đảo xa nhất là khoảng 500 hải lý; cách Vũng Tàu 305 hải lý;cách Cam Ranh 250 hải lý; cách đảo Phú Quốc 240 hải lý, cách Bình Thuận(Phan Thiết) 270 hải lý Quần đảo trải dài từ 60 2’ vĩ Bắc đến 1110 28’ vĩ Bắc; từkinh độ 1120 Đông đến 1150 Đông trong vùng biển chiếm khoảng 160.000km2

đến 180.000km2 Biển tuy rộng nhưng diện tích các đảo, đá, bãi nổi trên mặtnước lại rất ít, chỉ tổng cộng 11km2

Nguồn: www.baoquangngai.com.vn

2.2. Thực trạng

2.2.1 Nội dung chương trình giáo dục môn GDQP.AN đối với cấp trung học phổ thông.

Chương trình giáo dục phổ thông, nội dung kiến thức trong các môn Địa

Lý, Lịch Sử và Giáo dục Quốc phòng – An ninh có đề cập đến vấn đề biển, đảonhưng chưa nhiều; chưa đảm bảo để thực hiện được Quyết định số 373/QĐ-TTgcủa Thủ tướng Chính phủ về việc “ Phê duyệt đề án đẩy mạnh công tác tuyêntruyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam”; vàQuyết định số 1461/QĐ-BGDĐT về việc giao nhiệm vụ “ Xây dựng và thựchiện đề án tăng cường công tác giáo dục về tài nguyên và môi trường biển, hảiđảo vào chương trình giáo dục các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân

2.2.2 Tình hình tranh chấp trên biển Đông

Tình hình tranh chấp trên biển Đông ngày càng gia tăng và diễn biến ngàycàng phức tạp về chủ quyền của một số nước trên biển Đông, trong đó có ViệtNam Vấn đề về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa và vận mệnh của đất nước nhận được sự quan tâm của mọi người,trong đó có học sinh, những chủ nhân tương lai của đất nước

Trang 13

2.2.3 Các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng vấn đề biển Đông để chống phá cách mạng nước ta

Lợi dụng về vấn đề tranh chấp trên biển Đông, chủ quyền của Việt Namđối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các thế lực thù địch trong vàngoài nước đã tiến hành xuyên tạc, kích động nhằm chống đối cách mạng nước

ta, làm mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Nhận thức và thực tế như trên, với trách nhiệm là giáo viên giảng dạy bộmôn GDQP – AN của trường THPT Hậu Lộc 4; tôi chỉ nêu lên một số giải pháp

có hiệu quả từ kinh nghiệm sử dụng tư liệu sưu tầm để giáo dục tình yêu biển,đảo phục vụ giảng dạy cho học sinh của trường THPT Hậu Lộc 4 năm học 2019– 2020, thể hiện qua những giải pháp sau đây

2.3 Giải pháp chính của sáng kiến

Trong quá trình giảng dạy, để nâng cao chất lượng bài dạy “Bảo vệ chủquyền lãnh thổ và biên giới quốc gia” môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh lớp

11, ngoài những nội dung chính của bài tôi đã cung cấp thêm một số giải phápchính của sáng kiến như sau:

2.3.1 Một số kiến thức về biển, đảo Việt Nam; đặc biệt là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

+ Khái quát về biển, đảo Việt Nam

+ Khái quát về quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam

+ Khái quát về quần đảo Trường Sa của Việt Nam

2.3.2 Một số kiến thức về biển, đảo Việt Nam theo pháp luật quốc tế

- Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia

+ Vùng nội thủy

+ Vùng nước lãnh hải

- Các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia

+ Vùng tiếp giáp lãnh hải

- Trước năm 1884

+ Nhà nước Đại Việt thời Chúa Nguyễn đã xác lập và thực thi chủ quyền

Ngày đăng: 13/07/2020, 18:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w