ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRỊNH VIẾT HÀO XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN NHẰM CỦNG CỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG CHẤT KHÍ CHO HỌC SINH LỚP
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRỊNH VIẾT HÀO
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN NHẰM CỦNG CỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG CHẤT KHÍ CHO HỌC SINH LỚP 10 CƠ BẢN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM VẬT LÝ
Hà Nội – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRỊNH VIẾT HÀO
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN NHẰM CỦNG CỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG CHẤT KHÍ CHO HỌC SINH LỚP 10 CƠ BẢN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM VẬT LÝ Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý
Mã số: 8.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Huy Sinh
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình nghiên cứu và học tập tại trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, tôi đã hoàn thành xong luận văn của mình Trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, động viên, giúp đỡ vô cùng quý báu của các thầy cô giáo giảng viên Đó là một nguồn động lực to lớn và rất ý nghĩa đối với bản thân tôi Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến các Thầy, Cô giảng viên trường Đại học Giáo dục – ĐHQG
Hà Nội
Và đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng ngưỡng mộ và biết ơn vô cùng sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Huy Sinh, người đã truyền động lực và cảm hứng và giúp
đỡ cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến với các anh chị học viên cao học khóa QH-2017-S đã đồng hành và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian theo học tại trường Cùng với đó, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, các anh chị
em đồng nghiệm cùng các con học sinh tại trường Phổ Thông Liên Cấp Edison, khu đô thị Ecopark, Văn Giang, Hưng Yên và những người thân trong gia đình
đã động viên, quan tâm, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời gian học tập
và nghiên cứu đề tài này
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Học viên
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
1 Bảng 1.1 So sánh ưu, nhược điểm của TNKQ và tự luận 14
2 Bảng 2.1 Thời lượng và nội dung cụ thể chương Chất khí 34
3 Bảng 2.2 Mô tả kiến thức kĩ năng cần đạt được chương Chất
6 Bảng 3.1 Trọng số đề kiểm tra chương Chất khí 66
7 Bảng 3.2 Phân bố độ khó, độ phân biệt của câu hỏi sử dụng
8 Bảng 3.3a Thống kê điểm bài kiểm tra trước TNSP 71
9 Biểu đồ 3.3b Phân bố điểm kiểm tra của học sinh trước
10 Bảng 3.4a Thống kê điểm bài kiểm tra sau TNSP 71
11 Biểu đồ 3.4b Phân bố điểm kiểm tra của học sinh sau TNSP 72
12 Bảng 3.5a Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích trước
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH
2 Hình 1.2 Sơ đồ minh họa các loại phương pháp TNKQ 11
3 Sơ đồ 2.1 Cấu trúc nội dung khoa học chương Chất khí 35
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ iii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH iv
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
5 Vấn đề nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 3
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
9 Phương pháp nghiên cứu 3
10 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Bài tập vật lí và vai trò của bài tập vật lí 5
1.1.2 Phân loại bài tập vật lí 6
1.1.3 Bài tập trắc nghiệm khách quan 7
1.1.3.1 Lược sử hình thành và phát triển phương pháp trắc nghiệm 7
1.1.3.2 Khái niệm về trắc nghiệm 9
1.1.3.3 Giới thiệu chung về trắc nghiệm khác quan 9
1.1.3.4 Các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 10
Trang 81.1.3.5 So sánh phương pháp trắc nghiệm khách quan với phương pháp tự
luận 11
1.1.4 Đánh giá hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan 13
1.1.4.1 Độ khó 13
1.1.4.2 Độ phân biệt 14
1.1.5 Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan 15
1.1.5.1 Bài tập trắc nghiệm theo các cấp độ nhận thức 15
1.1.5.2 Xây dựng bản đặc tả cho hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan 17 1.1.5.3 Phương pháp xây dựng câu hỏi TNKQNLC 19
1.2 Cơ sở thực tiễn 20
1.2.1 Những đặc điểm riêng của trường Phổ thông liên cấp Edison 20
1.2.2 Việc dạy và học môn Vật lí tại trường PTLC Edison – Thực trạng và giải pháp 22
1.2.3 Điều tra tình hình dạy và học chương “Chất khí” Vật lí 10 cơ bản tại trường Trung học Edison 24
Tiểu kết chương 1 31
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN THEO CÁC CẤP ĐỘ NHẬN THỨC CHƯƠNG CHẤT KHÍ VẬT LÍ 10 CƠ BẢN THPT 32
2.1 Vị trí, đặc điểm cấu trúc nội dung chương “Chất khí” vật lí 10 cơ bản 32
2.2 Yêu cầu về kiến thức và kĩ năng học sinh cần đạt được sau khi học xong chương “Chất khí” 34
2.2.1 Yêu cầu về kiến thức chương “Chất khí” 34
2.2.2 Những yêu cầu về kĩ năng cơ bản mà học sinh cần đạt được khi học chương “Chất khí” 37
2.3 Những khó khăn và sai lầm thường gặp của học sinh khi học chương “Chất khí” 38
Trang 92.4 Xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQNLC chương “Chất khí” Vật lí 10 cơ
bản cho học sinh THPT 39
2.4.1 Mức độ kiến thức cần đạt được của học sinh trong chương “Chất khí” 40
2.4.2 Bảng trọng số câu hỏi theo các cấp độ nhận thức chương “Chất khí” 43 2.5 Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương “Chất khí” Vật lí 10 cơ bản 45
2.5.1 Cấu tạo chất Thuyết động học phân tử chất khí 45
2.5.2 Quá trình đẳng nhiệt Định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt 46
2.5.3 Quá trình đẳng tích Định luật Sác lơ 48
2.5.4 Phương trình trạng thái của khí lí tưởng 51
2.6 Phân tích phương pháp và cách thức xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQNLC trong hệ thống bài tập đã xây dựng 58
2.6.1 Phân tích câu hỏi thuộc mức độ nhận biết của học sinh 59
2.6.2 Phân tích câu hỏi thuộc mức độ thông hiểu của học sinh 60
2.6.3 Phân tích câu hỏi thuộc mức độ vận dụng của học sinh 61
Tiểu kết chương 2 63
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 64
3.1 Những vấn đề tổng quan về thực nghiệm sư phạm 64
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 64
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 64
3.1.3 Đối tượng tiến hành thực nghiệm và thời gian thực nghiệm 64
3.2 Quy trình tiến hành thực nghiệm sư phạm 65
3.3 Thời gian thực nghiệm sư phạm 65
3.4 Cách thức và thang điểm đánh giá 67
3.4.1 Thang điểm và cách đánh giá bài kiểm tra 67
3.4.2 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 67
3.4.3 Quy trình xử lý số liệu thống kê 69
Trang 103.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 70
Tiểu kết chương 3 78
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
1 Kết luận 80
2 Khuyến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, các ngành nói chung và ngành giáo dục nói riêng đã có những sự thay đổi mạnh mẽ để đáp ứng với xu thế phát triển của xã hội Các phương pháp giáo dục hiện đại đã và đang được triển khai để phục vụ mục đích và yêu cầu phát triển đất nước Giáo dục đang chuyển mình từ việc giảng dạy kiến thức hàn lâm sang dạy học thực tiễn gắn liền với đời sống hàng ngày Để đáp ứng yêu cầu đó, đòi hỏi người học phải có một nền tảng kiến thức
cơ bản vững chắc và rộng Ngoài việc học kiến thức còn cần phải rèn luyện các
kỹ năng, năng lực của bản thân để trở thành những người lao động phù hợp với nền công nghiệp hiện đại
Việc thay đổi hình thức thi THPT Quốc gia môn Vật Lí bằng hình thức trắc nghiệm khách quan (TNKQ) đòi hỏi người học có nền tảng kiến thức bao quát, trải rộng toàn bộ chương trình học, tránh tình trạng học tủ, học lệch Hình thức TNKQ giúp cho việc kiểm tranh đánh giá đảm bảo tính công bằng và chính xác hơn Từ đó đáp ứng được các yêu cầu của xã hội hiện nay Đứng trước nhiệm vụ đó, giáo dục buộc phải thay đổi phương pháp, hình thức dạy học, hình thức kiểm tra đánh giá để nâng cao chất lượng dạy và học nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp nguồn lao động trí thức cho xã hội
Vấn đề xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (TNKQNLC) ngoài việc đáp ứng được các yêu cầu đổi mới của ngành giáo dục còn giúp cho học sinh tiếp cận và làm quen với hình thức của kỳ thi THPT Quốc gia Ngoài ra, việc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan để đưa vào giảng dạy còn giúp học sinh rèn luyện được khả năng tư duy, giúp giáo viên có thể phân loại được trình độ học sinh Từ đó giáo viên có thể đưa ra các thay đổi về phương pháp dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh
Trang 12Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm củng cố kiến thức chương Chất khí cho học sinh lớp 10 cơ bản trung học phổ thông”
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn theo các cấp độ nhận thức của chương Chất khí – Vật lí 10 trong mỗi bài học để củng cố kiến thức cho học sinh Từ đó giáo viên có căn cứ để phân loại học sinh, thay đổi phương pháp giảng dạy (PPGD) phù hợp với đối tượng học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn theo các cấp độ nhận thức của học sinh
+ Nghiên cứu tiến trình và phương pháp xây dựng bài tập TNKQNLC
+ Nghiên cứu vai trò và việc sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách
quan nhiều lựa chọn để củng cố kiến thức chương chất khí cho học sinh lớp 10 THPT
+ Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các
bài tập TNKQNLC đã xây dựng nhằm để củng cố kiến thức chương chất khí _
Vật lí 10 cơ bản cho học sinh
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học sử dụng hệ thống bài tập
TNKQNLC trong các bài chương Chất Khí (Vật lí 10 THPT) của giáo viên và học sinh lớp 10 trường PTLC Edison, khu đô thị Ecopark Văn Giang, Hưng
Trang 13Hai vấn đề quan trong mà đề tài muốn tập trung nghiên cứu bao gồm:
- Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn như thế nào để củng cố kiến thức chương chất khí cho học sinh?
- Sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn trong các bài học như thế nào để củng cố kiến thức và phân loại được học sinh?
6 Giả thuyết khoa học
Xây dựng hệ thống bài tập TNKQNLC theo các cấp độ nhận thức trong chương chất khí để củng cố kiến thức cho học sinh, ngoài ra dựa vào kết quả thu được có thể phân loại học sinh để thay đổi phương pháp dạy học cho phù hợp
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương chất khí (Vật lí 10 cơ bản THPT)
- Sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương chất khí để củng cố kiến thức trong các tiết dạy
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận của đề tài: Đề tài góp phần làm rõ thêm lí luận về xây
dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn môn Vật lí cho học sinh THPT
- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Kết quả nghiên cứu có thể được vận dụng
vào việc củng cố kiến thức cho học sinh THPT môn Vật lí
9 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu lý luận về bài tập trắc nghiệm khách
quan nhiều lựa chọn, các cấp độ nhận thức của người học
- Nghiên cứu thực tiễn (điều tra, quan sát, chuyên gia, tư vấn ): Nghiên
cứu thực tiễn việc dạy và học phần củng cố kiến thức của học sinh chương chất khí Vật lí 10 THPT Tham khảo các ý kiến của các chuyên gia giáo dục về xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập TNKQNLC theo các cấp độ nhận thức
Trang 14- Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành giảng dạy song song chương Chất khí
có sử dụng hệ thống bài tập TNKQNLC và giảng dạy theo truyền thống để phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu của đề tài Từ đó đưa ra kết luận về hiệu quả
và tính khả thi của đề tài nghiên cứu
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài những vấn đề được trình bày ở phần đầu, luận văn được xây dựng với cấu trúc bao gồm các chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách
quan nhiều lựa chọn theo các cấp độ nhận thức chương Chất khí – Vật lí 10 cơ bản THPT nhằm củng cố kiến thức cho học sinh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Bài tập vật lí và vai trò của bài tập vật lí
Bài tập vật lí được hiểu là một hay nhiều vấn đề được đặt ra đòi hỏi người đọc phải giải quyết những vấn đề đó theo tư duy logic, những phép toán và thực
hành thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật và phương pháp vật lí
Hiểu theo nghĩa rộng thì khi học sinh nghiên cứu tài liệu giáo khoa hoặc một hiện tượng trong đời sống, mỗi một vấn đề xuất hiện cũng chính là một bài
tập đối với học sinh
Trong quá trình dạy và học bộ môn vật lí, việc xây dựng và sử dụng các bài tập vật lí có một vai trò đặc biệt quan trọng tùy thuộc vào mục đích khác nhau của giáo viên Có thể kể đến những vai trò quan trọng của bài tập vật lí:
- Sử dụng bài tập vật lí trong giảng dạy sẽ giúp cho học sinh lĩnh hội được kiến thức và khắc sâu kiến thức một cách dễ dàng hơn Trong quá trình này, bài tập vật lí đóng vai trò là phương tiện nghiên cứu
- Giáo dục trong thời đại mới chú trọng việc ứng dụng kiến thức khoa học vào trong đời sống, học tập lý thuyết gắn liền với ứng dụng thực tiễn Với mục tiêu này, bài tập vật lí đóng vai trò là phương tiện hữu ích trong việc rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức lý thuyết vào trong thực tế, học tập với đời sống
- Trong quá trình giải bài tập vật lí, học sinh phải phân tích điều kiện đề bài, tự đưa ra những lập luận, tiến hành thực hiện các phép tính toán, các thí nghiệm, các phép đo để kiểm tra kết luận của mình Thông qua quá trình đó, khả năng tư duy và phương pháp nghiên cứu khoa học của học sinh dần dần được hình thành một cách tự nhiên
Trang 16- Để giải bài tập vật lí, học sinh phải nhớ lại các khái niệm, định luật, kiến thức đã học trong từng chương, phần Điều này giúp học sinh ghi nhớ kiến thức một cách vững chắc và sâu sắc hơn Chính vì thế, bài tập vật lí đóng vai trò là phương tiện ôn tập, củng cố kiến thức đã học một cách hiệu quả và có tác dụng cao
- Bài tập vật lí còn góp phần rèn luyện đức tính cho học sinh như: tinh thần tự lập, tính cẩn thận, tính kiên trì và tinh thần vượt khó
- Bài tập vật lí có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng của học sinh Từ đó giúp giáo viên thay đổi phương pháp giảng dạy để phù hợp với từng đối tượng học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy và học
1.1.2 Phân loại bài tập vật lí
Tùy vào phương tiện giải hay mức độ khó của bài tập mà có thể có các dạng bài tập khác nhau
Hình 1.1 Phân loại bài tập Vật lí
Trang 171.1.3 Bài tập trắc nghiệm khách quan
Theo sơ đồ hình 1.1 Bài tập trắc nghiệm khách quan thuộc loại bài tập
“Phân loại theo phương thức cho điều kiện và phương thức giải” Luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu về bài tập TNKQNLC về mặt lí thuyết Đồng thời áp dụng cơ sở lý thuyết để xây dựng hệ thống bài tập TNKQNLC nhằm củng cố kiến thức chương “Chất khí” vật lí 10 THPT Trước tiên cần tìm hiểu về cơ sở
lí luận và thực tiễn của bài tập TNKQ
1.1.3.1 Lược sử hình thành và phát triển phương pháp trắc nghiệm
* Trên thế giới:
Vào thế kỉ thứ XVII – XVIII tại Châu Âu, các phương pháp trắc nghiệm
đo lường thành quả học tập đầu tiên đã được sử dụng tuy chưa phổ biến Đến thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, người ta đã chú ý hơn đến việc sử dụng các phương pháp trắc nghiệm đo lường thành quả học tập
Năm 1904, Alfred Binet – nhà tâm lí học người Pháp đã xây dựng một
số bài trắc nghiệm về trí thông minh khi nghiên cứu về những trẻ em bị mắc bệnh tâm thần Đến năm 1916, các bài trắc nghiệm này đã được biên soạn và dịch sang tiếng Anh bởi Lewis Terman Từ đó, người ta sử dụng tên Stanford – Binet để đặt cho phương pháp trắc nghiệm này
Vào những cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, E Thorm Dike đã đi tiên phong trong việc sử dụng hình thức TNKQ áp dụng vào môn số học và một số môn khác Ông cho rằng đây là một phương tiện “khách quan và nhanh chóng”
để đánh giá và khảo sát trình độ của học sinh
Trong những năm gần đây, TNKQ được sử dụng rất phổ biến và rộng rãi trong việc kiểm tra đánh giá kiến thức và năng lực của học sinh TNKQ được
sử dụng như một hình thức kiểm tra kiến thức tổng quát của học sinh Ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, TNKQ được sử dụng khá phổ biến ở một số môn học
* Ở Việt Nam:
Trang 18Việc ứng dụng phương pháp TNKQ ở Việt Nam đã được các tác giả sử dụng từ những năm 1960 ở một số ngành khoa học như ngành tâm lí học Đến năm 1969, trường đại học Sài Gòn đã đưa lý thuyết về phương pháp TNKQ và thống kê để giảng dạy tại các lớp cao học và tiến sĩ giáo dục Và đến năm 1974, lần đầu tiên phương pháp TNKQ xuất hiện trong bài thi tú tài ở Miền Nam [5]
Cho đến nay, việc sử dụng phương pháp TNKQ đã trở nên rất phổ biến
ở Việt Nam Các tác giả là các nhà khoa học hay những giảng viên, giáo viên
đã và đang sử dụng TNKQ như một hình thức thu thập thông tin người học một cách nhanh chóng và chính xác Trong xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá của
Bộ giáo dục và đào tạo, hình thức TNKQ được sử dụng rất phổ biến Một vài năm gần đây, các câu hỏi TNKQ được sử dụng trong đề thi tốt nghiệp THPT Quốc gia ở các môn học như: Lý, Hóa, Sinh, … Môn Tiếng Anh còn có những học phần thi bằng phương pháp trắc nghiệm Một số tác giả đã sử dụng phương pháp TNKQ trong các đề tài nghiên cứu của mình như: “Bước đầu nghiên cứu nhận thức tâm lí của sinh viên đại học sư phạm” năm 1976 và “Vận dụng phương pháp test và phương pháp kiểm tra truyền thống trong dạy học tâm lí học” năm 1978 của tác giả Nguyễn Như An; “Test trong dạy học” của Nguyễn Hữu Long – cán bộ giảng dạy khoa tâm lí
Trong những năm gần đây, việc sử dụng TNKQ trong nghiên cứu và trong kiểm tra đánh giá đang được Bộ giáo dục chú trọng và phát triển Đã có nhiều đợt tập huấn cho các cán bộ chủ chốt tại các trường ở các địa phương trên toàn quốc về việc hướng dẫn ra đề thi TNKQ, xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ Bắt đầu từ năm học 2007 – 2008, Bộ giáo dục đã sử dụng hệ thống bài tập TNKQ vào các đề thi của kỳ thi tốt nghiệp THPT Quốc gia, thậm chí là cả trong những đề thi đại học, các đề thi đánh giá năng lực đầu vào của các trường đại học trong nước nhằm đánh giá một cách khách quan và tổng quát kiến thức của học sinh Những hành động đó đủ để cho thấy tầm quan trọng và tính ứng
Trang 19dụng cao của hệ thống bài tập TNKQ trong bối cảnh chung của nền giáo dục tại Việt Nam hiện nay
Trong nhà trường, hệ thống bài tập TNKQ đã và đang được đưa vào sử dụng để giảng dạy và kiểm tra đánh giá nhằm giúp học sinh làm quen với dạng bài tập này Có thể thấy ở hầu hết các môn học tại trường phổ thông hiện nay đều có sự xuất hiện của dạng bài tập này Từ các bài kiểm tra định kì, thường xuyên đến các đề thi học kì và các bài khảo sát đều có sử dụng dạng bài tập TNKQ Ngoài ra, hệ thống bài tập TNKQ giúp nhà giáo dục dễ dàng đánh giá được năng lực của theo các cấp độ nhận thức của người học
1.1.3.2 Khái niệm về trắc nghiệm
Theo Dương Thiệu Tống thì trắc nghiệm được hiểu là một cách thức đo lường một mẫu nào đó với mục đích so sánh các thành tựu cá nhân của người này với người khác hoặc khi sử dụng để so sánh giữa các nhiệm vụ hoặc lĩnh vực được dự kiến trước [5]
Theo tác giả Trần Bá Hoành thì trắc nghiệm được hiểu là một cách thức thăm dò đặc biệt đối với các thuộc tính về năng lực và lĩnh vực trí tuệ của một học sinh (ví dụ như trí nhớ, sự chú ý, sự thông minh và trí tưởng tượng của học sinh) hoặc là cách thức để kiểm tra kiến thức, các kĩ năng trong một chương nhất định hoặc các kĩ xảo trong chương đó [5]
Như vậy, có thể nói trắc nghiệm là một hình thức sử dụng các công cụ hoặc phương thức đánh giá đặc biệt nào đó để đo lường kết quả của người học
Từ đó người đánh giá có cái nhìn tổng quan và trung thực về kiến thức, kĩ năng,
kĩ xảo của người học
1.1.3.3 Giới thiệu chung về trắc nghiệm khác quan
Trắc nghiệm khách quan là một hình thức dùng để ước lượng và đánh giá một cách cụ thể các mức độ khác nhau của một người nào đó đối với khả năng thể hiện hành vi trong lĩnh vực nhất định Có ba loại: được minh hoạ qua sơ đồ dưới đây [5]
Trang 20Hình 1.2 Sơ đồ minh học các loại phương pháp TNKQ
Trong 3 phương pháp trên, phương pháp trắc nghiệm viết thường được sử dụng nhiều nhất vì một số ưu điểm sau:
- Có thể cùng lúc kiểm tra được nhiều học sinh trong một lần thi
- Cho ra một bảng kết quả rõ ràng, có giá trị cao cho việc đánh giá và thống kê
- Quản lý dễ dàng hơn và không bị chi phối bởi người chấm
1.1.3.4 Các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
- Câu mở: Thông thường dạng câu hỏi này được dúng trong trường hợp
kiểm tra kiến thức của học sinh ở mức độ thấp nhất (học sinh chỉ cần nhớ lại kiến thức đã học là có thể hoàn thành nội dung câu hỏi)
- Câu điền khuyết (Hay còn được gọi là câu hỏi điền vào chỗ trống):
Dạng câu hỏi này được ra với hình thức đề ra cho học sinh một câu hỏi trực tiếp hoặc một nhận định nào đó chưa đầy đủ về mặt ý nghĩa hoặc kiến thức
Trang 21khoa học Dạng này cũng yêu cầu người học phải nhớ lại kiến thức và trả lời bằng một hay một số từ
- Loại câu đúng sai: Đó là những nhận định, mệnh đề hoặc câu hỏi mà
học sinh có thể trả lời “có” hoặc “không” Dạng câu hỏi này giúp học sinh nhớ lại kiến thức, lựa chọn kiến thức phù hợp để chọn phương án chính xác nhất Thông qua dạng câu hỏi này, một lượng kiến thức tương đối lớn được kiểm tra một cách nhanh chóng Tuy nhiên đòi hỏi câu dẫn của loại câu hỏi này phải thật
rõ ràng để học sinh có thể trả lời dứt khoát là “có” hay “không” Tuy nhiên, khi
áp dụng loại câu hỏi này để kiểm tra các mức độ nhận thức cao hơn thường gặp khó khăn Nó không giúp cho học sinh làm tăng khả năng phân biệt sự tinh tế
có ý nghĩa hay có nhiều cách trả lời khác ở trình độ cao hơn
- Loại câu hỏi nhiều lựa chọn: Hình thức của dạng câu hỏi này gồm phần
dẫn (là các thông tin cung cấp chưa đầy đủ hoặc một yêu cầu đối với người học) và phần trả lời gồm các phương án cho sẵn yêu cầu học sinh phải chọn (hình thức có thể là đúng, đúng nhất hoặc phù hợp nhất) Trong số các phương
án lựa chọn có duy nhất 1 phương án đúng
Những câu trả lời khác trong phần này được gọi là các câu nhiễu (distracter) Câu dẫn có thể được trình bày dưới nhiều hình thức khác nhau chứ không nhất thiết phải mô tả bằng lời Điều cần chú ý đối với những loại câu hỏi này là phải xây dựng một cách thận trọng để tránh chỗ không rõ nghĩa Khi muốn kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của người học ở cấp độ cao hơn ta vẫn có thể sử dụng được hình thức câu hỏi này
1.1.3.5 So sánh phương pháp trắc nghiệm khách quan với phương pháp tự luận [5]
- Phương pháp tự luận: Là phương pháp kiểm tra đánh giá với những đề mang tính chất mở, học sinh buộc phải suy luận và trình bày câu trả lời của mình để giải quyết vấn đề nêu ra Phương pháp này đã rất quen thuộc với học
Trang 22sinh, đặc biệt là những học sinh thế hệ trước Phương pháp này rèn khả năng trình bày vấn đề và giải quyết những tình huống phức tạp trong đời sống
- Phương pháp TNKQ: Là phương pháp kiểm tra đánh giá với những câu hỏi có kèm theo các câu trả lời cho sẵn, được kí hiệu hoặc mã hóa theo một quy định Học sinh sẽ chỉ việc chọn câu trả lời nào là đúng theo suy nghĩ của mình Cho đến thời điểm này, phương pháp này đã trở nên rất phổ biến trong nhà trường phổ thông Thậm chí ngay trong đời sống xã hội (như các chương trình truyền hình, gameshow …) cũng đã áp dụng phương pháp này
Dù là sử dụng phương pháp nào thì cũng có những ưu điểm và nhược điểm riêng Sau đây là bảng so sánh ưu, nhược điểm giữa hai phương pháp tự luận và TNKQ:
Bảng 1.1 So sánh ưu, nhược điểm của TNKQ và tự luận
SO SÁNH NHỮNG ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CHUNG
- Giáo viên soạn
đề kiểm tra theo
- Rất khó để kiểm tra được kiến thức trên diện rộng và kiểm tra một cách hệ thống các kiến thức
- Rất khó để có thể đảm bảo được yếu tố khách quan khi thực hiện việc kiểm tra
- Có thể kiểm tra được kiến thức trên diện rộng và kiểm tra một cách
hệ thống các kiến thức
- Kết quả đánh giá là đơn trị, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của
- Không thể kiểm tra được khả năng diễn đạt những suy luận của học sinh
- Không thấy được quá trình tư duy của học sinh
để tìm ra đáp án
- Thời gian sử dụng để xây dựng một đề kiểm tra
Trang 23dạng này thì ít tốn
thời gian hơn và
dễ dàng hơn
- Mất nhiều thời gian chấm bài, thậm chí điểm cũng có độ tin cậy không cao
- Khó áp dụng các phương tiện, công nghệ tiên tiến hiện đại vào chấm thi dạng này
giáo viên chấm bài
- Dễ dàng sử dụng các phương tiện, công nghệ tiên tiến hiện đại vào chấm thi dạng này
TNKQ sẽ dài hơn
và khó khăn hơn
so với phương pháp tự luận
Câu hỏi TNKQ đánh giá khách quan hơn các câu hỏi tự luận Điểm được chấm điểm có độ chính xác rất cao Hiện nay, việc chấm điểm TNKQ đã có thể chấm bằng máy, đảm bảo độ chính xác cao và an toàn
Các câu hỏi tự luận khi chấm lại phụ thuộc chủ quan vào người chấm tương đối nhiều Do đó, cùng một bài thi sẽ có những điểm số khác nhau tùy thuộc người chấm và thời điểm chấm
Sử dụng hệ thống câu hỏi TNKQ có thể kiểm tra được một số lượng lớn học sinh trong một lần thi, và máy chấm có thể chấm được hàng nghìn bài thi trong thời gian rất ngắn
Sử dụng hệ thống câu hỏi TNKQ tránh được việc học tủ, học lệch và ít mang tính may rủi hơn Mặt khác, hệ thống câu hỏi TNKQ có thể kiểm tra được một lượng lớn kiến thức của học sinh
1.1.4 Đánh giá hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan [7]
1.1.4.1 Độ khó
- Độ khó là chỉ mức độ khó của câu hỏi trắc nghiệm Để tính toán được
độ khó của các câu hỏi khách quan ta sẽ sử dụng công thức sau:
Trang 24Khi biên soạn hệ thống bài tập TNKQ, cần phân loại theo độ khó của câu hỏi, cần phải dự đoán và loại bỏ những câu hỏi quá khó hoặc quá dễ Một hệ thống bài TNKQ được coi là tốt khi có nhiều câu độ khó ở mức trung bình Ngoài ra độ khó của hệ thống câu hỏi TNKQ còn phải dựa trên đối tượng học sinh cần kiểm tra đánh giá
độ phân biệt là D và ta có công thức tính độ phân biệt như sau:
𝐷 = 2(𝐻 − 𝐿)
𝑁
Trang 25+ Nhóm điểm cao được tính là 25% đến 27% số người đạt điểm cao Nhóm điểm thấp được tính là 25% đến 27% số người đạt điểm thấp so với tổng
số người tham gia làm bài trắc nghiệm
+ Cần căn cứ vào mục đích của bài trắc nghiệm khi xét chỉ số độ phân biệt
+ Có thể đánh giá sơ bộ về độ phân biệt thông qua các quy tắc sau: Nếu chỉ số H và L bằng nhau thì độ phân biệt bằng 0
Nếu chỉ số H lớp hơn L thì độ phân biệt dương
Nếu chỉ số H nhở hơn L thì độ phân biệt âm
Theo GS Dương Thiệu Tống, độ phân biệt của hệ thống câu hỏi trắc nghiệm được đánh giá như sau:
Độ phân biệt (D) Đánh giá bộ câu hỏi
0,30 ≤ 𝐷 < 0,4 Khá tốt, có thể chỉnh sửa để tốt hơn 0,20 ≤ 𝐷 < 0,30 Tạm được
𝐷 < 0,20 Bộ câu hỏi kém, không phù hợp Dựa vào hai tiêu chí đánh giá câu hỏi TNKQ như trên, thì một bộ câu hỏi được coi là tốt, phù hợp với học sinh nếu có hệ số khó vào khoảng
0,4 ≤ 𝑃 ≤ 0,6 và độ phân biệt ở mức D > 0,3
1.1.5 Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan
1.1.5.1 Bài tập trắc nghiệm theo các cấp độ nhận thức [7]
Năm 1956, Benjamin Bloon đã xây dựng các cấp độ mục tiêu giáo dục, thường gọi là thang đo Bloom Theo Bloom, mức độ nhận thức của học sinh được chia từ đơn giản đến phức tạp Ông đề xuất ra 6 mức độ nhận thức đối với học sinh đó là: Biết (knowledge); Hiểu (comprehension); Áp dụng (applycation); Phân tích (Analysis); Tổng hợp (Synthesis); Đánh giá (Evaluation)
Trang 26Với mức độ kiến thức trong SGK và đối tượng học sinh đại trà, chuẩn mức độ kiến thức trong đề tài này tôi chỉ đề cập đến 3 mức độ đầu tiên Cụ thể như sau:
- Nhận biết : Là khả năng tái hiện, nhớ lại và nhận diện được thông tin
Học sinh nhận biết được các khái niệm, định nghĩa, định lí, hệ quả đã học thông qua hệ thống các câu hỏi Đây là mức độ thấp nhất trong thang đo nhận thức của học sinh Cấp độ này là nền tảng cho các cấp độ cao hơn Các từ khóa của cấp độ này thường là: liệt kê, gọi tên, giới thiệu, chỉ ra, xác định, mô tả, nhận biết, Học sinh chỉ cẩn thực hiện 1 thao tác tư duy (nhớ lại) là có thể dễ dàng hoàn thành các bài tập ở cấp độ này
- Thông hiểu: Mức độ này đòi hỏi người học phải nắm được ý nghĩa của
tài liệu Điều này được thể hiện thông qua khả năng diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc suy diễn (dự đoán kết quả, hậu quả) Nói theo cách khác, ở cấp độ này học sinh phải diễn đạt lại các kiến thức mình học theo ý hiểu của bản thân mình Các từ khóa ở cấp độ này đối với hệ thống bài tập thường là: Diễn giải, phân biệt, phân loại, giải thích, , lấy ví dụ, tóm tắt, so sánh, Đối với cấp độ này học sinh phải thực hiện nhiều hơn 1 thao tác tư duy để hoàn thành yêu cầu
- Vận dụng: Đòi hỏi học sinh phải vận dụng được những điều đã học vào
một hoàn cảnh cụ thể mới Đòi hởi người học phải linh hoạt trong việc sử dụng thông tin và vận dụng được kiến thức trong các trường hợp khác nhau Đây là mức độ bắt đầu của mức tư duy sáng tạo Có thể hiểu là học sinh vận dụng kiến thức đã học vào trong đời sống thực tiễn hoặc giải thích một tình huống hoàn toàn mới.Các từ khóa ở cấp độ này đối với hệ thồng bài tập thường là: áp dụng, phân loại, sửa đổi, giải thích, đưa vào thực tế, tính toán, giải quyết, chứng minh, ước tính, điều chỉnh Đối với cấp độ này, học sinh phải thực hiện nhiều thao tác tư duy liên tiếp để hoàn thành yêu cầu Đối với việc giải bài tập thì mức độ này có thể phân loại như sau:
Trang 27+ Mức độ vận dụng thấp: Giải được hệ thống bài tập mà chỉ cần dựa vào một định luật, nguyên lý hoặc một công thức đã học
+ Mức độ vận dụng cao: Giải được hệ thống bài tập dựa vào hai hay nhiều định luật, nguyên lý hoặc công thức đã học
1.1.5.2 Xây dựng bản đặc tả cho hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan
- Khái niệm bản đặc tả: Bản đặc tả (specification) là một bản mô tả chi
tiết, bản đặc tả này có vai trò như một bản hướng dẫn chi tiết và khoa học để giáo viên xây dựng được một hệ thống bài tập từ dễ đến khó theo các cấp độ nhận thức Giúp nâng cao độ giá trị của hoạt động đánh giá và củng cố kiến thức cho học sinh Ngoài ra nó còn giúp đảm bảo cho sự đồng nhất về độ khó của hệ thống bài tập, giúp cho người dạy thống nhất được với nhau về mức độ của hệ thống bài tập Giúp cho mục tiêu của hoạt động học trở nên rõ ràng hơn hết, có mục đích và dễ dàng kiểm soát được Bản đặc tả còn giúp các nhà quản
lý giáo dục kiểm soát được chất lượng giáo dục của đơn vị mình thông qua hệ thống bài tập cung cấp cho học sinh và đề kiểm tra tương ứng với hệ thống bài tập cung cấp
- Cấu trúc bản đặc tả: Một bản đặc tả đạt yêu cầu cần phải chỉ rõ mục
đích của hệ thống bài tập, những mục tiêu dạy học mà hệ thống bài tập cung cấp cho học sinh Một bản đặc tả thông thường bao gồm cấu trúc như sau:
a, Mục đích của hệ thống bài tập: Mục đích của hệ thống bài tập cần rõ ràng Các mục đích có thể của hệ thống bài tập bao gồm:
- Cung cấp hệ thống thông tin mô tả được trình độ, năng lực của người học sau khi kết thúc một bài, chương,
- Phân loại trình độ người học, nhận biết sự khác biệt giữa các người học
- Đánh giá khả năng hiểu hay không hiểu kiến thức của người học
- So sánh kết quả của học sinh đối với mục tiêu đã đề ra từ trước
- Từ kết quả đánh giá, đưa ra được những điều chỉnh phù hợp với đối tượng học sinh
Trang 28b, Tiêu chí đánh giá: Phần này trình bày chi tiết các mục tiêu dạy học, những kiến thức, năng lực mà người học cần đạt được, có thể sử dụng thang năng lực bloom để xác định tiêu chí đánh giá
c, Xây dựng bảng ma trận trọng số nội dung và năng lực cần đánh giá: Đây là bảng có cấu trúc hai chiều Một chiều liệt kê các chủ đề, nội dung học tập (theo đơn vị kiến thức, chương, phần ), còn một chiều là các cấp độ nhận thức của học sinh Tỷ trọng cho mỗi một bảng ma trận trọng số tùy thuộc vào đối tượng học sinh và nội dung kiến thức của chương, phần mà học sinh đang học Theo quy định của Bộ giáo dục, trọng số của bảng ma trận thường dùng là 0,7 (tương ứng với thời lượng 70% lý thuyết, 30% thực hành) Cấu trúc bảng
ma trận trọng số thường dùng có thể như sau
Nội dung/
Chủ đề
Trọng số (%)
Năng lực cần đánh giá/ Cấp độ nhận thức Bậc 1: Nhận
biết
Bậc 2:
Thông Hiểu
Bậc 3: Vận dụng
và năng lực cần đánh giá Cấu trúc hệ thống bài tập có thể dưới dạng bảng hoặc dạng văn bản chi tiết Có thể như sau:
Trang 29(Loại câu hỏi: )
Bậc 1 (Loại câu hỏi: )
Bậc 1 (Loại câu hỏi: )
Ghi chú viết tắt: SL: số lượng; TG: thời gian; Đ: điểm
e, Ghi chú: Phần ghi chú ghi lại toàn bộ những điểm cần lưu ý mà người thiết kế bản đặc tả cảm thấy chưa phù hợp hoặc chưa đề cập đến để đảm bảo hệ thống bài tập xây dựng mang lại hiệu quả tốt nhất cho người học Ngoài ra còn
có thể thay đổi nội dung hệ thống bài tập ôn để phù hợp với đối tượng học sinh
1.1.5.3 Phương pháp xây dựng câu hỏi TNKQNLC
Câu hỏi TNKQNLC có cấu trúc gồm 2 phần: Phần thân gồm các câu dẫn, những thông tin cho trước và yêu cầu của câu hỏi Phần phương án lựa chọn có
từ hai phương án trở lên, trong đó có 1 phương án đúng của câu hỏi đặt đó Khi xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQNLC ta nên chú ý các vấn đề sau:
- Phần thân: được viết dưới dạng câu hỏi hoặc nêu ra một nhiệm vụ mà
người học cần phải hoàn thành, một vấn đề nào đó cần giải quyết Phần này rất quan trọng vì nếu người học không hiểu được nhiệm vụ mà mình cần hoàn
Trang 30thành thì sẽ không thể nào chọn được phương án chính xác Vì vậy, phần thân cần phải được viết một cách gọn gàng, rõ ràng, chính xác và dễ hiểu nhất Ngoài
ra, nên tránh việc lời dẫn nhiệm vụ quá dài dòng, làm rối cho người học Tuy nhiên, nếu phần thân quá ngắn thì cũng dễ dẫn tới tình trạng thiếu ý hoặc không
đủ nghĩa làm cho người đọc không hiểu được chính xác nội dung câu hỏi
- Phần phương án lựa chọn: nên được trình bày khoa học, có trình tự tư
duy, gọn gàng và đủ ý Tránh để các phương án quá lộ liễu hoặc không liên quan gì đến nội dung ý nghĩa của câu hỏi
- Phần đáp án: hiện nay, có hai loại đáp án cho câu hỏi TNKQ nhiều lựa
chọn là đúng và đúng nhất, còn các phương án khác được gọi là các phương
án nhiễu Các phương án nhiễu chính là các phương án sai nhưng lại được đưa
ra theo kiểu “có vẻ đúng” Làm như thế này để kiểm tra được việc học sinh có hiểu thực chất kiến thức hay không, tránh được việt học vẹt, học đối phó
Việc xây dựng một hệ thống câu hỏi TNKQNLC đòi hỏi người giáo viên cần có một nền tảng kiến thức rộng và vững vàng Ngoài ra, hệ thống bài tập TNKQNLC chỉ thực sự phù hợp và chất lượng khi người xây dựng phải nắm chắc được các nguyên tắc cơ bản như trên Hệ thống bài tập TNKQNLC sau khi xây dựng và sử dụng cho học sinh cũng cần phải được phân tích độ khó và
độ tin cậy của từng hệ thống bài tập, từ đó ta sẽ có đánh giá chính xác về chất lượng mà mức độ phù hợp của bài tập đối với từng đối tượng học sinh
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Những đặc điểm riêng của trường Phổ thông liên cấp Edison
1.2.1.1 Lịch sử hình thành và nhiệm vụ của trường
Hệ thống Trường phổ thông liên cấp EDISON – Edison Schools tọa lạc tại phân khu Aqua Bay, Khu đô thị Ecopark Trường được xây dựng xong và bắt đầu đi vào hoạt động từ năm học 2018 – 2019
Khuôn viên của trường có diện tích 21.500m2 với qui mô xây dựng gồm
Trang 31khu thể thao kết nối với hạ tầng Ecopark Sport Area… đáp ứng qui mô học tập liên thông ở cả ba cấp học Đặc biệt, mật độ xây dựng của trường chỉ chiếm hơn 30% diện tích đất, để dành phần lớn không gian cho cây xanh và đáp ứng các hoạt động thể thao, ngoại khóa ngoài trời của học sinh Trường hướng tới xây dựng một mô hình giáo dục hiện đại, tiên tiến, cung cấp cho học sinh những dịch vụ tốt nhất và đáp ứng đầu ra chất lượng cao theo chương trình của BGD&ĐT
1.2.1.2 Chương trình giáo dục và mục tiêu của trường
Điểm nổi bật về Chương trình Giáo dục tại Edison Schools là bên cạnh Khung chương trình giáo dục từ lớp 1 đến lớp 12 theo chuẩn kiến thức và kĩ năng của Bộ GD&ĐT, trường đặc biệt chú trọng phát triển năng lực hội nhập toàn cầu và sự sáng tạo, năng lực ứng dụng công nghệ thông qua việc tích hợp Chương trình Tiếng Anh theo chuẩn quốc tế, Chương trình ứng dụng STEM & Robotics và Chương trình công nghệ thông tin và Khoa học về máy tính theo chuẩn Hoa Kỳ vào Chương trình giảng dạy chính khóa
Edison Schools với chương trình giáo dục tiên tiến và toàn diện, là địa chỉ giáo dục tin cậy của khu vực Hà Nội và lân cận, là môi trường giáo dục sáng tạo góp phần đào tạo các thế hệ học sinh chủ động, tích cực, sẵn sàng trở thành những công dân có trách nhiệm, sáng tạo và hạnh phúc
1.2.1.3 Các mô hình lớp học tại trường, quy mô đào tạo
Trường PTLC Edison xây dựng chương trình giáo dục bám sát theo chương trình của BGD&ĐT có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với nhu cầu của trường Trường có hai mô hình lớp với thời lượng tiết học tương đồng nhau trong 1 tuần học là: lớp cơ bản và lớp tiếng anh chuyên sâu Tiếng Anh là một thế mạnh của trường song song với một chương trình giáo dục phát triển toàn diện các kĩ năng của học sinh Trong năm học 2019 – 2020 trường đã tuyển sinh được 19 lớp với tổng số 543 học sinh bậc trung học với 60 cán bộ giảng
Trang 32dạy Tất cả các giáo viên của trường đều đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, được tào tạo nâng cao chuyên môn và tin học, nâng cao nghiệp vụ công tác chủ nhiệm
và bán trú Học sinh theo học tại trường 2 buổi/ ngày từ thứ 2 đến thứ 6
1.2.1.4 Quản lý bán trú
Học sinh theo học tại trường cả ngày và được hướng dẫn thực hiện nội quy của nhà trường chi tiết, các nội quy này đã được thông qua và phê duyệt của ban giám hiệu nhà trường Học sinh theo học tại trường ngoài được học theo chương trình chuẩn của BGD còn được tham gia vào các hoạt động sự kiện, ngày dự án, … Trong năm học 2018 – 2019, trường có 2 HS đoạt giải thưởng cấp thành phố về nghiên cứu khoa học
1.2.2 Việc dạy và học môn Vật lí tại trường PTLC Edison – Thực trạng và giải pháp
1.2.2.1 Thực trạng chung của trường Trung học Edison về việc dạy và học môn Vật lí
Sau một năm làm việc và nghiên cứu tại trường, chúng tôi thấy thực trạng chung về dạy và học môn Vật lí như sau
* Đối với giáo viên:
Đa phần các giáo viên trong nhà trường đều đã được tiếp cận với các phương pháp dạy học hiện đại vài tiên tiến Các giờ học đều đã được đầu tư phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy Giáo viên đã chú trọng đến việc xây dựng cấu trúc bài giảng theo 5 hoạt động để thúc đẩy khả năng tư duy và hợp tác nhóm của học sinh bao gồm:
Trang 33Tuy nhiên, do giáo viên đến từ nhiều môi trường khác nhau nên việc tiếp cận với phương pháp giảng dạy mới còn gặp nhiều khó khăn Có những giáo viên trẻ, đến từ các môi trường giáo dục tiên tiến ở Hà Nội thì tương đối dễ dàng bắt kịp với sự thay đổi về phương pháp giảng dạy Còn với những giáo viên đến từ các môi trường công lập thì đang gặp một chút khó khăn khi buộc phải thay đổi theo phương pháp và hình thức giảng dạy mới Chính vì lí do đó, nên hai hoạt động luyện tập và vận dụng đối với học sinh đang được thực hiện chưa được triệt để Hệ thống bài tập củng cố kiến thức cho học sinh chưa được hiệu quả nên khả năng vận dụng kiến thức của học sinh chưa cao Ngoài ra, còn một số ít giáo viên vẫn còn giữ thói quen dạy truyền thống mà ít đưa vào sử dụng các công cụ thí nghiệm trực quan để phục vụ cho công tác giảng dạy
* Đối với học sinh:
Trường PTLC Edison mới đi vào hoạt động được 1 năm học (2018 – 2019) và các đối tượng học sinh đến từ nhiều khu vực và mô hình học tập khác nhau Các học sinh vẫn còn cần thời gian để tìm hiểu và làm quen với môi trường học tập mới, chính vì thê nên học sinh đã gặp phải những vấn đề sau:
- Một số học sinh không thích học tập bộ môn Vật lí
- Do quan niệm cũ năng nề về việc học để thi tốt nghiệp hoặc vào đại học nên các con chỉ tập trung vào học một cách rất hàn lâm và thụ động
- Chưa có nhiều học sinh tìm được hứng thú và niềm vui với việc học tập
bộ môn Vật lí
- Theo khảo sát, có nhiều học sinh cho rằng môn Vật lí rất khó, khó trong
cả việc hiểu lẫn ứng dụng vào đời sống
- Học sinh thường rất nhanh quên kiến thức và chưa biết cách hệ thống kiến thức để phục vụ cho việc học tập
- Trong các nhiệm vụ đòi hỏi phải hợp tác thì chưa thực sự tích cực và chủ động Nguyên do là các con không mặn mà với môn Vật lí mà chỉ học cho
đủ điều kiện
Trang 34- Khả năng tự học và ý thức tự học môn Vật lí chưa cao Trong các tiết thao giảng, vẫn còn tình trạng học sinh mệt mỏi, buồn ngủ và không tham gia nhiều vào quá trình học tập
- Hệ thống bài tập về nhà cho chưa phù hợp với trình độ và khả năng nhận thức của học sinh, dẫn tới việc bỏ bê, không hoàn thành, chán nản và không hoàn thành nhiệm vụ về nhà của học sinh
Với tất cả những thực trạng và khó khăn tại trường PTLC Edison như trên, việc tạo ra hứng thú và xây dựng một hệ thống bài tập củng cố phù hợp với trình độ và năng lực của học sinh sẽ khiến cho các con học sinh hứng thú hơn và tích cực hơn trong việc học tập bộ môn Vật lí Chính vì vậy, việc xây dựng một hệ thống bài tập chất lượng để củng cố kiến thức cho học sinh là rất quan trọng Trong phạm vi đề tài này, tôi lựa chọn chương “Chất khi” Vật lí 10
cơ bản để làm tiền đề xây dựng hệ thống bài tập TNKQNLC để củng cố kiến thức cho học sinh
1.2.3 Điều tra tình hình dạy và học chương “Chất khí” Vật lí 10 cơ bản tại trường Trung học Edison
Chương “Chất khí” là chương mở đầu của phần Nhiệt học trong chương trình Vật lí trung học phổ thông Đây là một chương có vai trò rất quan trọng, cung cấp những kiến thức mở đầu, cơ bản và quan trọng trong toàn bộ hệ thống phần Nhiệt học Học sinh sẽ được tìm hiểu ban đầu về mặt định lượng các đại lượng vật lí như: Áp suất, nhiệt độ tuyệt đối, thể tích Nếu học sinh hiểu không
rõ ràng chương này thì các phần tiếp theo sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc lĩnh hội kiến thức
Với mục đích giúp cho học sinh hiểu rõ và nắm chắc kiến thức cơ bản của chương “Chất khí” thì việc xây dựng một hệ thống bài tập củng cố kiến thức cho học sinh là cần thiết Thông qua hệ thống bài tập củng cố, học sinh sẽ hiểu sâu sắc kiến thức cơ bản, làm nền tảng cho phần nhiệt học của vật lí THPT
Trang 35Đề điều tra về tình hình dạy và học chương “Chất khí” Vật lí 10 cơ bản tại trường PTLC Edison chúng tôi đã sử dụng phương pháp điều tra Các phiếu lấy ý kiến dành cho hai đối tượng là giáo viên và học sinh
Mục đích của phiếu điều tra là tìm hiểu những khó khăn của học sinh khi học chương chất khí, tình trạng sử dụng hệ thống bài tập củng cố kiến thức của học sinh trong chương này như thế nào Từ đó lấy cơ sở để xây dựng hệ thống bài tập TNKQNLC nhằm củng cố kiến thức chương “Chất khí” cho học sinh Khi thực hiện khảo sát, tôi lựa chọn các nội dung như sau:
Phiếu điều tra dành cho học sinh [5]
Họ và tên học sinh: ………
Trường:………
Lớp:………
Câu 1 Con hãy đánh giá mức độ hứng thú với môn học Vật lí của mình tại
trường hiện nay như thế nào?
Trang 36C Cả tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
Câu 4 Con có gặp nhiều khó khăn khi hoàn thành hệ thống bài tập mà thầy
cô giao cho?
A Sử dụng khi mở bài hoặc bắt đầu bài mới
B Sử dụng trong quá trình xây dựng kiến thức của bài mới
C Sau khi dạy bài mới
B Chỉ sau các tiết lý thuyết
C Thỉnh thoảng mới cung cấp
D Không cung cấp bất kì một bài tập nào
Câu 8 Mức độ hoàn thành trung bình của con với hệ thống bài tập của thầy
cô giao cho như thế nào?
A Hoàn thành toàn bộ hệ thống mà thầy cô cung cấp
B Hoàn thành ở mức độ vừa phải
C Không thể hoàn thành hệ thống bài tập nào
Trang 37D Chưa từng hoàn thành hệ thống bài tập nào
Câu 9 Con có thích làm thí nghiệm vật lí không?
A Rất thích
B Thích
C Không hứng thú lắm
D Không thích
Cảm ơn con, chúc con luôn vui vẻ và học tập hiệu quả!
Phiếu điều tra dành cho giáo viên [5]
Họ và tên giáo viên: ………
Trường:………
Câu 1 Thầy cô hãy đánh giá mức độ hứng thú với môn học Vật lí của mình
tại trường hiện nay như thế nào?
A Rất hứng thú
B Hứng thú
C Không hứng thú
D Không muốn học
Câu 2 Thầy cô có thấy khó khăn khi giảng dạy vật lí tại trường hay không?
Câu 3 Thầy, cô thường xuyên cung cấp hệ thống bài tập vật lí dưới dạng
nào?
A Tự luận
B Trắc nghiệm khách quan
C Kết hợp cả hai hình thức
Trang 38Câu 4 Học sinh của thầy cô có gặp nhiều khó khăn khi hoàn thành hệ thống
bài tập mà thầy cô giao cho?
A Rất khó khăn
B Khó khăn vừa phải
C Hơi khó khăn
D Không gặp khó khăn gì
Câu 5 Thầy cô thường sử dụng tài liệu tham khảo gì khi xây dựng hệ thống
bài tập cho học sinh?
Câu 6 Thầy, cô có nhiều thời gian trên lớp để chưa bài hay hướng dẫn học
sinh làm hệ thống bài tập mà mình giao cho hay không?
A Không có thời gian
B Có nhưng rất ít
C Hầu như không có thời gian
Câu 7 Thầy, cô cung cấp hệ thống bài tập cho học sinh ở mức độ nào?
A Thường xuyên
B Chỉ sau các tiết lý thuyết
C Thỉnh thoảng mới cung cấp
D Hầu như không có bài tập
Câu 8 Thầy cô đánh giá như thế về mức độ hiệu quả của dạng bài tập trắc
nghiệm khách quan khi kiểm tra học sinh?
A Rất hiệu quả
B Hiệu quả
C Có hiệu quả nhưng không cao
Trang 39D Không hiệu quả
Câu 9 Theo thầy, cô hệ thống bài tập TNKQNLC có thể dùng để củng cố
kiến thức cho học sinh được không?
A Có
B Không
C Tùy vào chất lượng của hệ thống bài tập
Xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô
Thông qua phiếu điều tra phản hồi của giáo viên và học sinh, phân tích lựa chọn thì chúng tôi thấy có những vấn đề như sau:
- Đối với giáo viên:
Hầu hết các lựa chọn của giáo viên đều chỉ ra rằng việc học tập và tiếp thu kiến thức của học sinh còn gặp nhiều hạn chế Các con học sinh đều chưa thực sự hứng thú đối với môn học vật lí Đa số các giáo viên đều cung cấp cho học sinh một hệ thống bài tập nằm xuyên suốt quá trình học tại trên lớp Phần bài tập mà giáo viên cung cấp cho học sinh cũng khá đang dạng, tuy nhiên vẫn tập trung chủ yếu vào các dạng bài tập tự luận, đòi hỏi học sinh phải trình bày lời giải theo tư duy của mình Có rất ít các dạng bài tập có thể củng cố được kiến thức cho học sinh Điều đó dẫn tới việc có một bộ phận không nhỏ học sinh chưa theo kịp tiến độ học tập trên lớp và gặp rất nhiều khó khăn trong việc hoàn thành hệ thống bài tập mà giáo viên cung cấp
Qua phân tích như trên, việc cập nhật các phương pháp giáo dục hiện đại, tiên tiến, thúc đẩy được quá trình tự học, tự tìm tòi và tạo ra được hứng thú cho học sinh trong học tập vật lí là vô cùng cấp thiết Trong xu thế chung của cải cách giáo dục, việc xây dựng đội ngũ giáo viên có sức sáng tạo, tâm huyết
và có thể truyền cảm hứng học tập cho học sinh, để học sinh yêu thích môn học hơn là việc làm rất quan trọng Chính vì thế, những nhiệm vụ sau cần phải thực hiện ngay:
Trang 40+ Giáo viên cần tự cập nhật những phương pháp giáo dục mới
+ Giáo viên tự bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ của bản thân + Tận dụng tối đa các đồ dùng thí nghiệm trực quan sinh động, nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập
+ Ngoài việc học lý thuyết, việc xây dựng một hệ thống bài tập phù hợp
để củng cố kiến thức cho học sinh là rất quan trọng Một hệ thống bài tập tốt, vừa sức và phù hợp với trình độ của học sinh sẽ tạo thêm niềm tin và động lực cho các con trong môn học đó
+ Cần chú ý đến việc phân loại học sinh để có thể cung cấp một hệ thống bài tập phù hợp nhất với các đối tượng khác nhau
- Đối với học sinh:
Đa phần các lựa chọn của học sinh đều hướng tới các vấn đề như: Không thấy hứng thú lắm với môn học, thường xuyên cảm thấy áp lực trong việc phải hoàn thành nhiệm vụ về nhà của giáo viên, hệ thống bài tập quá sức, gây khó khăn cho học sinh trong khi làm, học sinh không biết cách trình bày bài làm,
và cũng có một số lượng tuy không nhiều học sinh không thích học mộn vật lí Tuy nhiên, rất nhiều học sinh thích làm thí nghiệm vật lí và thích hình thức câu hỏi TNKQNLC
Từ kết quả trên chúng tôi thấy rằng, việc tạo động lực và hứng thú cho học sinh trong giờ học vật lí là rất quan trọng Muốn vậy, người giáo viên phải
tự thay đổi mình, thay đổi phương pháp giảng dạy và thay đổi các hình thức kiểm tra đánh giá đối với học sinh Cần đầu tư và xây dựng được một hệ thống bài tập phù hợp, vừa sức với học sinh để có thể tạo sự hứng thú đối với môn học Ngoài ra, cần sử dụng kết hợp các thí nghiệm trực quan vào trong bài giảng Từ những lý do trên, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài xây dựng hệ thống bài tập TNKQNLC để củng cố kiến thức cho học sinh, và chương “Chất khí” là chương được chọn để làm thử nghiệm