Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM Nguyễn Thị Thu Hương ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Nguyễn Thị Thu Hương
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 11 Ở TRƯỜNG THPT TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Nguyễn Thị Thu Hương
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN
CHƯƠNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
LỚP 11 Ở TRƯỜNG THPT TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành:
Lí luận và phương pháp day học bộ môn Văn -Tiếng Việt
Mã số: 6014.0111
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS - TS VŨ NHO
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục: “ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN LỚP 11 Ở TRƯỜNG THPT TỈNH TUYÊN QUANG ” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo độ chính xác cao Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất
xứ rõ ràng Tôi hoàn toàn ch ịu trách nhiệ m về công trình nghiên cứ u của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hương
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS - TS Vũ Nho, người đã tận tâm, tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, động viên em trong suốt quá trình thực hiện luận văn Thạc sĩ này
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng quản lí khoa học, Khoa Ngữ văn, các thầy cô giáo trong tổ Lí luận và Phương pháp dạy học
Văn-Tiếng Việt trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên - Các thầy,
cô giáo ở Viện Văn học, trường Đại học Sư phạm I Hà Nội… đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa học
Xin gửi lời tri ân tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp
đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu
Tuyên Quang, tháng 5 năm 2015 Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hương
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
1 CNTT : Công nghệ thông tin
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiê n cứu 5
6 Giả thuyết khoa học 6
7 Đóng góp của luận văn 7
8 Bố cục của luận văn 7
PHẦN NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DA ̣Y – HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG 8
1.1 Cơ sở lí luâ ̣n 8
1.1.1 Phương pháp da ̣y ho ̣c ; Đổi mới phương pháp dạy học và phương tiện dạy học 8
1.1.2 Công nghệ thông tin và vai trò của công nghê ̣ thông tin trong da ̣y ho ̣c nói chung và trong da ̣y ho ̣c tác phẩm văn chương nói riêng 15
1.2 Cơ sở thực tiễn 19
1.2.1 Việc ứng dụng công nghê ̣ thông tin trong da ̣y ho ̣c đối với các trường THPT trên đi ̣a bàn tỉnh Tuyên Quang hiê ̣n nay 19
1.2.2 Thực tra ̣ng viê ̣c ứng dụng công nghê ̣ thông tin trong quá trình da ̣y ho ̣c tác phẩm văn chương ở các trường THPT trên đi ̣a bàn tỉnh Tuyên Quang 20
1.2.3 Một số văn bản tác phẩm văn chương trong chương trình Ngữ văn 11 (Văn bản ho ̣c chính khoá – Bô ̣ cơ bản ) có thể ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình Da ̣y – Học 26
Kết luận chương một 28
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN KHI DA ̣Y – HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG Ở TRƯỜNG THPT 29
2.1 Những căn cứ để đề xuất mô ̣t số biê ̣n pháp ứng dụng công nghê ̣ thông tin trong thực tế da ̣y ho ̣c tác phẩm văn chương ở trường THPT 29
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
2.1.1 Căn cứ vào đă ̣c trưng thể loa ̣i của tác phẩm văn chương 29
2.1.2 Căn cứ vào đă ̣c điểm tâm lí của lứa tuổi ho ̣c sinh ta ̣i tỉnh Tuyên Quang 29
2.1.3 Căn cứ vào nhu cầu thực tế 29
2.2 Đề xuất một số biê ̣n pháp để ứng dụng công nghê ̣ thông tin trong thực tế dạy học tác phẩm văn chương ở trường THPT 30
2.2.1 Sử dụng máy tính – Mô ̣t phương tiê ̣n quan tro ̣ng của người giáo viên 30
2.2.2 Tạo các slide để trình chiếu 50
Kết luận chương hai 62
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63
3.1 Một số vấn đề về đối tươ ̣ng, đi ̣a bàn thực nghiê ̣m 63
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 63
3.1.2 Nội dung; Yêu cầu thực nghiê ̣m 63
3.1.3 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 65
3.2 Tiến trình và kết quả thực nghiê ̣m 66
3.2.1 Tiến trình thực nghiê ̣m 66
3.2.2 Kết quả thực nghiê ̣m 87
3.3 Ý nghĩa phương pháp và bài học kinh nghiệm 91
3.3.1 Ý nghĩa phương pháp 91
3.3.2 Bài học kinh nghiệm 92
Kết luận chương 3 92
PHẦN KẾT LUẬN 93
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đặt ra trong thực tế với hai hình thức:
Thay đổi phương pháp có tính toàn diện, triệt để; và cải tiến, đổi mới phương pháp từng phần trong công việc hàng ngày Hiện nay, cùng với việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa, việc thay đổi phương pháp có tính chiến lược về
cơ bản đã xong Nhưng việc cải tiến, đổi mới phương pháp từng phần vẫn luôn luôn đặt ra với mỗi giáo viên trong từng ngày lên lớp Đề tài luận văn theo hướng đổi mới phương pháp trong công việc hàng ngày của giáo viên, mà mục tiêu cơ bản là đổi mới, cải tiến việc dạy học bằng việc ứng dụng công nghệ thông tin để khơi gơ ̣i sự chú ý, hứng thú của người học và nâng cao chất lượng
dạy học của chương trình Ngữ Văn lớp 11 THPT trên địa bàn Tuyên Quang 1.2 Môn Ngữ Văn với đặc thù vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ
thuật là một môn học rất hấp dẫn, lý thú, bổ ích, có khả năng giúp học sinh phát triển toàn diện về trí tuệ, nhân cách, tâm hồn Thế nhưng thực tế hiện nay nhiều học sinh không thích học, các em học với tâm thế bị cưỡng ép, mang tính bắt buộc, đối phó Vì vậy, việc đổi mới, cải tiến PPDH bộ môn có vai trò rất quan trọng, quyết định tới việc nâng cao chất lượng dạy học, giúp tạo hứng thú cho học sinh trong học tập Chúng tôi cho rằng: “Ứng dụng Công nghệ thông tin trong viê ̣c sử dụng máy tính, máy chiếu, giáo án điện tử, video clip…” chính là
một trong những giải pháp nhằm đổi mới PPDH đáp ứng yêu cầu trên
1.3 Chương trình và SGK mới được xây dựng theo hướng tăng cường khả năng
hoạt động của người học Vì vậy viê ̣c ứng dụng công nghê ̣ thông tin mô ̣t cách linh hoa ̣t, sáng tạo sẽ tạo được sự chú ý và hứng thú của học sinh Đây sẽ là một hình thức dạy học tạo điều kiện giúp học sinh phát huy vai trò chủ động, tích cực, đáp ứng yêu cầu của một công dân trong thời kì hội nhập khu vực và thế giới của đất nước
1.4 Do đặc trưng củ a bộ môn Ngữ văn (dài, trừu tượng…) nên việc giảng dạy Ngữ Văn trong trường THPT nếu giáo viên không có sự đổi mới, sẽ dễ dẫn đến
Trang 9nhàm chán, giảm khả năng phân tích, cảm thụ văn học của học sinh Do đó, muốn nâng cao chất lượng dạy học, tăng hứng thú cho học sinh trong khi tìm hiểu một số tác phẩm Ngữ văn, giáo viên nên ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho giờ giảng để tăng sự hấp dẫn và làm mới mỗi giờ ho ̣c
1.5 Thực tế hiê ̣n nay cho thấy mô ̣t số giáo viên Ngữ văn THPT còn chưa thực sự tích cực , chủ động, tìm tòi, sáng tạo, đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lươ ̣ng mỗi giờ ho ̣c Điều này dễ khiến học sinh cảm thấy n ặng nề, không còn hứng thú đối với mỗi giờ Ngữ văn
Với các lí do trên, chúng tôi chọn đề tài : ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 11 Ở TRƯỜNG THPT TỈNH TUYÊN QUANG
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong thời đa ̣i ngày nay , đổi mới phương pháp giáo dục – đă ̣c biê ̣t là viê ̣c ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là một vấn đề hết sức bức thi ết nhằm phát triển tối đa khả năng tư duy , sáng tạo…cho học sinh , đáp ứng được yêu cầu giáo dục của thời đa ̣i Đây là mô ̣t vấn đề đang được các cấp , các ngành,
các nước…trao đổi, tìm hiểu
2.1 Một số nước trên thế giơ ́ i
Trong thực tế , vấn đề “Ứng dụng công nghê ̣ thông tin vào trong da ̣y ho ̣c ” đã được các nhà khoa ho ̣c trên thế giới – đă ̣c biê ̣t là ở các nước phát triển – quan tâm, nghiên cứu từ lâu
Dựa theo những nghiên cứu mà luận văn của Ths.Nông Thị Mai tại Trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên (http/ www lcr.tnu.edu.vn) có thể thấy :
Từ năm 1985 các nước như Trung Quốc , Nhâ ̣t Bản, Triều Tiên, Thái Lan, Xrilanca, Malaixia đã tổ chức các cuô ̣c hô ̣i thảo về phần mềm da ̣y ho ̣c ta ̣i
Malaixia, tại đây các nước đã đưa ra tiêu chuẩn để đánh giá phần mềm gồm ba yếu tố : Đặt vấn đề, trình bày bài giảng và kĩ thuật lập trình
Cũng từ năm 1984 tổ chức NSCU (National Sofware – Cordination Unit) đươ ̣c thành lâ ̣p , cung cấp chương trình giáo dục máy tính cho các trường trung
Trang 10học Lúc này, các môn học đã có phần mềm dạy học như : Tiếng Anh , Âm nha ̣c, Toán, khoa ho ̣c xã hô ̣i, Nghê ̣ thuâ ̣t, Khoa ho ̣c tự nhiên…
Từ lâu, ở Nhật Bản – Máy tính được dùng làm công cụ để giáo viên trình bày kiến thức , rèn luyện kĩ năng , tiếp thu bài mới và giải quyết các vấn đề đă ̣t ra trong tiết ho ̣c Nhâ ̣t Bản đã khẳng đi ̣nh sủ dụng máy tính trong da ̣y ho ̣c , đă ̣c biê ̣t
ở phổ thông đã có tác dụng kích thích sự hứng thú học tập của học sinh
Ở Ấn Độ , tổ chức NCERT (National Council of Educasion Resarch and Training) ở New Dehli đã thực hiện đề án CLASS (Computer Literacy and Studies in School), đề án xem xét việ c sử dụng máy tính để trơ ̣ giúp viê ̣c da ̣y học trong lớp , đồng thời quan tâm đến vai trò của máy tính như là mô ̣t công cụ
ưu viê ̣t, đánh dấu sự thay đổi có ý nghĩa về phương pháp luâ ̣n da ̣y ho ̣c
Hiê ̣n nay, các nước trong khu vự c như : Singapo, Thái Lan việc ứng dụng công nghê ̣ thông tin trong giảng da ̣y cũng đã trở nên rất phổ biến
2.2 Ở trong nươ ́ c
Ở Việt Nam , viê ̣c ứng dụng Công nghê ̣ thông tin vào da ̣y ho ̣c cũng đang càng ngày càng nhận được nhiều s ự quan tâm, đầu tư của các cấp , các ngành Đã có nhiều công trình nghiên cứu , bàn luận về vấn đề này “Mô ̣t số vấn đề chung về đổi mới phương pháp da ̣y ho ̣c ở trường THPT ” của Bộ GD và ĐT (2010) đã đề câ ̣p đến viê ̣c “Tăng cường sử dụng phương tiê ̣n da ̣y ho ̣c và công nghê ̣ thông tin trong da ̣y ho ̣c ” Nghị quyết 49/CP (4/8/1993) về “Phát triển Công nghê ̣ thông tin ” đã nhấn ma ̣nh viê ̣c ứng dụng công nghê ̣ thông tin vào trong da ̣y học là một việc làm cấp thiết, có vai trò quan trọng trong tiến trình đổi mới phương pháp da ̣y ho ̣c của nước ta
Riêng đối với bô ̣ môn Ngữ văn , từ lâu mô ̣t số nhà nghiên cứu đầu ngành cũng đã bàn đến vấn đề này Giáo sư Phan Trọng Luận trong cuốn “Phương pháp dạy học văn ” (Phan Tro ̣ng Luâ ̣n (chủ biên ) , Trương Dĩnh - NXB Đa ̣i ho ̣c Sư phạm, 2007) có nói đến “Công nghê ̣ thông tin với phương pháp giảng da ̣y các môn khoa ho ̣c xã hô ̣i và nhân văn trong nhà trường ” [43, tr 39]; PGS.TS Nguyễn Huy Quát trong cuốn “Nghiên cứu văn ho ̣c và đổi mới phương pháp da ̣y – học
Trang 11văn” (NXB Đa ̣i ho ̣c Thái Nguyên , 2011) đã nhấn ma ̣nh tầm quan tro ̣ng của viê ̣c
“sử dụng phương tiê ̣n nghe – nhìn trong dạy học Văn”[52, tr 317]
Trên trang mạng của mình, Sở GD&ĐT Phú Yên cũng đã bàn về vấn đề
“Biết vâ ̣n dụng mô ̣t cách linh hoa ̣t sáng ta ̣o các phương pháp và phương tiê ̣n trong quá trình da ̣y ho ̣c là yêu cầu không thể thiếu đối với giáo viên phổ thông
hiê ̣n nay” (Ngày 18/4/2013).[www.phuyen.edu.vn]
Trên trang báo sinh viên Enews – Đa ̣i ho ̣c An Giang cũng dã đề câ ̣p “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ Văn” (Ngày 24/11/2012)
[enews.agu.edu.vn]
Để nâng cao chất lươ ̣ng da ̣y và ho ̣c , chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu vấn
đề ứng dụng công nghê ̣ thông tin vào việc giảng dạy một số tác phẩm môn Ngữ Văn 11 ở trường THPT Điều này chắc chắn sẽ giúp giáo viên có những phương pháp, biê ̣n pháp, hình thức dạy học phù hợp để học sinh hứng thú say mê , sáng tạo khi tiếp nhận một số văn bản văn học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cư ́ u
3.1 Mục đích nghiên cứu
Góp phần đổi mới phương tiện dạy học nhằm nâng cao chất lượng, tạo hứng thú và hiệu quả tiếp thu của học sinh ở một số bài học TPVC trong chương trình Ngữ văn lớp 11 ở trường THPT tỉnh Tuyên Quang
3.2 Nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu
Để đa ̣t đươ ̣c những mục đích đã nêu ở trên , nhiê ̣m vụ nghiên cứu mà chún g tôi
đă ̣t ra cụ thể như sau :
3.2.1 Nghiên cứ u những cơ sở lí luâ ̣n và thực tiễn của viê ̣c ứng dụng công nghê ̣ thông tin để nâng cao chất lươ ̣ng da ̣y ho ̣c bô ̣ môn Ngữ văn
3.2.2 Khảo sát thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng dạy học một số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn lớp 11 ở trường THPT trên đi ̣a bàn tỉnh Tuyên Quang
3.2.3 Đề xuất những biê ̣n pháp nhằm phát huy tối đa hiê ̣u quả của viê ̣c ứng
dụng công nghệ thông tin tr ong mỗi giờ day của giáo viên , cũng như khơi gợi tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh
Trang 123.2.4 Thiết kế thể nghiệm mô ̣t số bài da ̣y trong chương trình Ngữ văn 11 có ứng dụng công nghệ thông tin một cách hiệu quả nhất
4 Đối tươ ̣ng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Công nghệ thông tin và mô ̣t số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn lớp 11
- Phân tích , đánh giá viê ̣c ứng dụng công nghê ̣ thông tin để sử dụng hi ệu quả, nâng cao chất lươ ̣ng day ho ̣c mô ̣t số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn
lớp 11 ở trường THPT tỉnh Tuyên Quang
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứ u những vấn đề lí luâ ̣n v à thực tiễn liên quan đến đ ề tài
- Khảo sát thực tiễn viê ̣c dạy và học của giáo viên và thực tế cảm thụ của học sinh đối với việc tiếp nhận một số văn bản trong chương trình Ngữ văn 11 trong nhà trường hiê ̣n nay , cụ thể là trả lời một số câu hỏi : Học sinh cảm nhậ n các văn bản đó như thế nào ? Các em hiểu đươ ̣c đến đâu ? Quá trình da ̣y các văn bản đó có gặ p phải khó khăn gì không ? Tại sao lại có những khó khăn đó và cách giải quyết
5 Phương pha ́ p nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Tìm hiểu lịch sử vấn đề nghiên cứu , khai thác các khía ca ̣nh mà các công trình trước đó đã tiến hành làm cơ sở để tiến hành quá trình nghiên cứu tiếp theo của mình
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp này nhằm tìm hiểu thực trạng dạy học một số tác phẩm trong chương trình ngữ văn 11 ở trường THPT của Tuyên Quang hiện nay Để thực hiê ̣n
phương pháp này chúng tôi sẽ tiến hành điều tra, khảo sát cụ thể như sau:
- Điều t ra chất lượng da ̣y ho ̣c mô ̣t số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 11ở trường THPT tỉnh Tuyên Quang
- Khảo sát khả năng cảm thụ và tiếp nhâ ̣n văn bản văn ho ̣c THPT của ho ̣c sinh
- Khảo sát năng lực tư duy và sáng ta ̣o trong và sau khi ho ̣c xong mô ̣t số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 11 ở trường THPT tỉnh Tuyên Quang
Trang 13Dựa trên kết quả khảo sát , chúng tôi đề xuất phương pháp , hình thức tổ chức ứng dụng công nghê ̣ thông tin để nâng cao chất lượng dạy ho ̣c mô ̣t số tác phẩm Ngữ văn 11 THPT tỉnh Tuyên Quang
5.3 Phương pha ́ p phân tích –tổng hơ ̣p, khái quát hoá – hê ̣ thống hoá
Đây là phương pháp dùng để phân tích –tổng hơ ̣p , khái quát hoá – hê ̣ thống hoá các quan điểm , luâ ̣n đ iểm khoa ho ̣c trong các tài liê ̣u thuô ̣c nghành khoa ho ̣c có liên quan để xác lâ ̣p cơ sở khoa ho ̣c cho viê ̣c tổ chức da ̣y ho ̣c
mô ̣t số tác phẩm Ngữ văn 11 THPT có ứng dựng công nghê ̣ thông tin
5.4 Phương pha ́ p thực nghiê ̣m sư pha ̣m
Phương pháp này dùng để xem xét , xác nhận tính đúng đắn , hợp lí và tính khả thi của việc ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng
dạy học một số tác phẩm Ngữ văn 11 ở trường THPT tại tỉnh Tuyên Quang theo quan điểm mà luâ ̣n văn đề xuất Phương tiê ̣n chủ yếu để trắc nghiê ̣m là các phiếu điều tra với nội dung và hình thức khác nhau , hướ ng tới mục đích điều tra về trình đô ̣ tư duy , kết quả ho ̣c tâ ̣p của ho ̣c sinh
Các loại thực ng hiệm sư pha ̣m cơ bản được sử dụng trong luâ ̣n văn gồm :
- Thực nghiê ̣m thăm dò : Nhằm tìm hiểu khả năng và kết quả thực hiê ̣n các tiết dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin trong chương trình Ngữ văn
6 Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức được viê ̣c da ̣y ho ̣c theo hướng đề xuất của luâ ̣n văn sử dụng công nghệ thông tin sẽ góp phần phát huy tối đa hiê ̣u quả da ̣y ho ̣c ở THPT nói chung và các trường THPT trên đi ̣ a bàn tỉnh Tuyên Quang nói riêng
Trang 147 Đóng góp của luận văn
7.1 Về lí luận
Luâ ̣n văn góp phần củng cố và trang bi ̣ cho giáo viên da ̣y Ngữ văn THPT những cơ sở lí luâ ̣n về ứng dụng công nghê ̣ thông tin để nâng cao chất lượng dạy họ c mô ̣t số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn lớp 11 nhằm khơi gợi hứng thú ho ̣c tâ ̣p, khả năng chủ động , sáng tạo…của học sinh
8 Bố cục của luận văn
Luận văn bao gồm ba phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận
Phần mở đầu: Trình bày các vấn đề chung gồm: Lí do chọn đề tài;
Lịch sử vấn đề; Mục đích; Nội dung; Đối tượng; Phạm vi; Phương pháp nghiên cứu; Giả thuyết khoa học; Đóng góp của luận văn; Bố cục luận văn
Phần nội dung: Gồm ba chương
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DA ̣Y – HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG
Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN KHI DA ̣Y – HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG Ở TRƯỜNG THPT
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Phần kết luận: Trình bày những kết luận rút ra từ quá trình nghiên cứu
Trang 15PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG DA ̣Y – HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG
1.1 Cơ sơ ̉ lí luâ ̣n
1.1.1 Phương pha ́ p da ̣y ho ̣c ; Đổi mới phương pháp dạy học và phương tiê ̣n dạy học
1.1.1.1 Phương pha ́ p dạy học
Từ ngàn đời xưa – Giáo dục – luôn là mối qua n tâm hàng đầu trong xã
hô ̣i, bởi giáo d ục có tầm ảnh hưởng lớn chi phối nhiều hoạt động của con
người Muốn nâng cao chất lượng cuô ̣c sống , hiê ̣u quả kinh tế , đồng nghĩa với viê ̣c phải nâng cao chất lượng giáo dục Ngay sau cánh ma ̣ng tháng tám năm
1945 Đảng và Nh à nước ta đã xác định : Phải xây dựng một nền giáo dục mới với mục tiêu cơ bàn là : “Đào ta ̣o con người phát triển toàn diê ̣n ”
Mô ̣t trong những yếu tố quan tro ̣ng góp phần đưa giáo dục đa ̣t được
mục tiêu chính là “phương pháp dạy học ” Dạy học không đơn thuần là giáo viên cứ chuẩn bi ̣ bài da ̣y thâ ̣t tốt , sau đó lên lớp truyền đa ̣t , học sinh chú ý lắng nghe , ghi chép là xong , mà dạy học thực chất là quá trình giáo viên phải
đào sâu suy nghĩ , tìm ra phương pháp da ̣y ho ̣c phù hợp nhất , kết hợp với nô ̣i dung bài da ̣y ra sao , để từ đó có những thiết kế da ̣y ho ̣c tương ứng nhằm
phát huy tối đa chất lượng một giờ học
Thuâ ̣t ngữ “Phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy La ̣p “Mothodos” có nghĩa là : Con đường đi đến mục đích , theo đó “Phương pháp da ̣y ho ̣c” có thể hiểu là : Con đường để đa ̣t mục đích da ̣y ho ̣c [11, tr 68] Trong thực tế , quá trình dạy học không phải là sự liên kết máy móc của hai hoạt động Dạy và Học, mà nó là một quá trình tổng hợp mới hẳn về chất , đảm bảo thực hiê ̣n những nhiê ̣m vụ của nhà trường và phản ánh sự thống nhất hữu cơ giữa hai
hoạt động đó , trong khi vẫn bảo đảm những đă ̣c điểm riêng của từng hoa ̣t
đô ̣ng Tác động giữa giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học không phải
là tác động đơn giản mà là tác động qua lại phức tạp , trong đó người giáo viên phải tổ chức hoa ̣t đô ̣ng da ̣y để làm sao khơi dâ ̣ y, phát huy tính tích cực , chủ động của học sinh , trang bi ̣ cho các em những kĩ năng đô ̣c lâ ̣p , tự mình
Trang 16nhâ ̣n thức , lĩnh hội tri thức , chuyển hoá thành năng lực của bản thân …Để đa ̣t đươ ̣c kết quả đó , vai trò của người giáo viên là cực kì quan tro ̣ng Giáo viên với tư cách là người tổ chức , chỉ đạo , điều khiển quá trình ho ̣c tâ ̣p của ho ̣c sinh phải nghiên cứu , đảm bảo giờ ho ̣c cả về nô ̣i dung và phương pháp
“Phương pháp” còn đươ ̣c giải thích là : “Hê ̣ thống các cách sử dụng để tiến hành mô ̣t hoa ̣t đô ̣ng nào đó” [62, tr.983] Như vậy , “Phương pháp da ̣y học” có thể hiểu : là cách thức sử dụng các nguồn lực trong giáo dục như giáo viên, trường lớp , dụng cụ học tập , các phương tiện vật chất để giáo dục người học [67] Hiểu theo quan niê ̣m này thì GV là nhân vâ ̣t tro ̣ng tâm , giữ vai trò chủ đạo , còn học sinh thì thụ động tiếp thu kiến thức Vớ i cách hiểu như vâ ̣y ,
e rằng không còn phù hợp với nền giáo dục hiê ̣n đa ̣i Tuy nhiên , cũng có thể hiểu theo cách khác : “Phương pháp da ̣y ho ̣c” chính là những hình thức , cách thức, hoạt động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện nhất định , nhằm đa ̣t mục đ ích dạy học (phát triển năng lực của từng cá nhân học sinh )
Có thể thấy , quan niê ̣m này coi phương pháp da ̣y ho ̣c là mô ̣t sự kết hợp
ngang hàng của hai hoa ̣t đô ̣ng da ̣y và ho ̣c Nhiệm vụ truyền đa ̣t tri thức của thầy cũng qua n tro ̣ng như nhiê ̣m vụ lĩnh hô ̣i tri thức của trò Và đương nhiên cách hiểu này phù hợp với thời đại hơn
“Phương pháp da ̣y ho ̣c” là khái niê ̣m cơ bản của lí luâ ̣n da ̣y ho ̣c , là
“công cụ” quan tro ̣ng hàng đầu và cũng rất phức tạp của nghề dạy học , là một thành tố có ảnh hưởng lớn tới quá trình dạy học Khi Nhà nước đã xác đi ̣nh đươ ̣c mục tiêu da ̣y ho ̣c và giáo dục , đã xây dựng được nô ̣i dung chương trình , khi đã có đủ phương tiê ̣n kĩ thuâ ̣t , thì lúc này phương pháp dạy học của giáo viên và ho ̣c sinh có ý nghĩa quyết đi ̣nh tới chất lượng của toàn bô ̣ quá trình
dạy học Tuy nhiên , mỗi phương pháp la ̣i có mô ̣t cách thức hoa ̣t đô ̣ng riêng và mang la ̣i mô ̣t hiê ̣u quả giá o dục riêng Không phải lúc nào , ở đâu…phương pháp dạy học cũng giống nhau – Phương pháp da ̣y ho ̣c phải luôn thay đổi (tuỳ theo những điều kiê ̣n và đòi hỏi nhất đi ̣nh ) cho phù hợp
Có thể nói : “Phương pháp giảng da ̣y của giáo viên giữ vai trò chủ đa ̣o trong tổ chức , điều khiển và hướng dẫn phương pháp ho ̣c tâ ̣p của ho ̣c sinh để thực hiê ̣n các nhiê ̣m vụ ho ̣c tâ ̣p Phương pháp giảng da ̣y thể hiê ̣n trình đô ̣ nghiê ̣p vụ sư pha ̣m của giáo viên , nó biểu hiện rõ nét nhất tính khoa học , tính
kĩ thuật , tính nghệ thuật và đạo đức sư phạm ” [66, tr.29]
Trang 17Trong quan niệm hiện nay , chúng ta có thể ta ̣m thời phân biê ̣t phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp da ̣y ho ̣c hiện đại có sự khác nhau
cơ bản như sau : Phương pháp da ̣y ho ̣c truyền thống là lấy “kiến thức muốn truyền đạt” làm trọng tâm với mục tiêu là hướng dẫn cho học sinh tiếp thu
được những kiến thức đó Còn phương pháp da ̣y ho ̣c hiện đại là lấy “con người” làm trọng tâm với mục tiêu là trang bị cho học sinh những kỹ năng cần thiết để tự học và làm việc tốt
Về phương pháp da ̣y ho ̣c – Luâ ̣t giáo dục đã qu y đi ̣nh : “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực , tự giác , chủ động , tư duy , sáng tạo cho người ho ̣c năng lực tự ho ̣c , khả năng thực hành , lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Luâ ̣t giáo dục , 2005, điều 5) Muốn đa ̣t được điều này , người giáo viên phải luôn chú ý “Đổi mới phương pháp dạy học ” cho phù hợp với điều kiê ̣n, mục đích , thời đa ̣i…Có như vâ ̣y , chất lượng giáo dục mới thực sự nâng cao
1.1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học
Trong xu thế toàn cầu hoá , hiê ̣n đa ̣i hoá ngày nay thì đổi mới phương
pháp dạy học là một yêu cầu cấp t hiết Điều này được khẳng đi ̣nh trong nghi ̣
quyết TW lần thứ tư về “Tiếp tục đổi mới sự nghiê ̣p giáo dục và đào ta ̣o” (1/ 1993), cụ thể đó là phải “Xác định lại mục tiêu , thiết kế lại chương trình , kế hoạch, nô ̣i dung , phương pháp giáo dục và đào ta ̣o”
Phương pháp da ̣y ho ̣c là mô ̣t pha ̣m trù của khoa ho ̣c giáo dục Việc đổi mới phương pháp da ̣y ho ̣c cần dựa trên những cơ sở khoa ho ̣c và thực tiễn giáo dục Khoa ho ̣c giáo dục là mô ̣t lĩnh vực rô ̣ ng lớn và phức hợp , có nhiều chuyên ngành khác nhau Vì vậy , viê ̣c đổi mới phương pháp da ̣y ho ̣c cũng cần được nhìn nhận dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau Tuỳ theo mỗi cách tiếp cận khác nhau có thể có những quan niê ̣m k hác nhau về đổi mới phương pháp dạy học
“Đổi mới” - theo từ điển Tiếng Viê ̣t (2008), NXB Đà Nẵng – có nghĩa là
“thay đổi hoă ̣c làm cho thay đổi tốt hơn , tiến bô ̣ hơn so với trước , đáp ứng yêu cầu của sự phát triển ” [62, tr 427] Như vậy , có thể hiểu đơn giản “Đổi mới phương pháp da ̣y ho ̣c chính là thay đổi cách da ̣y , cách học để làm cho hiệu quả dạy học được tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hô ̣i hiê ̣n đa ̣i hơn ”, hay nói cách kh ác : “Đổi mới phương pháp da ̣y ho ̣c là cải tiến những hình thức
và cách thức làm việc kém hiệu quả của giáo viên và học sinh , sử dụng những
Trang 18hình thức và cách thức hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng dạy học , phát huy tính tích cực, tự lực và sáng ta ̣o, phát triển năng lực của học sinh ” [11, tr.82]
Mục tiêu của đổi mới phương pháp da ̣y ho ̣c là để nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần hình thành và phát triển toàn diện về: đức, trí, văn, thể, mỹ cho học sinh Đổi mới phương pháp da ̣y ho ̣c thể hiện sự sáng tạo của mỗi giáo viên trong quá trình da ̣y ho ̣c , do đó đổi mới phương pháp da ̣y ho ̣c là một hoạt động mang tính liên tục và sẽ không bao giờ có điểm cuối
Có thể cho rằng, đổi mới phương pháp da ̣ y ho ̣c không phải là thay đổi
từ cách giảng dạy này bằng cách giảng dạy khác mà là sử dụng những phương pháp dạy học hiện tại như thế nào để tạo ra được những giờ học có hiệu quả
Tự thân từng phương pháp giảng dạy sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu nó không được vận dụng một cách đúng lúc, đúng nơi và đúng mức Đổi mới phương pháp dạy học phải gắn liền với cách học của học sinh, nếu giáo viên đơn phương đổi mới mà không để ý học sinh học như thế nào thì đổi mới sẽ không thành công Quan điểm đổi mới phương pháp dạy học cũng không có nghĩa là từ bỏ hoàn toàn các phương pháp da ̣y ho ̣c truyền thống mà phải biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo giữa các phương pháp đó trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích cao nhất mà giáo viên đề ra
Trải qua mỗi thời kì li ̣ch sử , xã hội khác nhau ta thấy nền giáo dục ở
mỗi thời kì cũng mang những nét đă ̣c điểm khác nhau
Tuỳ vào đặc điểm giáo dục cụ thể của từng thời kì mà người giáo viên
có thể áp dụng những phương phá p da ̣y ho ̣c cho phù hợp Có thể so sánh để thấy đươ ̣c sự khác biê ̣t cơ bản của phương pháp da ̣y ho ̣c kiểu truyền thống và
phương pháp da ̣y ho ̣c hiê ̣n đa ̣i như sau :
- Phương pháp da ̣y ho ̣c truyền thống : Giáo viên đ ộc thoại , chủ đô ̣ng truyền đa ̣t những kĩ năng , còn người học tiếp thu một cách thụ động Giáo viên làm mẫu , còn học sinh làm theo
- Phương pháp da ̣y ho ̣c hiê ̣n đa ̣i : Giáo viên là người thiết kế , tổ chức , còn bản thân học sinh tự tì m kiếm tri thức , tự hoa ̣t đô ̣ng theo cách riêng , đô ̣c
lâ ̣p và sáng ta ̣o
Như vâ ̣y , có thể thấy phương pháp dạy học hiện đại hoàn toàn phù hợp
với mục tiêu giáo dục của chúng ta hiê ̣n nay , đó là : “Đào ta ̣o được những lớp người tự chủ , năng đô ̣ng và sáng ta ̣o ”
Trang 19Ở nước ta định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong nghi ̣ quyết TW 4, khoá VII (1/1993), nghị quyết TW 2, khoá VIII (12/1996), được cụ thể hoá trong Luâ ̣t giáo dục (12/1998) trong các chỉ thi ̣ của Bộ giáo dục và đào tạo và đặc biệt là chỉ thị số 14 (4/1999) Luâ ̣t giáo dục điều 28.2 đã ghi : “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động , sáng tạo của học sinh phù hợ p với đă ̣c điểm của từng lớp ho ̣c , môn ho ̣c , bồi dưỡng phương pháp tự ho ̣c , rèn luyện kĩ năng , vâ ̣n dụng kiến thức vào thực tiễn , tác động đến tình cảm , đem la ̣i niềm vui , hứng thú ho ̣c tâ ̣p cho ho ̣c sinh ” – Có như vậy , đổi mớ i phương pháp da ̣y ho ̣c sẽ mang la ̣i hiê ̣u quả tích cực cho giáo dục
Đối với việc dạy của giáo viên thì các biện pháp để tiến hành đổi mới
phương pháp da ̣y ho ̣c rất phong phú , có thể kể đến các biện pháp sau :
- Đổi mới việc thiết kế và chuẩn bi ̣ bài da ̣y ho ̣c
- Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống
- Kết hợp đa da ̣ng các phương pháp da ̣y ho ̣c
- Vận dụng da ̣y ho ̣c giải quyết vấn đề
- Vận dụng da ̣y ho ̣c theo tình huống
- Vận dụng dạy học định hướng hành động
- Tăng cườ ng sử dụng phương tiê ̣n da ̣y ho ̣c và công nghê ̣ thông tin
trong da ̣y ho ̣c
- Sử dụng các kĩ thuâ ̣t da ̣y ho ̣c phát huy tính tích cực và sáng ta ̣o
- Tăng cườ ng các phương pháp da ̣y ho ̣c đă ̣c th ù bộ môn
- Bồi dưỡng phương pháp ho ̣c tâ ̣p cho ho ̣c sinh
- Cải tiến việc kiểm tra , đánh giá
Các biện pháp đã nêu ở trên đều có liên quan mật thiết với nhau và đều giữ mô ̣t vai trò hết sức quan tro ̣ng trong toàn bô ̣ tiến trình đổi mới phương pháp dạy học Không thể nói biê ̣n pháp nào cần thiết hơn biê ̣n pháp nào
Tuy nhiên , có thể thấy để thực hiện được một trong những biện pháp đã nêu ở trên thì vai trò của “Phương tiê ̣n da ̣y ho ̣c” là h ết sức quan trọng Không thể tiến hành “Đổi mới phương pháp da ̣y ho ̣c” mà không có sự tham gia của các
“Phương tiê ̣n da ̣y ho ̣c ”
Trên con đường phát triển của đất nước , có thể khẳng định : sự đổi mới của nền giáo dục – đào ta ̣o nh ằm đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ công nghiê ̣p hoá – hiê ̣n đa ̣i hoá chắc chắn không thể thiếu sự đổi mới và sáng tạo về phương pháp và phương tiện da ̣y ho ̣c
Trang 201.1.1.3 Phương tiê ̣n dạy học
Như phần trên đã nói : hiê ̣n nay , nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo đang là mục tiêu hàng đầu của ngành giáo dục đào tạo Việt Nam Ngành giáo dục nhiều nước trên thế giới cũng đang nỗ lực đổi mới cả về nội dung và
phương pháp với nhiều mô hình , biện pháp khác nhau nhằm mở rộng quy mô, nâng cao tính tích cực trong dạy và học một cách toàn diện, để giúp người học hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Học tập gắn với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, đáp ứng sự phát triển văn hoá - xã hội Muốn vậy cần phải nâng cao, cải tiến đồng bộ các thành tố liên quan trong giáo dục, trong đó “phương tiện dạy học” là một thành tố hết sức quan trọng
Phương tiện dạy học được hiểu là những dụng cụ, máy móc, thiết bị,
vật dụng cần thiết cho hoạt động dạy và học, giúp cho quá trình nhận biết, lĩnh hội kiến thức của học viên được tốt hơn Ví dụ: sách giáo khoa, giáo trình, bảng viết, bảng dữ liệu đã chuẩn bị sẵn, tranh ảnh, phim, các đoạn clip hoạt hình mô phỏng cùng với máy chiếu qua đầu (overheat), máy chiếu đa năng Projecter với sự trợ giúp của máy tính, của các phần mềm, chương trình như Powerpoint, mindmap, Workbelch,… vật mẫu, vật thật các phương tiện, dụng
cụ trang bị trong các phòng thí nghiệm thực hành
Trong quá trình dạy học, các phương tiện dạy học đã hỗ trợ rất nhiều cho công việc của giáo viên và giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi Có được các phương tiện thích hợp, người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo ra cho học sinh những tình cảm tốt đẹp với môn học Do đặc điểm của quá trình nhận thức, mức độ tiếp thu kiến thức mới của học sinh tăng dần theo các cấp độ của tri giác
Chúng ta còn có khái niệm về phương tiện dạy học truyền thống và phương tiện dạy học hiện đại Có thể hiểu : Phương tiện dạy học truyền thống bao gồm: bảng đen, mô hình, thiết bị thí nghiệm, tranh ảnh, sách giáo khoa, vườn trường… Còn phương tiện dạy học hiện đại bao gồm: máy vi tính, đĩa
CD, DVD, máy chiếu (projector), phần mềm PowerPoint, hệ thống bảng tương tác (activeboard), elearning…
Khi đưa những phương tiện mới vào quá trình dạy học, giáo viên có điều kiện để nâng cao tính tích cực, tính tư duy độc lập của học sinh và từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ năng,
kỹ xảo của các học sinh Ngoài ra với các phương tiện dạy học mới giáo viên
Trang 21có thể rút ngắn được thời gian giảng giải thuyết trình để tập trung hơn vào rèn
luyện phương pháp, kĩ năng cho học sinh
Trong quá trình dạy học chức năng của các phương tiện dạy học phải thể
hiện được sự minh hoạ , biểu diễn , sự tác động để đạt được mục đích dạy và
học, cụ thể như sau : Phương tiê ̣n da ̣y ho ̣c ngoài chức năng truyền thụ tri thức ,
hình thành kĩ năng thì còn phải có chức năng phát triển hứng thú học tập cho
học sinh cũng như giúp giáo viên tổ chức điều khiển quá trình dạy học
Trên cơ sở như đã phân tích , ta thấy rằng các phương tiện dạy học có ý
nghĩa rất to lớn trong trong quá trình dạy học:
- Giúp học sinh viên dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn
- Phương tiện dạy học tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu
dạng bề ngoài của đối tượng và các tính chất có thể tri giác trực tiếp của chúng
- Phương tiện dạy học giúp cụ thể hóa những sự việc, vấn đề quá trừu
tượng, đơn giản hóa những máy móc và thiết bị quá phức tạp
- Phương tiện dạy học giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao
hứng thú học tập bộ môn, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học
- Phương tiện dạy học còn giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức,
đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra
những kết luận có độ tin cây, ); giúp học sinh hình thành cảm giác thẩm mỹ,
được hấp dẫn bởi cái đẹp, cái đơn giản, tính chính xác của thông tin chứa trong
phương tiện
- Giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học
Giúp giáo viên điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh, kiểm tra và
đánh giá kết quả học tập của học sinh được thuận lợi và có hiệu suất cao
- Dễ dàng quản lý học sinh trong quá trình thực hành
Có thể nói , phương tiê ̣n da ̣y ho ̣c giữ mô ̣t vai trò đă ̣c biê ̣t quan tro ̣ng
trong quá trình đổi mới phương pháp da ̣y ho ̣c – Không thể đổi mới phương
pháp dạy học mà không sử dụng phương tiê ̣n da ̣y ho ̣c
Phương tiê ̣n da ̣y ho ̣c là mô ̣t pha ̣m trù rất rô ̣ng lớn - Tuy nhiên , trong giới
hạn của đề tài mà chúng tôi nghiên cứu , chúng tôi xin phép chỉ đề cập đến một
nô ̣i dung nhỏ , đó là viê ̣c “ứng dụng công nghệ thông tin ” vào thực tế dạy học
Đổi mới phương pháp dạy học hiện đang là một vấn đề cốt tử để nâng
cao chất lươ ̣ng da ̣y ho ̣c – Đó là mô ̣t trong những mục tiêu quan tro ̣ng nhất của
cải cách giáo dục ở nư ớc ta hiện nay Viê ̣c sử dụng công nghê ̣ thông tin như
Trang 22mô ̣t phương tiê ̣n da ̣y ho ̣c nhằm đổi mới , nâng cao nô ̣i dung , phương pháp da ̣y học là một việc làm tất yếu , giữ vai trò hết sức đă ̣c biê ̣t trong da ̣y ho ̣c hiê ̣n đa ̣i
1.1.2 Công nghê ̣ thông tin và vai trò của công nghê ̣ thông tin trong da ̣y học nói chung và trong dạy học tác phẩm văn chương nói riêng
1.1.2.1 Công nghê ̣ thông tin
Thế giới hôm nay dang chứng kiến những đổi thay có tính chất khuynh đảo trong mo ̣i hoạt động phát triển kinh tế – xã hội nhờ những thành tựu của Công nghê ̣ thông tin Công nghê ̣ thông tin đã góp phần quan tro ̣ng cho viê ̣c ta ̣o
ra những nhân tố năng đô ̣ng mới , cho quá trình hình thành nền kinh tế tri thức
và xã hô ̣i tiên tiến
Thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí “Harvard Business Review” Hai tác giả của bài viết , Leavitt và Whisler đã thống nhất : "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT) [67]
Như vâ ̣y , Công nghệ Thông tin (tiếng Anh: Information Technology -
viết tắt: IT) chính là : một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin.[67]
Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa
trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin
là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác
và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội".[67]
Có thể nói , Công nghệ thông tin có tác đô ̣ng ma ̣nh mẽ , to lớ n tới mo ̣i
mă ̣t của đời sống xã hội loài người Không thể phủ nhâ ̣n những đóng góp tích cực của Công nghê ̣ thông tin đối với lĩnh vực Giáo dục nước nhà Dướ i tác
đô ̣ng của Công nghê ̣ thông tin viê ̣c da ̣y học trong nhà trường đã có những bước tiến dài
Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy
Trang 23học như dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin không chỉ có ảnh hưởng ma ̣nh mẽ , nhiều chiều tớ i viê ̣c da ̣y cuả Thầy , mà còn có tác động to lớn tới quá trình học của Trò Tuy nhiên , trong pha ̣m vi luâ ̣n văn , chúng tôi xin phép chỉ đề cập tới kh ía cạnh ứng dụng công nghê ̣ thông tin trong da ̣y học đối với người giáo viên mà thôi
1.1.2.2 Vai tro ̀ của công nghê ̣ thông tin trong dạy học
Ngày nay , sự bùng nổ của cuô ̣c cách ma ̣ng công nghê ̣ thông tin đã tác
đô ̣ng ma ̣nh mẽ vào vào sự phát triển của tất cả các ngành , nghề trong đờ i sống xã hô ̣i Theo đó , đổi mới giáo dục bằng vi ệc phát triển , ứng dụng công nghê ̣ thông tin và các thiết bi ̣ da ̣y ho ̣c hiê ̣n đa ̣i , phát huy mạnh mẽ tư duy , sáng tạo , kĩ năng thực hành , nhằm ta ̣o hứng thú cho người ho ̣c đang là mô ̣t xu thế tất yếu Vì vậy vận dụng công nghệ thông tin để cải tiến phương pháp dạy học là một hướ ng đi có tác dụng nâng cao chất lượng đào ta ̣o trong chiến
lươ ̣c phát triển giáo dục ở Viê ̣t Nam
Đối sánh giữa phương pháp dạy học hiện đại với phương pháp dạy dạyhọc truyền thống (chủ yếu là giáo viên thuyết trình ), ta thấy được mô ̣t số ưu điểm nổi bâ ̣t khi giáo viên ứng dụng công nghê ̣ thông tin vào trong thực tế
dạy học như sau :
Thứ nhất , môi trường đa phương tiê ̣n kết hơ ̣p với những hình ảnh video , camera…vớ i âm thanh , văn bản , biểu đồ…đươ ̣c trình bày qua máy tính theo ki ̣ch bản va ̣ch sẵn nhằm đa ̣t hiê ̣u quả tối đa qua mô ̣t quá trình ho ̣c đa
giác quan
Thứ hai , kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể m ô phỏng nhiều quá trình , hiê ̣n tươ ̣ng trong tự nhiên , xã hội trong con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiê ̣n nhà trường
Thứ ba , những ngân hàng dữ liê ̣u khổng lồ và đa da ̣ng đươ ̣c kết nối với nhau và với người sử dụng qua ma ̣ng máy tính…có thể được khai thác dể ta ̣o nên những điều kiê ̣n cực kì thuâ ̣n lợi và nhiều khi không thể thiếu để ho ̣c sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác , tích cực và sáng tạ o, được thực hiê ̣n đô ̣c lâ ̣p hoă ̣c trong giao lưu
Thứ tư , mỗi giờ ho ̣c có ứng dụng công nghê ̣ thông tin là giáo viên có
thể giúp ho ̣c sinh đào sâu những tri thức đã lĩnh hô ̣i được và kích thích hứng
Trang 24thú nhận thức , năng lực quan sát , phân tích , tổng hợp để rút ra những kết luâ ̣n cần thiết , có độ tin cậy cao
Thứ năm , những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, học sinh có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học
Có thể khẳng định rằng , trong thờ i đa ̣i ngày nay - môi trường công nghệ thông tin và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của học sinh và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới trong ho ̣c sinh Mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng Công nghệ thô ng tin trong da ̣y ho ̣c là để nâng cao mô ̣t bước cơ bản chất lượng ho ̣c tâ ̣p cho ho ̣c sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao , chứ không đơn thuần là “Thầy đo ̣c , trò chép ” như kiểu truyền thống Học sinh được khu yến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức , sắp xếp hợp lí quá trình tự ho ̣c tâ ̣p , tự rèn luyê ̣n của bản thân mình , giáo viên luôn vận động , làm mới vốn tri thức , cũng như bài dạy của mình
1.1.2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tác phẩm văn chương Trướ c đây , trong một tiết giảng văn truyền thống , chúng ta dễ dàng nhận thấy , đa phần giáo viên chỉ giảng giải , ghi bảng , còn quá trình sử dụng phương tiê ̣n trực quan sinh động là chưa nhiều , chưa đươ ̣c chú ý Với một giờ lên lớp cho môn Ngữ văn là 45 phút thì phần lớn giáo viên sử dụng khoảng thời gian này tâ ̣p trung vào biện pháp thuyết giảng - học sinh chăm chú lắng nghe, thi thoảng phát biểu và ghi nhận vấn đề Quá trình dạy và học hầu như mất cân bằng, nó trở nên khập khiễng quá mức vì giáo viên nắm phần chủ động còn học sinh thì bị động suốt tiết học
Ngày nay , nếu bảng phấn giúp giáo viên truyền đạt cho học sinh nội
dung bài giảng thì công nghê ̣ thông tin sẽ hỗ trợ hiệu quả khi giáo viên cung cấp những tư liệu có liên quan đến bài học một cách trực quan sinh động Giúp cho học sinh nắm bắt và khắc sâu vấn đề hơn Như vậy , việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy Ngữ văn ngày nay là một bước phát triển góp phần thu hút hứng thú học tập Ngữ văn đối với các em học sinh
Theo chúng tôi , ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học tác phẩm văn chương mang đến nhiều thuận lợi cho việc dạy và học, như sau:
Trang 25- Âm thanh, màu sắc, biểu bảng, video kích thích quá trình tiếp nhận
đa giác quan của học sinh
- Tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, học sinh có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây
là một công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học
- Lấy người học làm trung tâm - Học sinh không còn thụ động như trước Kích thích hứng thú, say mê học tập
- Sử dụng bài dạy có kỹ thuật vi tính , giáo viên có thể trình chiếu toàn
bộ các bài tập nhóm, câu hỏi trắc nghiệm khách quan khi kiểm tra đầu hoặc cuối bài học
- Khi soạn một tiết bài dạy sử dụng công nghệ thông tin , giáo viên có thể giữ lại để giảng dạy nhiều lớp Dễ dàng sửa chữa, thay đổi cấu trúc bài dạy, dễ trao đổi với đồng nghiệp…
Tuy nhiên , khi da ̣y ho ̣c tác phẩm văn chương có ứng dụng công nghê ̣ thông tin thì ngoài những ưu điểm đã nêu ở trên - ngườ i giáo viên nếu không linh hoa ̣t và sáng ta ̣o trong thiết kế và giảng da ̣y sẽ rất dễ rơi vào những hiê ̣u ứng trái chiều
Như chúng ta đã biết : Văn chương hấp dẫn người đọc bởi tính hình tượng, tính gợi cảm , nhưng khi sử dụng giáo án điện tử , nếu g iáo viên quá bị phụ thuộc vào màn hình máy tính, học sinh cắm cúi ghi chép vì sợ cô giáo chuyển sang slide khác, cuối cùng dẫn đến tiết học rời rạc, học sinh không cảm nhận được nét đặc sắc của văn bản Khi soạn giáo án điện tử, nếu giáo viên phân định rạch ròi giữa nội dung giảng và nội dung cần ghi chép thì dẫn đến hệ quả kiến thức ngồn ngộn xuất hiện trên màn hình mà thiếu dẫn dắt khơi gợi, hoặc khơi gợi sơ sài, cho nên HS cứ mải miết ghi, nhận thức giá trị tác phẩm chưa thấu đáo
Nếu chúng ta quá tham lam và lạm dụng công nghê ̣ thông tin , đưa quá nhiều hiệu ứng , tranh ảnh không đúng lúc , trang trí màu sắc lòe loẹt dẫn đến chi phối sự tập trung của ho ̣c sinh trong tiết học , khiến cho giờ dạy trở thành giờ triển lãm ảnh, không phát huy óc quan sát và trí tưởng tượng, thiếu sự tư duy để cảm nhận vẻ đẹp, cái hay, cái tình, cái hồn của văn chương
Trang 26Việc giảng dạy giáo án điện tử cũng là con dao hai lưỡi , nếu lạm dụng quá ho ̣c sinh sẽ bị cuốn hút vào âm thanh , hình ảnh mà quên nội dung chính của bài Cho nên , giáo viên phải biết bố trí hợp lí : Vừa và đủ, phối hợp hài hòa nhiều thao tác, vừa truyền thống vừa hiện đại mới phát huy hiệu quả Từ xưa đến nay , hình ảnh thầy cô đứng giảng bài là hình ảnh quen thuộc và không bao giờ cũ Bởi việc dạy học bằng bảng đen , phấn trắng là một công việc cực kì uyển chuyển , linh hoạt , là cả một nghệ thuật sư phạm
mà không có một phương tiện nào có thể thay thế đươ ̣c Cần biết ứng dụng công nghê ̣ thông tin nhưng không lạm dụng công nghê ̣ thông tin trong các ti ết dạy, cần biết phối hơ ̣p giữa các biê ̣n pháp da ̣y ho ̣c và những tính năng hỗ trợ của công nghệ thông tin cho phù hợp , hiê ̣u quả và đắc dụng nhất Có thể nói : Trong việc dạy và học Ngữ Văn , chúng tôi xem công nghê ̣ thông tin là mộ t phương tiện phụ trợ mà thôi
1.2 Cơ sơ ̉ thực tiễn
1.2.1 Viê ̣c ứng dụng công nghê ̣ thông tin trong da ̣y ho ̣c đối với các
trường THPT trên đi ̣a bàn tỉnh Tuyên Quang hiê ̣n nay
Những năm gần đây , Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đ ến việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào trong giáo dục Điều này đươ ̣c thể hiê ̣n rất
rõ thông qua Quyết định số 81/2001/QĐ – TTg, trong Quyết định , Thủ tướng chính phủ đã chỉ rõ phải đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo , đây là mô ̣t trong những nhiê ̣m vụ quan tro ̣ng hàng đầu của ngành giáo giục giai đoa ̣n 2001 – 2005
Tuyên Quang cũng là mô ̣t trong những Tỉnh sôi nổi hoà chung với phong trào đổi mới giáo dục củ a cả nước Hiê ̣n nay, trên đi ̣a bàn tỉnh Tuyên Quang , các trường THPT đều đã được trang bi ̣ phòng ho ̣c chung (phòng học đa năng ) vớ i các thiết bị như máy tính , màn hình , máy chiếu , loa…ta ̣o cơ sở ha ̣ tầng tốt nhất cho giáo viên và học sinh sử dụng trong quá trình dạy học của mình
Từ thực tiễn chỉ đạo chuyên môn bậc trung học phổ thông , với mong muốn chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, đáp ứng với yêu cầu phát triển của địa phương và đất nước trong thời kỳ mới , hàng năm, Uỷ ban nhân dân Tỉnh và Sở giáo dục tỉnh cũng đã phối hợp với nhau , liên tục mở những đợt tâ ̣p huấn bổ sung những kiến thức về công nghê ̣ thông tin cho đô ̣i ngũ giáo viên trên đi ̣a bàn , nhằm thúc đẩy hoa ̣t đ ộng ứng dụng công nghệ thông tin vào thực tế dạy học , như
Trang 27: “Ứng dụng phần mềm violet vào da ̣y ho ̣c” ; “Thiết kế dạy ho ̣c bằng PowerPoint”; “Cắt, chèn hình ảnh trong khi thiết kế giáo án điện tử”…
Tại các cơ sở giáo dục , Ban giám hiê ̣u , các tổ chuyên môn cũng tăng cường khuyến khích , đô ̣ng viên các giáo viên trong trường tích cực , tự giác tổ chức các giờ da ̣y ho ̣c có sự hỗ trợ của công nghê ̣ thông tin
Thường xuyên tổ chức cho các giáo viê n thi cuô ̣c thi “Ứng dụng công nghê ̣ thông tin trong da ̣y ho ̣c” từ cấp trường đến cấp Tỉnh
Bên ca ̣nh đó , bản thân mỗi giáo viên đều tự ý thức về vai trò to lớn của viê ̣c ứng dụng công nghê ̣ thông tin vào trong da ̣y ho ̣c , do đó đa ̣i đa số các giáo viên đều tự giác và có trách nhiê ̣m trong viê ̣c thiết kế da ̣y ho ̣c dựa trên sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
1.2.2 Thư ̣c tra ̣ng viê ̣c ứng dụng công nghê ̣ thông tin trong quá trình da ̣y ho ̣c tác phẩm văn chương ở các trường THPT trên đi ̣a bàn tỉnh Tuyên Quang
Trong pha ̣m vi nghiên cứu của đề tài này , chúng tôi đã tiến hành điều tra thực tra ̣ng viê ̣c ứng dụng công nghê ̣ thông tin vào quá trình dạy học mô ̣t số tác phẩm văn chương trong chương trình Ngữ văn 11 (Chương trình cơ bản ) ở năm trường THPT trên đi ̣a bàn tỉnh Tuyên Quang bằng cách quan sát , phỏng vấn và phiếu điều tra – khảo sát nhằm :
- Khái quát việc dạy học môn Ngữ văn nói chung và một số tác phẩm văn chương trong chương trình Ngữ văn 11 nói riêng
- Nắm được điều kiê ̣n da ̣y ho ̣c : Cơ sở vâ ̣t chất , trang thiết bi ̣ – đồ dùng dạy học…của các trường
- Tìm hiểu phương pháp dạy học của giáo viên – đặc biê ̣t là viê ̣c đổi mới phương pháp da ̣y ho ̣c , viê ̣c ứng dụng công nghê ̣ thông tin vào trong da ̣y ho ̣c
- Khảo sát mục đích , động cơ , hứng thú , phương pháp ho ̣c tâ ̣p và khả năng nhâ ̣n thức của ho ̣c sinh
1.2.2.1 Đi ̣a bàn khảo sát
* Huyện Sơn Dương : - Trường THPT Sơn Nam
- Trườ ng THPT Sơn Dương
* Thành phố Tuyên Quang : - Trườ ng THPT Tân Trào
* Huyện Yên Sơn : - Trường THPT Ỷ La
Trang 28- Trườ ng THPT Nguyễn Văn Huyên
1.2.2.2 Một số kết qua ̉ cụ thể
chương trình Ngữ văn 11 nói riêng
* Về môn Ngư ̃ văn ở trường THPT
Nhìn chung , sau khi đi thăm lớ p dự giờ năm trường THPT đã nêu ở trên (2 tiết/lớp ; 2 lớp/trường) chúng tôi nhận thấy rằng : Ngữ văn là mô ̣t trong những môn ho ̣c khơi gợ i đươ ̣c nhiều hứng thú trong ho ̣c sinh nhất Chính vì vậy , đa ̣i da số các giờ ho ̣c Ngữ văn đều sôi nổi , tích cực
Giờ ho ̣c Ngữ văn (Chính khoá ) ở khối lớp 11 vớ i thời lươ ̣ng là 4 tiết/tuần, tổng số tiết trong năm ho ̣c là 123 (Học kì I : Từ tiết 01 đến tiết 72; Học kì II : Từ tiết 73 đến tiết 123) Trong đó , Làm văn là 18 tiết; Tiếng Việt
là 19 tiết; Văn ho ̣c là 68 tiết; còn lại là 18 tiết vừa ôn tâ ̣p , vừa kiểm tra , thi học kì… Sự phân chia này nhìn chung là khá hợp lí , bởi ho ̣c sinh ngoài viê ̣c khám phá , cảm thụ các văn bản có sẵn của các lớp nhà văn đi trước bằng các giờ đo ̣c – hiểu văn bản (Văn ho ̣c ) thì học sinh còn có thể vận dụng những kiến thức được ho ̣c , những kiến thức mới mẻ của bản thân vào viê ̣c viết văn (giờ Làm văn ), bên ca ̣nh đó , học sinh cũng có lựa chọn , rèn luyện cách nói , cách dùng từ , dùng câu trong mỗi giờ Tiếng Việt
Như vậy , hoạt động dạy - học nếu được diễn ra theo đúng quy trình , giáo viên biết vâ ̣n dụng tốt những kiến thức về chuyên môn cũng như kĩ năng , phương pháp da ̣y ho ̣c , học sinh tích cực , chủ động thì chắc chắn môn Ngữ văn sẽ mang la ̣i nhiều điều bổ í ch cho người ho ̣c kể cả trên sách vở và trong thực tiễn đời sống
Tuy nhiên , theo ý kiến cá nhân tôi thì vẫn còn có mô ̣t số bất câ ̣p nho
nhỏ trong việc phân phối chương trình của bộ môn này - Cụ thể như , có một số giờ Văn ho ̣c (đo ̣c – hiểu văn bản ) được phân chia trong phân phối chương trình chưa thực sự hợp lí , ví dụ : Tiết 40,50 : “Mô ̣t số thể loa ̣i thơ , truyê ̣n ”; Tiết 75: “Hầu trời ” (Tản Đà ); Tiết 108 : “Hướng dẫn đo ̣c thêm : Ba cống hiến
vĩ đại ; Tiếng me ̣ đẻ – nguồn giải phóng các dân tô ̣c bi ̣ áp bức ” …
Ở những giờ học này , nếu với thời lượng mô ̣t tiết hoă ̣c hai tiết như vâ ̣y – giáo viên khó có thể truyền đạt hết dung lượng kiến thức khổng lồ nằm
trong bài da ̣y Điều đó là mô ̣t thiê ̣t thòi lớn đối với người ho ̣c
Trang 29Tuy nhiên , vớ i những giáo viên tâm huyết và có khả năng vững về
chuyên môn thì chắc chắn sẽ biết cho ̣n lo ̣c , bổ sung những kiến thức cần thiết cho ho ̣c sinh vào những thời điểm thích hợp (giờ ngoa ̣i khoá , giờ tự cho ̣n… ) Điều này hoàn toàn phụ thuô ̣c vào trách nhiê ̣m , lương tâm nghề nghiệp của từng giáo viên
* Về các tác phẩm văn chương trong chương trình Ngữ văn 11
Trong tổng số 123 giờ Ngữ văn /năm - tỉ lệ các giờ dạy học tác phẩm văn chương là 68/123 (chiếm gần 55,3 %), điều này ít nhiều cho thấy tầm quan tro ̣ng của viê ̣c da ̣y - học tác phẩm văn chương đối với phân môn Ngữ văn trong trườ ng THPT
Các giờ dạy - học tác phẩm văn chương trong chương trình Ngữ văn 11 chủ yếu tập trung vào một số tác phẩm văn học trung đại và văn học hiện đại
thời kì đầu - Đây là giai đoa ̣n văn ho ̣c có nhiều bi ến động , thăng trầm Văn học giai đoạn đầu thế kỷ XX có sự hiện diện của cả hai nền văn học truyền thống và hiện đại, có sự pha tạp cả hai yếu tố cũ và mới, tạo nên những giá trị trung gian Văn học giai đoạn này đang ở thời kỳ thử thách, nó không phong phú ở đỉnh cao mà phong phú ở khả năng phát triển nhanh ở tính đa dạng Ðó chính là "cái lượng" cần có cho tiến trình hiện đại hóa văn học ở bước đầu, để dần dần về sau "lượng" sẽ biến thành "chất" tạo nên những thành tựu rực rỡ cho văn học vào giai đoạn 30 - 45 Cũng chính bởi những tác phẩm văn chương thời kì này có khoảng cách khá lớn (về thờ i gian , về đă ̣c điểm… ) so với hiê ̣n nay Do đó , học sinh khó có thể nắm bắt được tư tưởng của tác giả cũng như hình dung rõ ràng về nô ̣i dung tác phẩm (hiê ̣n thực xã hô ̣i , tâm lí nhân vâ ̣t , bức tranh phong cảnh… ) Vì thế , người giáo viên nên cố gắng hết sức để tìm tòi , khai thác những thông tin ở những nguồn đáng tin câ ̣y (Tư liệu về tác giả , những cli p liên quan đến tác phẩm… ) để cho học sinh dễ dàng tiếp nhâ ̣n kiến thứ c Muốn làm được điều này , đòi hỏi người giáo viên phải nỗ lực, nhiê ̣t tình , sáng tạo và luôn luôn đổi mới về phương pháp Có như vậy , học sinh mới say mê, hứng thú và yêu thích các tác phẩm văn chương nói
riêng và môn Ngữ văn nói chung
Trong những năm gần đây , được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với nền giáo dục nước nhà , các trường THPT mà chúng tôi tiến hành khảo sát đều đã có phòng học chung (phòng học đa năng ), đươ ̣c trang bi ̣ tương đối
Trang 30đầy đủ các phương tiê ̣n , thiết bi ̣ cần thiết phục vụ cho viê ̣c đổi mới phương pháp dạy học
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân (khách quan và chủ quan ) có rất nhiều
bô ̣ thiết bi ̣ không đồng bô ̣ hoă ̣c chất lươ ̣ng không đảm bảo Mỗi trườ ng chỉ có từ 2 đến 3 phòng học chung , chính vì vậy có thể nhận thấy một số hạn chế sau : Số lượng phòng ho ̣c chung quá ít , thực sự chưa đủ so với nhu cầu thực tế : Giáo viên nào muốn dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin thì phải đăng
kí lấy phòng học học chung trước ít nhất 3 ngày, sợ bi ̣ chồng chéo sẽ không
có phòng học để tổ chức dạy học theo kế hoạch Các phòng học chung được xây dựng xa các phòng học chính khoá , nên viê ̣c đi la ̣i không thực sự thuâ ̣n lơ ̣i , giờ ra chơi chỉ có 5 phút nên việc di chuyển giữa hai địa điểm còn c ó nhiều bất
câ ̣p : Học sinh phải mang theo sách vở lỉnh kỉnh , thời gian đầu giờ thường nhốn nháo, ổn định tổ chức chậm…Hơn nữa , do số lươ ̣ng phòng ho ̣c chung không nhiều, nên khi thiết bi ̣ nào bi ̣ trục tră ̣c hoă ̣c hỏng hóc nếu không được sửa chữa kịp thời sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến viêc dạy học… Tất cả những ha ̣n chế kể trên ít nhiều đều gây cản trở đến các hoa ̣t đô ̣ng chuyên môn của nhà trường Chính vì vậy , nếu các trường có thêm phòng ho ̣c chung thì sẽ khắc phục được những khó khăn vừa nêu - điều này đồng nghĩa với viê ̣c chất lượng da ̣y ho ̣c sẽ đươ ̣c đảm bảo và tăng lên
Qua thực tế thăm lớp dự giờ và điều t ra, khảo sát một số giờ Ngữ văn của năm trường THPT đã nêu trên đi ̣a bàn tỉnh Tuyên Quang , chúng tôi thấy 100 % giáo viên đã có ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy học của mình Dạy học Ngữ văn nói chun g và da ̣y ho ̣c tác phẩm văn chương nói riêng ở trường THPT hiê ̣n nay luôn đă ̣t trong xu thế đổi mới , nâng cao hiê ̣u quả và chất lươ ̣ng da ̣y ho ̣c Chính vì thế mà đa số các giáo viên đều có sự đầu tư khá kĩ về chất lươ ̣ng bài da ̣ y Đây là mô ̣t tín hiê ̣u đáng mừng trong công cuô ̣c nâng cao chất lươ ̣ng giáo dục của nước nhà
Theo khảo sát nhanh của chúng tôi thì khi các giáo viên đươ ̣c hỏi về sự cần thiết của viê ̣c da ̣y ho ̣c tác phẩm văn chương có ứng dụng công nghệ thông tin - Kết quả thu đươ ̣c như sau :
Trang 31STT MỨC ĐỘ SỐ LƯỢNG
0 % Như vâ ̣y, có thể thấy 100% các giáo viên được hỏi đã nắm được tầm quan trọng của việc dạy học có ứ ng dụng công nghê ̣ thông tin (đă ̣c biê ̣t là trong da ̣y học tác phẩm văn chương ) Điều này phần nào cho thấy ý thức , trách nhiệm đổi mới về phương pháp da ̣y ho ̣c của các giáo viên này Tuy nhiên, các ý kiến vẫn chưa thực sự đồng nhất Có nhiều giáo viên đánh giá cao việc ứng dụng công nghê ̣ thông tin trong da ̣y ho ̣c tác phẩm văn chương (Rất cần thiết ) nhưng cũng
có những giáo viên cho rằng việc ứng dụng công nghệ thông tin là không thực sự cần thiết (Bình thường ).Từ đây rất dễ dẫn đến viê ̣c giáo viên ứng dụng vào trong thực tế da ̣y ho ̣c mô ̣t cách sai lê ̣ch : Có thể người thấy rất cần thiết thì tuỳ tiê ̣n, lạm dụng quá đà về công nghệ thông tin (Đưa nhiều tranh ảnh , clip có lên quan vào trong bài ho ̣c mà không có mục đích phù hợp ; hình nền , phông chữ của các slide loè loẹt , rối rắm….) ; còn người không đánh giá cao , sẽ coi nhẹ sự hỗ trơ ̣ của công nghê ̣ thông tin trong quá trình da ̣y ho ̣c (ít khi thiết kế giờ da ̣y trên máy tính , không tìm kiếm , sưu tầm những thông tin mới – lạ liên quan đến bài dạy , coi máy tính như mô ̣t chiếc “bảng phụ ” để trình chiếu “con chữ ”
….khiến cho giờ da ̣y ho ̣c trở nên đơn điê ̣u , nhàm chán ) Đây sẽ là mô ̣t vấn đề cần phải được xem xét và cân đối
Làm thế nào để giải quyết vấn đề này ? Đây sẽ là mô ̣t câu hỏi không dễ giải đáp Trước hết , bản thân mỗi giáo viên phải luôn tự giác , luôn tìm tòi , khám phá những điều mới mẻ , bổ ích mà công nghê ̣ thông tin mang đến trong lĩnh vực giảng dạy của chúng ta Sau đó , áp dụng vào thực tế thiết kế và tổ chức da ̣y ho ̣c sao cho phù hợp , phát huy được tối đa hiệu quả dạy học Phải luôn coi công nghê ̣ thông tin chỉ là mô ̣t phương tiê ̣n da ̣y ho ̣c hiê ̣n đa ̣i , hỗ trợ đắc lực cho cho người giáo viên mà thôi , nghĩa là có sử dụng nhưng không lạm dụng
Trang 32Chúng tôi cũng đã tiến hành tìm hiểu để xem xét việc dạy h ọc tác phẩm văn chương có ứng dụng công nghê ̣ thông tin được các giáo viên áp dụng vào thực tế da ̣y ho ̣c như thế nào ? Kết quả thu được như sau :
STT MỨC ĐỘ SỐ LƯỢNG
0 %
Có thể đánh giá một cách khái qu át rằng : Đa số giáo viên đều đã thấy đươ ̣c mức đô ̣ cần thiết của viê ̣c ứng dụng công nghê ̣ thông tin vào trong viê ̣c dạy học tác phẩm văn chương , tuy nhiên mức đô ̣ da ̣y ho ̣c tác phẩm văn chương có sự hỗ trợ của công nghê ̣ thông t in la ̣i là chưa thực sự thường xuyên (Rất thườ ng xuyên ), các giáo viên trong quá trình dạy học của mình có ứng dụng công nghệ thông tin , nhưng mới chỉ là trong những tiết ho ̣c có dự giờ đánh giá hoă ̣c trong mô ̣t số giờ ho ̣c mà mình cảm thấy hứng thú Điều này cho thấy rõ : Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học tác phẩm văn chương mă ̣c dù có vai trò vô cùng quan tro ̣ng , song vẫn chưa trở thành mô ̣t nhu cầu , mô ̣t hoa ̣t đô ̣ng thường xuyên , có ý thức đối với người giáo viên Đây quả thực là một tín hiệu không vui , cần phải có sự nhìn nhâ ̣n , điều chỉnh tích cực hơn
d Về ti ̀nh hình học tập của học sinh
Qua điều tra thực tế , phỏng vấn , phiếu thăm d ò, dự giờ…chúng tôi có thể đánh giá chung về tình hình ho ̣c tâ ̣p của các em ho ̣c sinh trên đi ̣a bàn khảo sát như sau :
Đại đa số các em rất yêu thích môn Ngữ văn nói chung và các giờ ho ̣c
tác phẩm văn chương nó i riêng Tuy nhiên , chất lươ ̣ng ho ̣c tâ ̣p của các em ở
bô ̣ môn này chưa thực sự cao , bởi mô ̣t số lí do sau : Điều kiê ̣n kinh tế gia đình khó khăn nên các em còn chưa chuyên tâm vào ho ̣c tâ ̣p , trình độ nhận thức ít nhiều vẫn còn ha ̣ n chế…
Trang 33Việc soa ̣n bài và chuẩn bi ̣ bài trước khi đến lớp còn diễn ra chưa thực sự thường xuyên , thiếu tính hê ̣ thống Các em chưa thực sự nỗ lực trong khâu chuẩn bi ̣ bài mới , vì các em cho rằng khâu này không quan trọ ng, bên ca ̣nh đó viê ̣c thiếu sách , tài liệu tham khảo cũng là một cản trở lớn
Vẫn còn mô ̣t bô ̣ phâ ̣n ho ̣c sinh tiếp thu kiến thức mô ̣t cách thụ đô ̣ng , không phát huy được tính tích cực , sáng tạo Trong mô ̣t giờ ho ̣c , khoảng 50% học sinh chú ý nghe giảng , suy nghĩ và phát biểu ý kiến xây dựng bài , khoảng
30 % thỉnh thoảng mới phát biểu , còn lại là không biết hoặc biết nhưng không phát biểu
100 % học sinh háo hức với những giờ họ c có ứng dụng công nghê ̣ thông tin Trong những giờ ho ̣c này , các em chú ý hơn , có nhiều cố gắng hơn Như vậy , đa ̣i đa số ho ̣c sinh đã có ý thức ho ̣c tâ ̣p song chưa có điều kiê ̣n
và phương pháp học tập hiệu quả Các em mớ i chỉ dừng la ̣i ở viê ̣c ho ̣c tâ ̣p môn ngữ văn nói chung và tìm hiểu các tác phẩm văn chương nói riêng ở mức
đô ̣ cảm tính , chưa có chiều sâu Tuy nhiên , lòng yêu thích của các em cũng đã
là một tín hiệu đáng mừng Giáo viên phải là người có trách nhiệm hướng dẫn, khơi gơ ̣i niềm đam mê , tinh thần chủ đô ̣ng , tích cực trong học sinh Cần phải nhớ rằng hoạt động học của học sinh là một khâu quan trọng trong quá
trình dạy và học , tính tích cực , chủ động của học sinh quyết định lớn tới hiệu quả một giờ học
1.2.3 Một số văn ba ̉ n tác phẩm văn chương trong chương trình Ngữ văn
11 (Văn ba ̉ n ho ̣c chính khoá – Bô ̣ cơ bản ) có thể ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình D ạy – Học
Trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 (Bô ̣ cơ bản ) có rất nhiều văn bản có thể ứng dụng công nghệ thông tin vào trong thi ết kế và dạy học , tuy vâ ̣y chúng tôi chỉ thống kê ra mô ̣t số văn bản tác phẩm văn chương có thể nhâ ̣ n đươ ̣c sự hỗ trơ ̣ tích cực nhất của công nghê ̣ thông tin theo quan điểm cá nhân mà thôi
Trang 34STT VĂN BẢN TÁC GIẢ THỂ LOẠI
Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuô ̣c
Hai đứa trẻ
Người trong bao
Hồ Xuân Hương
Trang 35
Như vâ ̣y , qua bảng thống kê trên có thể thấy : số lượng các tác phẩm văn
chương trong chương trình Ngữ văn 11 (Văn bản ho ̣c chính khoá – Bô ̣ cơ bản)
có thể ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy – học là rất nhiều , tuy nhiên trong pha ̣m vi đề tài mà chúng tôi nghiên cứu do điều kiện về thời gian , điều kiê ̣n khách quan…chúng tôi xin phép chỉ đưa ra hai thiết kế da ̣y ho ̣c thuô ̣c hai thể loa ̣i đă ̣c trưng của văn ho ̣c là văn xuôi và thơ với hai tác phẩm tiêu biểu để tiến hành thực nghiê ̣m, đó là:
01 Hạnh phúc của một tang gia
Quang, đồng thờ i cũng thống kê mô ̣t số văn bản tác phẩm văn chương trong chương trình Ngữ văn 11 (Văn bản học chính khoá , Bô ̣ cơ bản) có thể ứng dụng công nghê ̣ thông tin trong quá trình dạy học Trên cơ sở đó, ở chương tiếp theo chúng tôi đề xuất một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin khi dạy học
tác phẩm văn chương
Trang 36CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN KHI DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG Ở TRƯỜNG THPT
2.1 Như ̃ng căn cứ để đề xuất mô ̣t số biê ̣n pháp ứng du ̣ng công nghê ̣ thông tin trong thực tế da ̣y ho ̣c tác phẩm văn chương ở trường THPT
2.1.1 Căn cư ́ vào đă ̣c trưng thể loại của tác phẩm văn chương
Các tác phẩm văn chương ở trường THPT nói riêng và ở lớp 11 nói chung chia làm hai loa ̣i chính , đó là loa ̣i trữ tình và tự sự (trong đó chủ yếu là thơ và văn xuôi) Hai thể loa ̣i văn ho ̣c này cùng có chung mô ̣t số đă ̣c trưng sau : Các tác phẩm văn học thường mang tính trừu tượng , đa nghĩa Hình tượng nhân vật trong tác phẩm thường tiêu biểu cho mô ̣t tầng lớp , mô ̣t loa ̣i ngườ i trong xã hô ̣i , suy nghĩ , tâm tra ̣ng của ho ̣ không giống nhau…cho nên , việc ứng dụng công nghê ̣ thông tin vào trong da ̣y ho ̣c tác phẩm văn chương sẽ giúp ho ̣c sinh cảm nhâ ̣n, hình dung rõ hơn về tác giả , tác phẩm
Vì lẽ đó , đây là mô ̣t trong những căn cứ đầu tiên để chúng tôi đề xuất những biê ̣n pháp ứng dụng công nghê ̣ thông tin trong thực tế da ̣y ho ̣c tác phẩm văn chương ở trường THPT
2.1.2 Căn cư ́ vào đă ̣c điểm tâm lí của lứa tuổi ho ̣c sinh ta ̣i tỉnh Tuy ên Quang
Đa số ho ̣c sinh Tuyên Quang , điều kiê ̣n kinh tế gia đình còn khó khăn nên viê ̣c đươ ̣c tiếp xúc với công nghê ̣ mới chưa nhiều , chính vì vậy các em cũng bị hạn chế không nhỏ trong quá trình tự học của chính mình
Lứa tuổi của các em (Từ 15 đến 18) là lứa tuổi đầy đam mê , thích khám phá thế giới xung quanh , những điều mới mẻ … Chính vì vậy , nếu giáo viên đổi mới phương pháp da ̣y ho ̣c bằng viê ̣c ứng dụng công nghê ̣ thông tin vào trong dạy học t ác phẩm văn chương chắc chắn sẽ thu hút được sự chú ý , đồng thờ i cũng sẽ kích thích hứng thú học tập của các em , tạo cho các em một tâm thế học
tâ ̣p chủ đô ̣ng, tích cực
2.1.3 Căn cư ́ vào nhu cầu thực tế
Xã hội ngày cà ng phát triển , đòi hỏi nền giáo dục cũng phải từng bước thay đổi để phù hợp với thời đa ̣ i công nghê ̣ hoá hiê ̣n nay Dạy học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin là một trong những phương pháp dạy học mới , là điều kiê ̣n tiên quyết, tất yếu trong tiến trình thay đổi giáo dục nước nhà
Điều kiê ̣n cơ sở vâ ̣t chất của các trường lớp trên đi ̣a bàn tỉnh Tuyên
Quang đã được thay đổi đáng kể Các cấp, các ngành đã rất quan tâm , đầu tư về
Trang 37trang thiết bi ̣ (phòng học chung , máy tính, máy chiếu… ) hỗ trơ ̣ tích cực cho viê ̣c dạy học ở các trường lớp trên địa bàn
Như vâ ̣y, căn cứ vào yêu cầu của xã hô ̣i cũng như thực tế điều kiê ̣n trường lớp trên đi ̣a bàn tỉnh Tuyên Quang , chúng tôi hoàn toàn có thể tự tin đề xuất một số biê ̣n pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong thực tế dạy học tác phẩm văn
chương ở trường THPT nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
2.2 Đề xuất mô ̣t số biê ̣n pháp để ứng dụng công nghê ̣ thông tin trong thực tế da ̣y ho ̣c tác phẩm văn chương ở trường THPT
2.2.1 Sư ̉ du ̣ng máy tính – Mô ̣t phương tiê ̣n quan tr ọng của người giáo viên
Từ "máy tính" (computers) đầu tiên, được dùng cho những người tính
toán số học, có hoặc không có sự trợ giúp của máy móc, nhưng hiện nay nó hoàn toàn có nghĩa là một loại máy móc Đầu tiên máy tính chỉ giải các bài toán
số học, nhưng máy tính hiện đại làm được nhiều hơn thế Khoảng những năm
1990, khái niệm máy tính đã thực sự tách rời khỏi khái niệm điện toán và trở
thành một ngành khoa học riêng biệt với nhiều lĩnh vực đa dạng
Trong thập niên 1970, các kỹ sư điện toán của các viện nghiên cứu trên khắp nước Mỹ bắt đầu liên kết máy tính của họ với nhau thông qua công nghệ của ngành liên lạc viễn thông Chẳng bao lâu sau, mạng máy tính đã mở rô ̣ng và phát triển ra ngoài các viện khoa học và được biết đến như là Internet
Đến thập niên 1990, việc phát triển của công nghệ World Wide Web đã làm cho ngay cả những người không chuyên nghiệp cũng có thể sử dụng internet Nó phát triển nhanh đến mức đã trở thành phương tiện liên lạc toàn cầu như ngày nay
Những năm gần đây , dạy học có ứng dụng công nghê ̣ thông tin (Sự hỗ trợ của máy tính , mạng Internet…) đang ngày càng phổ biến trong các cấp học từ phổ thông đến đại học Phải khẳng định rằng dạy học có ứng dụng công nghê ̣ thông tin góp phần đa dạng hóa các hình thức dạy học, hỗ trợ tích cực cho người Thầy ở rất nhiều phương diện: Kiến thức bài học nhờ thế mà được đưa vào nhiều hơn, người Thầy sẽ cảm thấy nhẹ nhàng hơn so với cách dạy thông thường, bài giảng sinh đô ̣ng hơn, học sinh hứng thú hơn… Và một trong những trơ ̣ thủ đắc lực giúp cho viê ̣c da ̣y ho ̣c có ứng dụng công nghệ thông tin đa ̣t được hiê ̣u quả cao nhất , đó chính là chiếc má y tính , một phương tiện quan trọng của người giáo viên
Thông qua máy tính, người giáo viên có thể làm được những viê ̣c như sau:
- Sử dụng máy tính để lấy thông tin phục vụ bài da ̣y
Trang 38- Sử dụng máy tính để thiết kế giáo á n và giáo án điê ̣n tử
- Sử dụng máy tính để trình chiếu bài da ̣y
Cụ thể khi đi sâu vào phân tích , ta sẽ thấy rõ những vai trò to lớn nêu trên
2.2.1.1 Sư ̉ dụng máy tính để lấy thông tin phục vụ bài dạy
Để nhâ ̣n thức được sự bùng nổ của công nghệ thông tin nói riêng và khoa học công nghệ nói chung đang tác động mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành nghề trong đời sống xã hội và để giáo dục phổ thông đáp ứng được đòi hỏi cấp thiết của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, để việc dạy học theo kịp thời đa ̣i , chúng ta nhất thiết phải cải cách phương pháp dạy học theo hướng vận dụng công nghê ̣ thông tin và các trang thiết bị dạy học hiện đại nhằm phát huy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành và hứng thú học tập của học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Ngày nay vớ i sự hỗ trơ ̣ từ chiếc máy tính , người giáo viên có thể phát huy tối đa tiềm năng của mình
Một trong các điều kiện quan trọng nhất để tăng cường hiệu quả giáo dục
và nâng cao chất lượng giảng dạy là tìm kiếm nguồn tư liệu phong phú và phù hợp để bổ sung vào nội dung bài dạy của mình Internet, nguồn tư liệu vô tận sẽ giúp giáo viên đáp ứng được yêu cầu đó Internet là một thành tựu có tính đột phá của nhân loại, là một công cụ vô cùng hữu ích giúp cho viê ̣c khai thác tư liê ̣u cực kì hiê ̣u quả
Những tư liệu được lựa chọn sẽ làm cho giờ da ̣y ho ̣c trở nên phong phú, sống động, hấp dẫn hơn, học sinh sẽ tiếp thu bài giảng một cách tự nhiên, hứng thú hơn Tuy nhiên, khi tìm kiếm , lựa chọn tư liệu cho bài học điều quan trọng nhất là tính phù hợp Tư liệu phù hợp là tư liệu liên qua đến nội dung da ̣y ho ̣c ;
có nội dung, hình thức đa dạng (thông tin, hình ảnh, video ) và được chọn lọc
kĩ càng; lượng thông tin bổ sung vừa đủ (không quá ít, không quá nhiều) Bên cạnh đó , trong một thế giới như ngày nay, cần phải cân nhắc kỹ giá trị khác biệt mang lại cho người học khi mà thông tin có thể tìm thấy ở khắp mọi nơi Vì vậy, viê ̣c nhận thức và khả năng đánh giá độ tin cậy của thông tin là điều tối quan trọng Người giáo viên khi khai thác thông tin trên mạng cần phải tìm ở những nguồn đ áng tin cậy (những tr ang mạng có tên tuổi , nguồn gốc rõ r àng, tìm hiểu thêm ở sách báo, tư liê ̣u …) Có thế thì chất lượng bài dạy mới được đảm bảo
Là một công cụ rất hiệu quả và là một kho thông tin vô tận, nhưng Internet cũng đòi hỏi giáo viên phải được trang bị những kiến thức, kỹ năng và những điều kiện nhất định
Trang 39Điều cần thiết đầu tiên là tiếng Anh Tuy các nội dung tiếng Việt đang phát triển với tốc độ rất nhanh nhưng nguồn thông tin lớn nhất và phong phú nhất trên Internet vẫn là bằng tiếng Anh Nếu không có ngoại ngữ , giáo viên sẽ
bị hạn chế khá nhiều
Thứ hai là những hiểu biết cơ bản dù chỉ ở mức đại cương như truy cập vào Internet thế nào? Làm thế nào để sử dụng những công cụ tra cứu, tìm kiếm như Google, Youtube… hay kỹ năng chọn lọc từ khoá tìm kiếm phù hợp với mục đích tra cứu sẽ giúp ích rất nhiều cho việc tìm kiếm tư liệu của người giáo viên
Có thể nhận thấy rằng, Internet ngày càng thể hiện được vai trò to lớn của mình trong mọi mặt đời sống, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Trong mấy thập niên gần đây, đổi mới giáo dục đào tạo đã trở thành xu thế toàn cầu Khoa học và công nghệ trên thế giới phát triển như vũ bão, tạo ra những bước tiến nhảy vọt, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử - viễn thông, tin học và công nghệ thông tin Tại Việt Nam, ứng dụng những thành tựu mới nhất về khoa học và công nghệ, cụ thể là Internet vào công cuộc dạy và học, nhằm thích ứng với sự phát triển của giáo dục thời đại trong bối cảnh kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ như hiện nay đang trở thành một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu Thông qua công nghệ , các thầy cô giáo dễ dàng tiếp cận các bài giảng , tri thức bằng cách truy cập hoặc liên hê ̣ trực tiếp với các đồng nghiê ̣p
a Tìm kiếm thông tin bằng website Google
Muốn tìm kiếm thông tin bằng website Google, ta có thể sử dụng trình duyệt Internet Explorer (hoặc google Chrome hay Mozilla Firefox) và gõ vào địa chỉ: http://www.google.com (trang Google Mỹ) hoặc
http://www.google.com.vn (trang Google Việt Nam) Thông thườ ng , chúng ta hay sử dụng trang Google Việt Nam Thao tác cụ thể như sau : Đầu tiên, chúng
ta truy cập vào trang này Khi đã truy cập đươ ̣c vào Google , để tìm kiếm tư liệu phục vụ cho viê ̣c dạy và học, ta chỉ cần quan tâm đến mô ̣t số chức năng tìm kiếm (trang Web, hình ảnh hoặc video), sau đó, ta gõ từ khóa cầ n tìm , ấn tìm kiếm - khi đã hiê ̣n thi ̣ những thông tin liên qu an đến từ khoá, ta di chuyển chuô ̣t , chỉ con trỏ v ào thông tin đó v à kích đúp, trang thông tin sẽ mở r a, lúc này ta có thể đo ̣c , ghi chép , download , coppy… những vấn đề liên quan , cần thiết cho bài dạy
Có thể chứng minh b ằng ví dụ cụ thể s au : Muốn tìm những tư liê ̣u , hình ảnh liên quan tới nhà văn Nam Cao, Ta lần lươ ̣t thực hiê ̣n c ác thao tác sau :
Trang 40Sử dụng trình duyê ̣t Internet Explorer (hoặc google Chrome hay Mozilla Firefox)
Hình 2.1
Bước 1 : Nhấn chuô ̣t v ào mô ̣t trong những hình ảnh được bôi đen trên
ảnh.(Ở đây chúng tôi chọn trình duyệt google Chrome)[Hình 2.1], Trang trình duyê ̣t hiê ̣n lên , ta sẽ gõ từ khoá https://www.google.com.vn vào thành công cụ ,
lâ ̣p tức trên màn hình sẽ hiê ̣n lên như trong ảnh :[Hình 2.2]
Hình 2.2