1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp nhận dạng các loại biểu đồ thông qua yêu cầu đề bài và bảng số liệu thống kê trong chương trình địa lí 9 ở trường PTDTBT THCS yên nhân, thường xuân

22 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 268,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các bài kiểm tra định kì ở Chương trình Địa lý 9 yêu cầu đề bài cầnphải thể hiện đầy đủ nội dung kiến thức về lý thuyết và phần thực hành kĩ năng, trong đó vẽ biểu đồ, nhận xét biể

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GIẢI PHÁP NHẬN DẠNG CÁC LOẠI BIỂU ĐỒ

THÔNG QUA YÊU CẦU ĐỀ BÀI VÀ BẢNG SỐ LIỆU

THỐNG KÊ TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA LÍ 9, Ở TRƯỜNG

PTDTBT THCS YÊN NHÂN – THƯỜNG XUÂN

Người thực hiện: Phạm Văn Phúc

Trang 3

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm. 3

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh

2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo

dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 17

Trang 4

1 Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài.

Trong chương trình môn Địa lí 9 THCS nội dung kiến thức môn học tập trungtìm hiểu về các lĩnh vực dân cư, kinh tế - xã hội Việt Nam và nội dung kiến thức địa líđịa phương, trong đó có nhiều bài thực hành, các câu hỏi và bài tập yêu cầu về cũng cốkiến thức, rèn luyện kĩ năng vẽ biểu đồ là nội dung gắn liền với chương trình môn Địa

lí 9 THCS Trong các bài kiểm tra định kì ở Chương trình Địa lý 9 yêu cầu đề bài cầnphải thể hiện đầy đủ nội dung kiến thức về lý thuyết và phần thực hành kĩ năng, trong

đó vẽ biểu đồ, nhận xét biểu đồ và bảng số liệu thống kê thường không thể thiếu ở các

đề kiểm tra địa lí 9 Đặc biệt hơn trong kì thi học sinh giỏi các môn văn hóa lớp 9 –THCS, đề thi học sinh giỏi môn Địa lí 9 cấp huyện và cấp tỉnh phần kĩ năng vẽ biểu

đồ, nhận xét biểu đồ và bảng số liệu thống kê thường chiếm tới 25% - 30% số điểmcủa đề bài cho Để vẽ được biểu đồ địa lí thì điều đầu tiên học sinh phải xác định đượcyêu cầu của đề bài cho? Như vậy, học sinh phải có kĩ năng nhận dạng được biểu đồ,trừ khi đề bài đã yêu cầu rõ là dạng biểu đồ gì, còn không học sinh phải tự xác định,nếu nhận dạng biểu đồ sai thì học sinh sẽ vẽ sai biểu đồ và không đạt được kết quả

Điều đó chứng tỏ rằng, bộ môn Địa lí lớp 9 hiện nay không chỉ chú trọngđến việc cung cấp cho học sinh những kiến thức lí thuyết mà còn giúp các em rènluyện những kĩ năng cần thiết, đặc biệt như kĩ năng vẽ biểu đồ Bởi thông quabiểu đồ các em đã thể hiện được mối liên hệ giữa những đối tượng địa lí đã học,thấy được tình hình, xu hướng phát triển của các đối tượng địa lí, hoặc từ biểu đồ

đã vẽ các em cũng có thể phân tích, nhận xét, phát hiện tìm tòi thêm nội dungkiến thức mới trên cơ sở kiến thức của bài học Tuy nhiên, hiện nay nhiều em họcsinh lớp 9, phần kĩ năng nhận dạng biểu đồ còn rất yếu, phần lớn các em vẫn chưađạt được những kĩ năng cơ bản cần thiết để nhận biết biểu đồ Từ đó, các em cóthể vẽ biểu đồ sai không đúng theo yêu cầu của đề bài, kết quả bài làm sẽ khó đạtđược điểm số theo yêu cầu môn học Chính vì vậy, bản thân tôi là một giáo viêngiảng dạy bộ môn Địa lí ở trường THCS, tôi rất quan tâm đến rèn luyện kĩ năngnhận dạng và vẽ các loại biểu đồ cho học sinh, giúp các em có được nền tảng kiếnthức, kĩ năng địa lí để bước tiếp vào THPT đầy tự tin trong học tập

Trong chương trình môn Địa lí nói chung và nội dung địa lí 9 nói riêng, dunglượng kiến thức nhiều nhưng thời gian để giáo viên hướng dẫn học sinh rèn kĩ năngbiểu đồ có phần quá ít, trong khi đây là phần kiến thức thuộc dạng vận dụng, đốitượng học sinh khá - giỏi phần nào có thể tiếp thu được thông qua một tiết lên lớp, cònhọc sinh ở mức trung bình rất khó để nắm được Vì vậy, để học sinh biết cách nhậndạng, vẽ các loại biểu đồ là vấn đề hết sức khó khăn nếu giáo viên không chịu khónghiên cứu, tìm cách hướng dẫn học sinh cách nhận dạng các loại biểu đồ thì học sinh

dễ mắc lỗi vẽ sai biểu đồ, giáo viên cũng rất lúng túng để hướng dẫn học sinh có đượckiến thức, kĩ năng cơ bản nhất về biểu đồ Hiện nay, trong chương trình phổ thông vẫnchưa có những tài liệu đề cập sâu về lĩnh vực nhận dạng các loại biểu đồ địa lí 9, trongcác đề thi học sinh giỏi môn Địa lí 9 phần biểu đồ lại rất đa dạng, phức tạp với nhiềudạng câu hỏi khó có yếu tố gây nhiễu cao, xác định được đúng dạng biểu đồ để vẽ thậtkhông dễ dàng gì đối với học sinh và ngay cả giáo viên trực tiếp giảng dạy

Trang 5

Với những lý do trên, tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến về “Giải pháp nhận dạng các loại biểu đồ thông qua yêu cầu đề bài và bảng số liệu thống kê trong Chương trình Địa lí 9, ở trường PTDTBT THCS Yên Nhân - Thường Xuân.”

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Mục đích nghiên cứu của đề tài giúp cho giáo viên và học sinh có những biệnpháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và học tập môn Địa lí nói chung,đồng thời củng cố, rèn luyện nâng cao kĩ năng nhận dạng biểu đồ cho học sinh lớp 9nói riêng

- Giúp giáo viên THCS có được nền tảng kiến thức, giúp lựa chọn giải pháp đểhướng dẫn học sinh nhận dạng các loại biểu đồ có hiệu quả nhất

- Học sinh có kĩ năng nhận dạng biểu đồ thành thạo, nắm bắt kiến thức nhanh,tạo hứng thú với môn học

- Trên cơ sở đó, đề xuất một số ý kiến góp phần cùng các giáo viên giảng dạy

bộ môn Địa lí trong việc rèn luyện kĩ năng nhận dạng các loại biểu đồ cho học sinhlớp 9 được hiệu quả cao

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

- Đối tượng là học sinh lớp 9 - THCS

- Nhận dạng các bài tập, bài thực hành về biểu đồ: biểu đồ tròn, biểu đồ cột,biểu đồ đường (đồ thị), biểu đồ kết hợp trong chương trình địa lí lớp 9 – THCS

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

- Quan sát, đọc, phân tích, nhận xét trực quan

- Mô tả, tường thuật, so sánh

- Phương pháp vấn đáp và thảo luận trung cầu ý kiến

- Phương pháp thăm dò: qua bài tập, qua quan sát, lấy ý kiến

- Phương pháp nghiên cứu thông qua tài liệu

- Đối với đề tài này tôi đã kết hợp một số phương pháp trên nhằm mang lại tínhchính xác, tính hiệu quả trong nghiên cứu cách nhận dạng các loại biểu đồ thông quayêu cầu đề bài và bảng số liệu thống kê trong bộ môn Địa lí nói chung và nội dungchương trình địa lí 9 nói riêng

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Trong xu thế chung hiện nay việc dạy học môn Địa lí phải theo tinh thần đổimới, lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát huy tinh tích cực, chủ động sáng tạo củahọc sinh, được thể hiện trong nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các văn bản của

Bộ Giáo dục và Đào tạo Mục tiêu của giáo dục phổ thông là “giúp cho học sinh pháttriển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, nhằm hìnhthành nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và tráchnhiệm công dân…”

Cùng với quá trình toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập nền kinh tế thế giới hiệnnay thì giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu và luôn đi trước một bước trong quátrình phát triển kinh tế xã hội Bởi trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của mộtquốc gia thì nhân tố con người được coi là nguồn lực quan trọng và cơ bản nhất Chính

vì vậy vấn đề chất lượng dạy học ở các cấp học, ngành học nói chung trong đó có bộ

Trang 6

môn Địa lí nói riêng càng trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà sư phạm.

Trong chương trình môn Địa lí cấp THCS, mục tiêu yêu cầu học sinh ngoàinắm được kiến thức về lý thuyết thì đòi hỏi người học phải có được các kĩ năng cơbản, trong đó có kĩ năng biểu đồ Biểu đồ là dạng bài tập thực hành về địa lí, là dạngkiến thức khó đòi hỏi học sinh phải có tư duy tổng hợp, phân tích, phán đoán cùng vậndụng kiến thức toán học để giải quyết thì mới đạt được yêu cầu Trong các bài kiểmtra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, hoặc trong các đề thi học sinh giỏi cấpTHCS cũng như THPT thì đều có những bài về biểu đồ, các bài tập dạng này chiếm sốđiểm khoảng 1/4, hay gần 1/3 số điểm đề thi Trong các bài kiểm tra, hoặc bài thi địa líthường có ba mức độ yêu cầu: các câu hỏi thuộc mức độ nhận biết, các câu hỏi thuộcmức độ thông hiểu, các câu hỏi thuộc mức độ vận dụng, bài tập biểu đồ là dạng câuhỏi ở mức độ vận dụng, chủ yếu dành cho đối tượng học sinh khá giỏi Tuy nhiên,trong thực tế công tác khi chấm bài của học sinh thì thường vẽ sai biểu đồ, hoặc không

vẽ được biểu đồ theo đúng với dạng đề bài yêu cầu không cụ thể - đề bài có tính chấtphân loại cao Như vậy, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn đề trên, trong đó cónguyên nhân là do giáo viên chưa đầu tư nghiên cứu sâu, hoặc có giải pháp hay kinhnghiệm để hướng dẫn học sinh nhận dạng các loại biểu đồ một cách tốt nhất

Đối với học sinh THCS nói chung và học sinh ở các nhà trường vùng núi, vùngsâu, vùng xa, vùng có kinh tế đặc biệt khó khăn như trường THCS Yên Nhân thì việcrèn luyện kĩ năng biểu đồ địa lí gặp không ít khó khăn Ví dụ: với một bài tập về vẽbiểu đồ, hoặc tiết học về thực hành vẽ biểu đồ, thì đa phần các em gặp rất nhiều khókhăn khi xác định biểu đồ để vẽ, từ đó cũng ảnh hưởng tới thời gian và kết quả hoànthành bài tập của học sinh Thông thường, nhận dạng biểu đồ là bước đầu tiên để tiếnhành vẽ biểu đồ, nhận dạng sai biểu đồ thì học sinh vẽ sẽ sai Vì vậy, đây là bước đầuquan trọng nhất trong quá trình vẽ biểu đồ, nếu nắm không chắc phần này thì sẽ ảnhhưởng tới kết quả chung trong học tập

Ngoài ra, trong kiến thức môn học bên cạnh nội dung lí thuyết được cung cấpqua hệ thống kênh chữ thì còn được bổ sung trực quan bằng hệ thống kênh hình vớicác biểu đồ, tranh ảnh, bảng số liệu, Điều này chứng tỏ bộ môn Địa lí hiện naykhông chỉ chú trọng đến việc cung cấp cho học sinh những kiến thức về lí thuyết màcòn giúp các em rèn luyện những kĩ năng địa lí cần thiết, trong đó kĩ năng vẽ, nhậnxét và giải thích biểu đồ là một kĩ năng phổ biến Hiện nay, trong chương trình đổimới sách giáo khoa địa lí 9 - THCS gồm có 52 tiết học thì đã có đến 11 tiết thựchành, trong đó có 5 tiết vẽ biểu đồ và có 11 bài tập về rèn luyện kĩ năng vẽ và nhậnxét biểu đồ sau các bài học ở phần câu hỏi và bài tập

Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn xã hội, công tác giảng dạy mônĐịa lí 9 ở trường PTDTBT THCS Yên nhân đã không ngừng đổi mới phươngpháp dạy học, sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực, đặc biệt sử dụng công nghệthông tin trong dạy các tiết thực hành địa lí, sử dụng để giải quyết các bài tập về

vẽ biểu đồ nhằm giải quyết mâu thuẩn về mặt thời gian và dung lượng kiến thức,

để đạt hiệu quả cao nhất trong tiết học Trong nội dung chương trình môn Địa lí

9 – THCS có các bài tập về biểu đồ nó đóng vai trò quan trọng để củng cố kiếnthức và rèn luyện các kĩ năng cơ bản trong môn Địa lí, đặc biệt là kĩ năng vẽ,

Trang 7

nhận xét và giải thích các loại biểu đồ, giúp cho các em học sinh phát triển nănglực một cách tốt nhất, các em có được sự tự tin trong quá trình học tập củanhững năm tiếp theo.

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

2.2.1 Thuận lợi:

- Đa số các bài tập và các tiết thực hành về vẽ biểu đồ, học sinh đều có hứng thútham gia học tập tốt Bởi những giờ học này không nặng về kiến thức lí thuyết mà chủyếu rèn luyện cho học sinh những kĩ năng cơ bản

- Thông qua những bài tập và bài thực hành về vẽ biểu đồ, học sinh thấy đượcmối liên hệ với những nội dung lí thuyết đã học, thấy được xu hướng phát triển cũngnhư so sánh, phân tích, đánh giá được sự phát triển của các sự vật, hiện tượng địa lí

Đó cũng là một biện pháp rất tốt để các em ghi nhớ và củng cố kiến thức bài học chomình Đồng thời cũng là cơ hội để các em thể hiện năng lực riêng, các em sẽ say mêhơn trong học tập

- Hiện nay, công nghệ thông tin, trang thiết bị dạy học cũng như các học liệutương đối phong phú, rất thuận lợi cho giáo viên khi thiết kế, giảng dạy các bài tậpthực hành về mặt thời gian, sinh động hơn về nội dung, tốt hơn để vận dụng cácphương pháp – kĩ thuật dạy học tích cực, giáo viên có thời gian tập trung nhiều về rènluyện kĩ năng biểu đồ cho học sinh, hướng dẫn học sinh các thao tác để hoàn thành bàitập theo yêu cầu

- Thông qua bài tập biểu đồ người giáo viên cũng có cơ hội để đánh giá đượcnăng lực của từng học sinh, phát hiện những học sinh có năng lực cá nhân nhằm bồidưỡng để thêm tham dự các kì thi học sinh giỏi, đồng thời cũng phát hiện ra nhữnghọc sinh còn yếu kém về kĩ năng để kịp thời có những biện pháp bổ trợ và điều chỉnhnhằm nâng cao chất lượng dạy học một cách toàn diện

2.2.2 Khó khăn:

Vấn đề thường gặp hiện nay là học sinh học lệch khá nhiều, nhiều em cho rằngĐịa lí là môn học phụ nên ít quan tâm, học qua loa, học lí thuyết chung chung mà coinhẹ phần thực hành, làm đối phó các bài tập về vẽ biểu đồ ở phần câu hỏi và bài tậpnên kết quả còn thấp

Một khó khăn nữa là việc rèn luyện kĩ năng biểu đồ là nội dung bắt buộc, làmục tiêu cơ bản trong học tập địa lí, đây là nội dung khó, yêu cầu tương đối cao đốivới nhận thức của học sinh, trong khi chỉ chiếm một thời lượng nhỏ trong chươngtrình học, thời gian một tiết dạy lại khó có thể đáp ứng để rèn luyện tốt về kĩ năng củamột dạng biểu đồ địa lí nhất định

Trước khi thực hiện đề tài, học sinh gặp những khó khăn như:

- Học sinh không xác định được yêu cầu của đề bài

- Học sinh không xác định được kiểu biểu đồ thích hợp để vẽ là gì?

- Học sinh chưa vẽ được biểu đồ thích hợp và đúng yêu cầu đề bài

- Học sinh chưa nắm được những yêu cầu phải xử lí trước khi vẽ biểu đồ

Do đó, tỉ lệ học sinh xác định được đúng yêu cầu của đề bài và đúng dạng biểu

đồ để vẽ còn thấp và nếu có xác định được đúng dạng và yêu cầu thì lại mắc phải một

số sai sót trong quá trình tiến hành vẽ Chính vì vậy nhận dạng được biểu đồ để vẽ

Trang 8

cho đúng còn giúp học sinh thích thú hơn khi làm bài tập thực hành, từ đó họcsinh sẽ làm được bài tập tốt hơn, kết quả học tập môn Địa lí nâng lên, đồng thờicũng giúp cho giáo viên dễ dàng hệ thống được các loại biểu đồ, phân loại cácdạng bài tập biểu đồ, qua đó cũng giúp cho giáo viên phát huy hơn nữa năng sưphạm của mình đối với bộ môn Địa lí nói chung và các tiết thực hành nói riêng.

2.2.3 Kết quả khảo sát trước khi áp dụng đề tài

Trước khi tôi tiến hành áp dụng kĩ năng nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp

để vẽ thông qua phân tích yêu cầu đề bài và bảng số liệu thống kê thì còn một bộphận khá lớn học sinh không xác định được loại biểu đồ thích hợp, số lượng họcsinh xác định đúng dạng biểu đồ để vẽ chiếm tỉ lệ không cao Các bài kiểm tra,

đánh giá thường xuyên, định kì học sinh vẫn tập trung vào làm các câu hỏi về lí

thuyết, có rất ít học sinh vẽ được đúng biểu đồ theo yêu cầu

Bảng khảo sát trước khi tiến hành thực hiện giải pháp:

Bảng 1: Học sinh xác định được dạng biểu đồ và vẽ đúng

Lớp Tổng số học sinh Xác định đúng dạng biểu đồ(học sinh) Xác định sai dạng biểu đồ(học sinh)

Tỉ lệ

(%)

Sốlượng

Tỉ lệ

(%)

Sốlượng

Tỉ lệ

(%)

Sốlượng

Tỉ lệ

(%)

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

2.3.1 Các dạng biểu đồ thường gặp trong chương trình địa lí 9 THCS

- Biểu đồ tròn (biểu đồ cơ cấu)

- Biểu đồ miền (biểu đồ chuyển dịch cơ cấu)

- Biểu đồ cột

- Biểu đồ đường (biểu đồ đồ thị)

- Biểu đồ kết hợp

2.3.2 Cách nhận dạng và xử lý bước đầu trước khi vẽ biểu đồ.

a Biểu đồ tròn (hay biểu đồ cơ cấu)

a.1 Đặc điểm của biểu đồ

Là loại biểu đồ thường thể hiện cơ cấu thành phần của một tổng thể đối tượngđịa lí nhất định, đơn vị thể hiện trên biểu đồ được tính bằng %

a.2 Các dạng bài tập về biểu đồ tròn

* Bài tập trong sách giáo khoa địa lí 9 – NXBGD: Bài tập 2, trang 23; bài thựchành – bài 1, trang 38; bài tập 3 trang 120; bài tập 3 trang 126

- Ví dụ 1: Bài tập 2, trang 23, SGK địa lí 9: “Vẽ biểu đồ tròn (cơ cấu) dựa vào

bảng số liệu dưới đây:”

Trang 9

Bảng 6.1 Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế, năm 2002

- Ví dụ 2: Dựa vào bảng 33.3, hãy vẽ biểu đồ thể hiện tỉ trọng về diện tích, dân

số, GDP của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong ba vùng kinh tế trọng điểm của

cả nước năm 2002 và rút ra nhận xét

Bảng 33.3 Diện tích, dân số, GDP của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và

ba vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, năm 2002

- Ví dụ 4: Cho bảng số liệu sau:

Sản lượng thủy sản ở Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ, năm

a.3 Cách nhận dạng biểu đồ - Khi nào cần vẽ biểu đồ tròn?

* Ta phải căn cứ vào yêu cầu của đề bài cho:

- Đề bài yêu cầu cụ thể là “Em hãy vẽ biểu đồ tròn…” (như ở ví dụ 1: Bài tập

Trang 10

* Ta phải căn cứ vào bảng số liệu:

- Bảng số liệu có các số liệu thành phần trong một tổng thể (ở cả ba ví dụ), cóthể là số liệu tuyệt đối (số liệu thô – ví dụ 2, 3 và 4) hoặc số liệu tương đối (số liệu tinh– ví dụ 1)

+ Bảng số liệu thuộc đối tượng địa lí có gắn với mốc thời gian (năm) tối đa là

03 năm, nếu nhiều hơn số năm vẽ biểu đồ khác (ở ví dụ 2)

a.4 Những yêu cầu phải xử lí trước khi vẽ biểu đồ tròn

* Nếu bảng số liệu cho là bảng số liêu tuyệt đối (hay số liệu thô) thì:

- Ta phải xử lí số liệu thành số liệu tương đối (số liệu tinh – số liệu %) rồi mới

vẽ (như bảng số liệu ở ví dụ 2, 3 và 4 đã cho)

- Nếu các đối tượng địa lí có từ hai mốc thời gian trở lên, ta phải tính quy mô

của nó (tính bán kính), (như bảng số liệu đã cho ở ví dụ 3 và 4)

- Nếu là bảng số liệu thuộc các đối tượng địa lí riêng lẽ, nhưng có mối quan hệtương đồng với nhau ta vẫn phải tính quy mô của nó (số liệu của đối tượng có giá trịnhỏ nhất là 1 ĐVBK, thì các đối tượng còn lại sẽ tính bán kính lần lượt như cách tính

ở các năm), (ở ví dụ 4 đã cho)

- Nếu là bảng số liệu thuộc các đối tượng địa lí riêng lẽ, tuy có mối quan hệnhưng không tương đồng với nhau (khác nhau về giá trị đơn vị), ta không tính quy môcủa nó (ở ví dụ 2 đã cho)

* Nếu bảng số liệu cho là bảng số liêu tương đối - % (hay số liệu tinh) thì takhông cần phải xử lí số liệu, có thể vẽ được luôn và cũng không có cơ sở để vẽ quy

mô - tính bán kính, (như bảng số liệu đã cho ở ví dụ 1)

a.5 Kết luận:

Thông qua hướng dẫn học sinh về cách nhận dạng biểu đồ tròn (hay là biểu

đồ cơ cấu) và những yêu cầu phải xử lí trước khi vẽ biểu đồ trong từng trường hợp

cụ thể, giáo viên và học sinh có thể dễ dàng vận dụng vào thực tế, sẽ không còntình trạng xác định sai biểu đồ dạng cơ cấu Học sinh có thái độ học tập tích cực,yêu thích môn học hơn

b Biểu đồ miền

b.1 Đặc điểm của biểu đồ

Biểu đồ miền thường được thể hiện cả động thái và cơ cấu của các đối tượngđịa lí với số năm nhiều Biểu đồ miền thực chất là biểu đồ cột chồng khi chiều rộngcủa nó được thu nhỏ thành một đường thẳng đứng và nó củng là sự biến dạng củabiểu đồ cơ cấu

b.2 Các bài tập về biểu đồ miền

* Bài tập trong sách giáo khoa địa lí 9

Ví dụ 4: Bài 16 Thực hành: Cho bảng số liệu dưới đây:

Bảng 16.1 Cơ cấu GDP của nước ta thời kì 1991 – 2002 (%)

1991 1993 1995 1997 1999 2001 2002Tổng số 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0Nông, lâm, ngư nghiệp 40,5 29,9 27,2 25,8 25,4 23,3 23,0Công nghiệp – xây dựng 23,8 28,9 28,8 32,1 34,5 38,1 38,5

Trang 11

Hãy vẽ biểu đồ miền thể hiện cơ cấu GDP thời kì 1991 – 2002.

* Bài tập bổ trợ

Ví dụ 5: Cho bảng số liệu sau:

Giá trị xuất, nhập khẩu hàng hóa của nước ta, giai đoạn 2007 – 2013 (Đơn vị: triệu USD)

(Nguồn niên giám thống kê 2013, nhà xuất bản thống kê 2014)

Vẽ biểu đồ thích hợp nhất thể hiện sự thay đổi cơ cấu giá trị xuất, nhập khẩu

hàng hóa của nước ta giai đoạn 2007 – 2013 ?

b.3 Cách xác định biểu đồ miền - khi nào thì vẽ biểu đồ miền?

* Căn cứ vào đề bài cho:

- Khi đề bài yêu cầu cụ thể: “Em hãy vẽ biểu đồ miền ” (như đề bài ở ví dụ 4:

“Hãy vẽ biểu đồ miền thể hiện cơ cấu GDP thời kì 1991 – 2002”.

+ Khi đề bài xuất hiện những cụm từ như : “thay đổi cơ cấu”, “chuyển dịch cơcấu”, “thích hợp nhất để chuyển dịch cơ cấu - hay thay đổi cơ cấu” (như ở ví dụ 5:

“Vẽ biểu đồ thích hợp nhất thể hiện sự thay đổi cơ cấu giá trị xuất, nhập khẩu hàng

hóa của nước ta giai đoạn 2007 – 2013 ?”.

* Căn cứ vào bảng số liệu thống kê:

Bảng số liệu có các thành phần trong một tổng thể thuộc đối tượng địa línhất định, có mốc thời gian dài (ít nhất là 03 mốc năm), tương đối liên tục (như

ở hai ví dụ 4 và 5)

(Lưu ý: Nếu bảng số liệu ít hơn 03 mốc năm thì vẽ biểu đồ tròn)

b.4 Những yêu cầu phải xử lí trước khi vẽ biểu đồ

- Nếu bảng số liệu cho là số liệu tuyệt đối (số liệu thô), ta phải xử lí số liệusang số liệu tương đối - % (số liệu tinh) rồi mới vẽ (như ví dụ 5)

- Nếu bảng số liệu cho là số liệu tương đối - % (số liệu tinh), thì có thể tiếnhành vẽ biểu đồ (như ví dụ 4)

b.5 Kết luận:

Khi nhận biết được khi nào cần vẽ biểu đồ miền thì học sinh sẽ phân biệtđược một cách rõ ràng về dạng biểu đồ cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu (biểu đồtròn và miền), không còn thân vân khi xác định biểu đồ để vẽ, học sinh sẽ tự tinhơn khi phải làm các bài tập về vẽ biểu đồ miền Học sinh có thái độ học tập tíchcực, yêu thích môn học hơn

c Biểu đồ cột.

c.1 Đặc điểm biểu đồ

Thường thể hiện động thái của sự phát triển, hoặc so sánh quy mô (độ lớn) giữacác đối tượng địa lí Biểu đồ cột củng có khi thể hiện cơ cấu thành phần của một tổngthể (biểu đồ cột chồng)

c.2 Các dạng biểu đồ cột

Ngày đăng: 13/07/2020, 16:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w