1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 6 ở trường trung học cơ sở lương sơn, thường xuân

20 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 212 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua văn miêu tả, người đọc không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp bên ngoài màu sắc, hình dáng, kích thước… mà còn hiểu rõ bản chất bên trong của đối tượng… Muốn miêu tả được phải quan sát, tổ

Trang 1

MỤC LỤC

2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 3 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3- 4 2.3 Các giải pháp thực hiện để giải quyết vấn đề 4 - 16

Danh mục các đề tài SKKN đã được hội đồng đánh

giá xếp loại cấp Phòng GD&ĐT, cấp Sở GD&ĐT. 19

Trang 2

1 Mở đầu.

1.1 Lí do chọn đề tài.

Như chúng ta đều biết: Đoạn văn là một đơn vị cấu thành văn bản Văn bản là một chỉnh thể thống nhất, thường bao gồm nhiều đoạn văn Các đoạn văn trong một văn bản vừa cần được tách ra một cách rõ rệt, vừa cần có sự liên kết chặt chẽ với nhau Bên trong mỗi đoạn văn cũng cần có sự liên kết của các câu Hơn nữa, các câu bên trong một đoạn văn cần có quan hệ với nhau, tạo nên những kiểu kết cấu của đoạn văn Trong việc cấu tạo một văn bản thì việc tạo dựng một đoạn văn là khâu có vị trí quan trọng đáng kể Thế nhưng, qua thực tế giảng dạy ở trường THCS Lương Sơn, Thường Xuân, tôi thấy các em còn thiếu

kỹ năng dựng đoạn, liên kết đoạn Một bài văn hay được cấu thành bởi nhiều đoạn văn Vì vậy để có được bài văn hay, chất lượng thì việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn là cần thiết

Trong chương trình Ngữ văn lớp 6 - Tập II, Văn miêu tả là một kiểu bài quan trọng, có số lượng lớn trong phân phối chương trình về phân môn Tập làm văn Với quan điểm tích hợp trong chuyên đề cải cách giáo dục đại trà năm học

2002 - 2003, kiểu bài văn miêu tả không phải là mới đối với học sinh lớp 6 mà

ở đây nó phát huy có kế thừa và nâng cao hơn so với bậc Tiểu học Tuy nhiên, qua nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy khi viết văn miêu tả các em còn lẫn lộn, chưa phân biệt được văn miêu tả với các thể loại văn khác như tự sự Hoặc có nhiều em làm đúng kiểu bài văn miêu tả nhưng trình bày cả một bài văn chỉ có một đoạn hoặc bài làm có nhiều đoạn nhưng lại không rõ ý, các em chấm xuống dòng một cách tuỳ tiện Một số em thì chia bài làm thành ba phần: Mở bài, thân bài, kết bài nhưng ứng với ba phần là ba đoạn Mở bài và kết bài ngắn, thân bài thì dài Dù nội dung bài văn nghèo nàn hay phong phú, dù dung lượng bài văn ngắn hay dài, dù đối tượng miêu tả ít hay nhiều, phần Thân bài cũng chỉ có một đoạn Đây là hạn chế đáng tiếc mà tôi thường bắt gặp trong bài làm của học sinh Chính vì vậy điểm ở những bài kiểm tra không cao nên học sinh cũng chưa

có hứng thú với bộ môn Ngữ văn Đó cũng là điều trăn trở của giáo viên dạy văn nói chung và bản thân tôi nói riêng Bởi thế trong tôi luôn đặt ra mục tiêu trong quá trình giảng dạy của mình là phải tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng dạy

và học kiểu bài văn miêu tả để tạo hứng thú cho học sinh, giúp học sinh yêu thích môn Ngữ văn hơn

Từ những lý do nêu trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số giải pháp rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 6, Trường THCS Lương Sơn, Thường Xuân”, để nghiên cứu và đề xuất các giải pháp rèn luyện

kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 6 được tốt hơn

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Việc rèn kĩ năng viết đoạn văn rất thiết thực cho việc nâng cao chất lượng làm văn miêu tả, là một phần kiến thức rất quan trọng trong chương trình ngữ văn lớp 6, thuộc phân môn Tập làm văn Tiếp đến là hình thành cho các em học sinh có kĩ năng tạo đoạn văn khi làm văn Từ đó, các em có được những bài văn hay, hấp dẫn để từng bước xây dựng và phát triển sự yêu thích với môn Ngữ văn

Trang 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Đề tài nghiên cứu về việc rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 6

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

Khi nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết; Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin; Phương pháp thống kê, xử lý số liệu

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Miêu tả là một phương thức biểu đạt khá thông dụng được sử dụng nhiều trong giao tiếp bằng ngôn ngữ của con người kể cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Văn miêu tả là loại văn nhằm giúp người đọc hình dung ra được những đặc điểm, tính chất nổi bật của một số sự việc, sự vật, con người, phong cảnh… nhằm làm cho những cái đó như hiện lên trước mắt người đọc Qua văn miêu tả, người đọc không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp bên ngoài (màu sắc, hình dáng, kích thước…) mà còn hiểu rõ bản chất bên trong của đối tượng… Muốn miêu tả được phải quan sát, tổ chức sắp xếp các chi tiết theo logíc, lựa chọn từ ngữ, cách đặt câu, dựng đoạn một cách có nghệ thuật cốt để làm nổi bật cái thần, cái hồn của đối tượng miêu tả

Đoạn văn là đơn vị trực tiếp để cấu tạo nên bài văn hoàn chỉnh Để cấu tạo nên đoạn văn lại cần các đơn vị nhỏ hơn đó là câu, nhỏ hơn câu là từ Vậy,

để học sinh có thể tạo lập được đoạn văn, người giáo viên cũng cần hình thành cho các em các kĩ năng dùng từ, đặt câu Rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 6 bao gồm cả những vấn đề đó

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Một bài văn miêu tả bao gồm nhiều đoạn, mỗi đoạn triển khai một ý Biết dựng đoạn, bài văn sẽ mạch lạc và các ý sẽ không trùng lặp Đoạn văn gồm nhiều câu liên kết chặt chẽ với nhau nhằm tả một nét tổng quát về cảnh, vật, người… Mỗi đoạn văn nêu lên một ý nhất định Song, qua thực tế giảng dạy tại trường THCS Lương Sơn, tôi thấy học sinh viết đoạn văn miêu tả không đúng với phương thức biểu đạt, bởi vì các em chưa biết dùng từ gợi tả mà thường sử dụng từ ngữ của kiểu văn kể lể sự việc, sự vật Các em viết đoạn văn miêu tả còn lúng túng, một số em viết được đoạn văn nhưng chưa hay, từ ngữ chưa được chọn lọc, câu văn còn lủng củng, rườm rà, tối nghĩa, sai ngữ pháp, thiếu mạch lạc

Qua việc điều tra, tôi thấy các em thường mắc phải một số lỗi trong việc trình bày một bài văn miêu tả đó là:

-Trình bày cả một bài văn chỉ có một đoạn hoặc bài làm có nhiều đoạn nhưng lại không rõ ý, các em chấm xuống dòng một cách tuỳ tiện

- Một số em thì chia bài làm thành ba phần: Mở bài, thân bài, kết bài nhưng ứng với ba phần là ba đoạn Mở bài và kết bài ngắn, thân bài thì dài Dù nội dung bài văn nghèo nàn hay phong phú, dù dung lượng bài văn ngắn hay dài, dù đối tượng miêu tả ít hay nhiều, phần thân bài cũng chỉ có một đoạn

Trang 4

- Chưa biết sử dụng các biện pháp tu từ (nhân hoá, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng…)

- Chưa biết đặt câu, dựng đoạn

- Chưa biết diễn đạt ý văn

Trên cơ sở đó tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 6, Trường THCS Lương Sơn, Thường Xuân”, giúp cho các em khắc phục những lỗi nêu trên.

Trước khi tiến hành thực hiện đề tài, tôi đã tiến hành kiểm tra, khảo sát học sinh lớp 6A, 6B trường THCS Lương Sơn năm học 2017 - 2018, k t quết quả ả thu được như sau:c nh sau:ư

Trung

2.3 Các giải pháp thực hiện để giải quyết vấn đề.

2.3 1 Giáo viên hướng dẫn học sinh củng cố, mở rộng, nâng cao kiến thức lý thuyết về văn miêu tả:

2.3.1.1 Khái niệm văn miêu tả:

Văn miêu tả là loại văn bản nhằm giúp người đọc, người nghe hình dung những đặc điểm, tính chất nổi bật của một sự vật, sự việc, con người, phong cảnh,…làm cho những cái đó như hiện lên trước mắt người đọc, người nghe Trong văn miêu tả, năng lực quan sát của người viết, người nói thường bộc lộ rõ nhất

Trong chương trình Ngữ văn lớp 6, có hai kiểu miêu tả chính: tả cảnh và tả

người Tả cảnh gồm cảnh thiên nhiên và cảnh sinh hoạt Tả người gồm tả chân dung và tả người đang hoạt động

2.3.1.2 Giáo viên hướng dẫn học sinh phân biệt kiểu bài miêu tả và

ki u b i t s :ểu bài tự sự: à ự sự: ự sự:

- Văn miêu tả là loại văn nhằm giúp người

đọc, người nghe hình dung được những đặc

điểm, tính chất nổi bật của một sự vật, con

người, phong cảnh,… làm cho những cái đó

hiện lên trước mắt người đọc, người nghe

Trong văn miêu tả, năng lực quan sát của

người viết, người nói thường bộc lộ rõ nhất

- Văn Tự sự (kể chuyện) là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa

2.3.1.3 Giáo viên giúp học sinh rèn luyện các kĩ năng quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả.

+ Kĩ năng quan sát, ghi chép:

Trang 5

Đối tượng của văn miêu tả là những sự vật, sự việc, là thế giới thiên nhiên, là cuộc sống con người và có thể nói đó là cuộc sống hết sức đa đạng, phức tạp, sống động Chúng ta không thể ngồi một chỗ để tưởng tượng ra cuộc sống đó mà phải quan sát để ghi nhận, để khám phá, để hiểu về thế giới quanh mình, từ đó mới có thể viết được Nhưng trong thực tế, các em hay bỏ qua kĩ năng này Đa số đối tượng miêu tả trong các bài văn mà giáo viên yêu cầu các

em viết thường là những hình ảnh quen thuộc, gần gũi trong cuộc sống : hình ảnh cô giáo, hình ảnh một học sinh, không khí giờ ra chơi, con đường tới trường, buổi bình minh, cánh đồng lúa chín,… Tuy vậy, các em học sinh vẫn tỏ ra lúng túng khi làm bài Và kết quả cho ra đời những bài văn nghèo nàn về nội dung ý nghĩa, thiếu sức thuyết phục, thiếu tính chân thực, thậm chí hết sức vô lí Chẳng hạn như câu tả “Đêm cuối tháng, cả bầu trời vằng vặc ánh trăng, chi chít muôn ngàn vì sao lấp lánh” (“Đêm cuối tháng” thì làm gì có trăng! Mà những hôm

“trăng sáng vằng vặc” thì lấy đâu ra “muôn ngàn vì sao chi chít”!) Hoặc có em lại tả “Con lợn sề có bốn cái chân như bốn cái ống điếu” (Với bốn cái chân ấy thì làm sao có thể trụ vững cho toàn bộ cơ thể to lớn của con lợn sề?) Nguyên nhân là do các em ít quan sát, không có thói quen để ý các sự vật, sự việc, hiện tượng quanh mình Nói đúng hơn là có nhìn mà không thấy, có nghe mà không cảm nhận Muốn khắc phục tình trạng này, giáo viên cần rèn cho các em học sinh phải tập thói quen quan sát hằng ngày Quan sát và tự đặt ra những câu hỏi

để giải đáp, nhằm tìm hiểu và khắc sâu vào trí nhớ những hình ảnh về cuộc sống xung quanh Hãy xem hai bên đường ta đi học có những gì? Cây cối, cảnh vật ra sao ? Cảnh về mùa đông khác với cảnh về mùa hè, cảnh buổi sáng khác với cảnh buổi chiều ở chỗ nào ? Hay hãy quan sát em bé tập đi mà xem: Nó độ bao nhiêu tháng tuổi? Gương mặt và hình dáng như thế nào? Từng động tác tập đi ra sao? Tất cả những điều các em quan sát và ghi nhận được cần phải chép lại vào một cuốn sổ tay Không cần chép dài dòng, chỉ điểm qua những nét chính, ngắn gọn Sẽ rất thành công nếu khi quan sát các em có được những phát hiện bất ngờ Những phát hiện này sẽ là điều kiện giúp cho bài làm của các em thêm sáng tạo và độc đáo

Kĩ năng quan sát, ghi chép có thể được sơ đồ hoá về quy trình như sau: Tiếp xúc với đối tượng  Định mục đích  Chọn vị trí  Huy động giác quan và trí tuệ quan sát bao quát  Tập trung vào trọng điểm  Lựa chọn

và ghi chép tư liệu

+ Kỹ năng tưởng tượng, so sánh:

Có thể khẳng định rằng nếu không có kĩ năng tưởng tượng thì bài văn miêu tả chắc chắn sẽ không thể hay được, dù là văn tả thực Làm nghệ thuật nói chung và viết văn miêu tả nói riêng không thể chấp nhận kiểu sao chép hiện thực cuộc sống một cách máy móc, khô cứng Nếu chỉ quan sát và ghi chép vào bài làm đúng y nguyên những điều đã quan sát thì bức tranh được miêu tả trong bài văn sẽ quá trần trụi, thiếu sức hấp dẫn Vì vậy, giáo viên cần cho học sinh hiểu được vai trò của trí tưởng tượng trong văn miêu tả là rất lớn Nó không chỉ là yếu tố tạo nên sự phong phú cho các hình ảnh trong bức tranh miêu tả mà còn

Trang 6

giúp cho người làm văn miêu tả tìm được những từ ngữ và các biện pháp nghệ thuật (so sánh, nhân hóa,…) phù hợp để bài văn miêu tả hấp dẫn hơn

So sánh là hệ quả của quá trình liên tưởng, tưởng tượng Khi quan sát một đối tượng nào đó, hình ảnh của đối tượng ấy (từ màu sắc tới hình dáng, từ kích thước tới trạng thái) thường gợi cho người quan sát nghĩ tới những hình ảnh khác có cùng một nét tương đồng nào đấy Chính sự liên tưởng, so sánh này làm cho trang văn miêu tả hay hơn, và đối tượng miêu tả hiện lên rõ hơn, đẹp hơn, hấp dẫn hơn

Nếu xét về đối tượng, hiện tượng so sánh trong văn miêu tả hết sức đa dạng và phong phú:

Có thể so sánh người với người: Ví dụ: "Với gương mặt phúc hậu và mái tóc bạc trắng, trông bà hệt như một bà tiên trong truyện cổ tích"; " Nhìn nó chăm chỉ làm việc giúp bà, ai cũng tấm tắc: Hệt như cô Tấm trong truyện cổ tích xưa"

Có thể so sánh người với các con vật (hình dáng, tính cách): "Lão ta quá ranh mãnh, xảo quyệt, y như một con cáo già"; "Trông anh ta như một con gấu"; "Cậu ấy nhanh như một con sóc"

Có thể so sánh người với cây cối: "Chấm cứ như một cây xương rồng" (Đào Vũ - Cái sân gạch); "Cô bé cứ như một cây lúa non, lặng lẽ lớn lên từ bùn đất"

Có thể so sánh người với các hiện tượng tự nhiên: "Giọng lão ta lúc nào cũng gầm vang như sấm"; "Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào"

Có thể so sánh vật với vật, cảnh với cảnh: "Cây gạo như treo rung rinh hàng ngàn nồi cơm gạo mới" (Vũ Tú Nam); "Vầng trăng non giữa bầu trời đầy sao hệt như một cái liềm vàng ai bỏ quên giữa cánh đồng lúa chín" (theo Vích-to Huy-gô); Măng chồi lên nhọn hoắt như một mũi gai khổng lồ xuyên qua đất luỹ mà trỗi dậy" (Ngô Văn Phú);

Có thể so sánh vật với con người: "Cây bàng già sừng sững, uy nghi như một người lính gác canh giữ cho khu vườn được bình yên"; "Cây bưởi như một người mẹ đang cần mẫn cõng trên mình lũ con đầu tròn trọc lóc" (Đoàn Giỏi);…

Nếu xét về cách thức so sánh thì có những hiện tượng so sánh sau:

So sánh theo hướng thu nhỏ lại : "Trái đất như một giọt nước màu xanh lơ lửng giữa không trung"; "Xa xa, những cánh buồm nâu như những cánh bướm dập dờn trên mặt biển"; …

So sánh theo hướng phóng đại lên: "Rệp bò lổm ngổm như xe cóc – Muỗi lượn nghênh ngang tựa máy bay" (Hồ Chí Minh) ; "Chiếc lá tre được thả xuống dòng nước, trong tranh, xoay xoay, rổi trôi đi như một con thuyền, chở theo ước

mơ của chúng tôi";

So sánh theo hướng cụ thể hoá: "Từ sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi" (truyền thuyết Thánh Gióng); "Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết Tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn"

Trang 7

(Nguyễn Tuân);

So sánh theo hướng trừu tượng hoá: "Nước biển chiều nay xanh như một trang sử của loài người, lúc con người phải viết vào thân tre" (Nguyễn Tuân);

Tuy nhiên, khi sử dụng kĩ năng so sánh, cần lưu ý là phải biết sáng tạo, biết tìm điểm mới, điểm riêng Không nên lặp đi lặp lại những hình ảnh so sánh

đã quá cũ, quá sáo mòn

+ Kỹ năng nhận xét:

Đối tượng miêu tả sẽ xuất hiện và đi vào bài văn tuỳ vào thái độ và tình cảm, tâm trạng cũng như tình huống tiếp xúc của người viết Đó chính là dấu ấn chủ quan của người viết trong văn miêu tả Có như thế, những trang viết mới là của riêng mình, không lẫn với ai Muốn làm được điều đó, đòi hỏi người viết phải bộc lộ trong bài viết của mình những lời nhận xét những suy nghĩ, những cảm nhận riêng về đối tượng Vấn đề là phải dùng cách nhận xét như thế nào để tạo sự hấp dẫn cho bài văn miêu tả?

Giáo viên hướng dẫn học sinh có thể nhận xét trực tiếp bằng những lời bình, những câu cảm thán, những hình ảnh so sánh hoặc có thể bộc lộ một cách kín đáo qua việc lựa chọn hình ảnh miêu tả Ví dụ: “Cái chàng Dế Choắt, người gầy gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện thuốc phiện.” (Tô Hoài); “Những bông hoa rơi từ trên cao, đài hoa nặng chúi xuống, những cánh hoa đỏ rực quay tít như chong chóng, nom thật đẹp.” (Vũ Tú Nam);…

Như vậy, để viết được bài văn miêu tả, ta không thể không quan sát Quan sát để phát hiện ra những nét mới mẻ, độc đáo, phát hiện ra cái riêng của đối tượng Nhưng nếu chỉ quan sát không thôi thì chưa đủ Để có thể giúp người đọc, người nghe hình dung ra được, nhận ra được con người ấy, cảnh vật ấy… người viết cần biết tưởng tượng, so sánh và nhận xét Chính sự tưởng tượng, so sánh, nhận xét vừa giúp người đọc, người nghe hình dung được đối tượng miêu

tả một cách cụ thể, rõ ràng, vừa làm cho lời văn thêm sinh động, giàu hình ảnh

Để học sinh thấy rõ hơn vai trò, tác dụng của quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả, giáo viên cho học sinh so sánh hai đoạn văn miêu tả sau :

Đoạn văn 1: "Trên bãi cỏ sau làng, đàn bò đang gặm cỏ Con nào con nấy

hùng hục ăn một cách ngon lành, không còn để ý gì đến xung quanh Tiếng gầm

cỏ nghe rào rào Nhìn cảnh tượng ấy thật thú vị" (Bài làm của học sinh)

Đoạn văn 2: "Con Nâu đứng lại Cả đàn dừng theo Tiếng gặm cỏ bắt đầu

trào lên như một nong tằm ăn rỗi khổng lồ Con Ba Bớp vẫn phàm ăn tục uống nhất, cứ thúc mãi mõm xuống, ủi cả đất lên mà gặm Bọt mép nó trào ra, nom đến ngon lành Con Hoa ở gần đó cũng hùng hục ăn không kém Mẹ con chị Vàng ăn riêng một chỗ cùng con Cún Cu Tũn dở hơi chốc chốc lại chạy tới ăn tranh cỏ của mẹ Chị Vàng lại dịu dàng nhường cho nó và đi kiếm một búi khác" (Hồ Phương - Có non)

Ở đoạn văn thứ nhất, bạn học sinh chỉ dùng những câu văn tả thực hoàn

Trang 8

toàn giới thiệu cảnh đàn bò gặm cỏ Vì thế ý không thể phong phú, và đoạn văn cũng không có sức gợi tả, gợi cảm Nhưng ở đoạn thứ hai, tác giả Hồ Phương đã kết hợp một cách tài tình giữa hình ảnh tả thực và những hình ảnh sáng tạo nhờ trí tưởng tượng Chính trí tưởng tượng phong phú đã giúp cho tác giả khi nghe tiếng đàn bò gặm cỏ đã liên tưởng tới âm thanh “của một nong tằm ăn rỗi khổng lồ" Và cũng nhờ trí tưởng tượng mà tác giả đã phát hiện ra được tính cách của từng con bò qua cách gặm cỏ của chúng : Con Ba Bớp thì "ngổ ngáo", "phàm ăn tục uống"; con Hoa vốn "tiểu thư yếu điệu" nhưng cũng không cưỡng lại được sức hấp dẫn của bãi cỏ non, "hùng hục ăn không kém"; cu Tũn như một chú bé con dở hơi, tinh nghịch, nũng nịu; chị Vàng đúng là một người mẹ dịu dàng, quen nhường nhịn, Nghệ thuật so sánh kết hợp với nhân hoá đã làm cho hình ảnh đàn bò gặm cỏ hiện lên thật sống động dưới ngòi bút miêu tả sáng tạo của nhà văn Hồ Phương

2.3.2 Cách viết đoạn văn miêu tả.

2.3.2.1 Cách dùng từ ngữ, hình ảnh:

Việc lựa chọn từ ngữ trong văn miêu tả là yêu cầu quan trọng, đòi hỏi phải được đặt ra một cách nghiêm túc Muốn làm tốt yêu cầu này thì học sinh cần phải có một vốn từ phong phú bằng cách tích luỹ thường xuyên và dưới nhiều hình thức: thông qua các giờ học Văn - Tiếng Việt trong nhà trường; thông qua giao tiếp hằng ngày, thông qua quá trình đọc sách, đọc tài liệu tham khảo có liên quan tới văn miêu tả Tất nhiên, có vốn từ phong phú chưa hẳn đã

là thành công mà điều quan trọng là học sinh khi viết bài phải có sự lựa chọn tinh tường, sao cho giữa một hệ thống các từ đồng nghĩa, gần nghĩa, có thể lấy

ra được một vài từ phù hợp nhất, chính xác nhất Điều cần lưu ý là phải luôn có thói quen tìm từ gợi hình, biểu cảm và phải chọn từ ngữ phù hợp với đối tượng, với văn cảnh Muốn làm nổi bật hình ảnh của đối tượng thì chú ý nhiều tới hệ thống từ tượng hình (tả màu sắc, hình dáng, trạng thái, ); muốn làm nổi bật không khí của cảnh thì dùng hệ thống của từ tượng thanh (mô phỏng các tiếng động) Bài văn miêu tả thiếu đi các từ ngữ có sức tạo hình, gợi cảm thì chắc chắn sẽ không thể hay Nhưng cũng cần ý thức được rằng nếu dùng từ ngữ, hình ảnh tuỳ tiện hoặc khuôn sáo, bắt chước một cách lộ liễu thì cách miêu tả cũng không có sức thuyết phục

Ví như tả cảnh sóng biển có nhiều từ ngữ gợi hình, gợi thanh: cuồn cuộn, nhấp nhô, lăn tăn, rì rầm, rì rào, lô nhô, ì oạp, Nhưng không phải tả sóng lúc

nào cũng dùng được tất cả các từ ấy Tả sóng biển lúc trời động thì phải dung từ

cuồn cuộn ; tả tiếng sóng biển vỗ vào bờ đá thì phải dùng từ ì oạp; tả tiếng sóng biển vọng lại trong đêm mà nghe xa thì phải dùng từ rì rầm; …

Trang 9

Tả cây cối cũng có nhiều từ ngữ chỉ màu xanh khác nhau: xanh um, xanh

rì, xanh non, xanh mơn mởn, xanh tươi, xanh tốt, xanh rờn, Nhưng khi đi vào

thực tế, mỗi loại cây sẽ có một màu xanh riêng, không thể lẫn lộn : cây rau cải

trong vườn hay cây lúa đang thì con gái thì phải là xanh mơn mởn, xanh rờn; cây cối trong rừng rậm rạp thì phải là xanh rì, xanh tốt, xanh um,

Ngay cả âm thanh tiếng mưa rào cũng có sự phân biệt rất rõ mưa giáo đầu

thì lẹt đẹt ; mưa trên mái tôn thì rào rào , mưa đập vào phên nứa đồm độp; mưa đập vào tàu lá chuối thì lùng bùng; mưa từ mái giọt tranh đổ xuống sân thì ồ ồ;

Còn từ ngữ tả dáng đi của con người cũng vô cùng phong phú, đa dạng:

em bé tập đi thì lẫm chẫm; cậu bé tinh nghịch thì có dáng đi nhún nhảy, vừa đi vừa nhảy chân sáo; cụ già thì lom khom; người đang đau chân thì đi khập khà khập khiễng; các cô gái trẻ thì yểu điệu thướt tha, người có tâm trạng thoải mái

đi thong thả, người vất vả thì dáng đi hấp tấp, lật đật, sấp ngửa,

Bên cạnh việc lựa chọn từ ngữ, vấn đề tạo hình ảnh trong văn miêu tả cũng không kém phần quan trọng Có thể thấy rõ câu văn miêu tả giàu hình ảnh bao nhiêu thì sức gợi cảm của nó sẽ lớn bấy nhiêu Việc tạo hình ảnh cho câu văn miêu tả có thể thực hiện bằng nhiều cách : hoặc là bằng từ ngữ tượng hình, tượng thanh ("gấu bố, gấu mẹ, gấu con cùng béo rung rinh, bước đi lặc lè, lặc lè); hoặc bằng nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, nhân hoá ("Lá mía sắc như lưỡi gươm, xanh đậm”; "Lũ trẻ đứa nào đứa nấy da cứ đen bóng như bôi nhọ mỡ”; “Dòng song thay chiếc áo màu xanh hằng ngày bằng dải lụa đào" ; )

Tuy nhiên, khi sử dụng các biện pháp nghệ thuật trên trong bài văn miêu

tả, giáo viên cần lưu ý cho học sinh những nghệ thuật ấy chỉ thực sự có tác dụng nếu được dùng đúng lúc, đúng chỗ, hợp văn cảnh Ngược lại, nếu dùng những biện pháp nghệ thuật ấy một cách máy móc, sáo mòn thì nó làm giảm giá trị của bài văn miêu tả rất nhiều Mặt khác, cũng như khi ta ăn tiệc, món ăn dù ngon đến mấy nhưng ăn quá nhiều thì sẽ chán; trong văn miêu tả, nếu quá lạm dụng cách nói so sánh, nhân hoá mà ít tả thực thì chắc chắn cảm giác thích thú ban đầu của người đọc sẽ giảm dần, thậm chí dẫn tới sự khó chịu, nhất là khi gặp những hình ảnh so sánh, nhân hoá nhạt nhẽo, vô vị

Để thấy rõ tầm quan trọng của việc dùng từ ngữ, hình ảnh trong văn miêu

tả, giáo viên hướng dẫn học sinh so sánh hai đoạn văn có cùng nội dung miêu tả cây cối trong vườn như sau:

Đoạn 1: "Vườn cây đang vào mùa quả chín trông thật thích mắt Đây là

cây dừa to lớn đứng uy nghi toả bóng rợp nửa khoảng vườn, từng chùm quả bao

Trang 10

quanh ngọn, nặng trĩu Giữa vườn là những cây roi hồng Năm nay roi cũng được mùa, quả nhiều, có những cành không còn trông thấy lá đâu Cuối góc vườn là cây bưởi Đây là giống bưởi mới, thân không cao, tán lá xoè rộng ra, quả to và múi dày Ngắm vườn cây mùa này, lòng người tự nhiên thấy thư thái hơn".

Đoạn 2: "Vườn cây đang vào mùa quả chín trông thật thích mắt Rợp bóng

che nửa khoảng vườn là một cây dừa to lớn, đứng uy nghi Những buồng dừa trông như những chùm bóng bay màu xanh lúc lỉu bám quanh ngọn, nặng trĩu Quả nào quả nấy mơn mởn và lớn nhanh như thổi Còn giữa vườn là những cây roi hồng Năm nay roi cũng được mùa, quả sai trĩu trịt Có những cành roi chín

đỏ mọng, uốn cong, chỉ thấy quả chi chít mà không trông thấy lá đâu nữa Nắng gắt Rồi một trận mưa rào đổ xuống Những trái roi căng da, mọng nước, trông càng hấp dẫn thêm Ở cuối góc vườn là cây bưởi đứng nép mình, lặng lẽ, cõng trên lưng lũ quả tròn trọc lóc Đây là giống bưởi mới, thân không cao, tán lá xoè rộng Nhưng được cái quả to và múi dày nên được nhiều người chuộng Ngắm vườn cây mùa quả chín, không hiểu sao lòng người tự nhiên thấy thanh thản và thư thái hơn".

Cùng một nội dung miêu tả nhưng cách diễn đạt ở hai đoạn văn hoàn toàn khác nhau Ở đoạn một mới chỉ dừng lại nội dung thông báo, giới thiệu đặc điểm của từng loại cây, không hề chú trọng việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh nên đoạn văn không hay, không có sức hấp dẫn Nhưng ở đoạn thứ hai, nội dung thông

báo đã được lồng trong những câu văn giàu hình ảnh với các từ láy (lúc lỉu, mơn mởn, trĩu trịt, chi chít, lặng lẽ, trọc lóc) và với cách nói so sánh, nhân hoá (những buông dừa trông như những chùm bóng bay màu xanh, cây bưởi cõng trên lưng lũ quả tròn trọc lóc, ) Do đó, hình ảnh cây cối trong vườn hiện lên

cụ thể hơn, đem lại thành công cho đoạn văn miêu tả

2.3.2.2 Cách đặt câu, dựng đoạn văn miêu tả.

Cũng như văn tự sự, cách đặt câu trong văn miêu tả đòi hỏi người viết phải linh hoạt và công phu Có thể là câu dài với đầy đủ các thành phần chính phụ, có nhiều tầng ý nối tiếp nhau Cũng có thể là những câu ngắn (câu đặc biệt hoặc câu tỉnh lược) Vấn đề đặt ra ở đây là phải biết chọn kiểu câu phù hợp với hoàn cảnh, với tình huống, nội dung miêu tả, và cả với cảm xúc của người miêu

tả nữa

Giáo viên hướng dẫn học sinh một số trường hợp lựa chọn kiểu câu thường gặp:

Kiểu câu dài, nhiều tầng ý, nhiều vế nối nhau thường phù hợp với việc miêu tả khung cảnh thiên nhiên êm đềm, yên ả, hoặc những hoạt động diễn ra nhẹ nhàng, liên tiếp nối nhau; hoặc khi cảm xúc của con người đang dâng tràn, tuôn chảy,

Kiểu câu ngắn (câu đặc biệt, câu tỉnh lược) với các dấu câu (dấu chấm

Ngày đăng: 13/07/2020, 16:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w