1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ đọc – hiểu văn bản ngữ văn cho học sinh lớp 12 từ hoạt động củng cố, dặn dò

19 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 309,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy chỉ chiếm một thời lượng ít ỏi thông thường là từ 5 phút đến 7 phút, hoặc có thể nhiều hơn tuỳ theo nội dung, tính chất, đặc điểm mỗi bài học, nhưng hoạt động này giúp cho học sinh c

Trang 1

1 Mở đầu 1.1 Lí do chọn đề tài.

Nhà văn M.Gorki đã cho rằng: “Văn học là nhân học” Học văn chính là

học cách làm người Cùng với những bộ môn khác, môn văn đã góp phần cung cấp tri thức toàn diện, trang bị những kiến thức cơ bản cho học sinh Nhưng cũng phải thấy rằng vị trí của bộ môn văn, một môn học chứa đựng những nội dung phong phú đa dạng về văn hoá và sự sống sinh động, tinh thần, tư tưởng tâm hồn của dân tộc đã dành được vị trí xứng đáng trong nhà trường phổ thông Chính những hình tượng nghệ thuật độc đáo kết tinh thế giới tâm hồn tư tưởng của người nghệ sĩ, nơi chứa đựng những bài học về lẽ sống, về nhân sinh, hướng tới Chân - Thiện - Mỹ đã có tác dụng sâu sắc và lâu bền đến đời sống tâm hồn

và trí tuệ bạn đọc, khơi nguồn sáng tạo và làm phong phú tâm hồn con người

Thế nhưng, phải thẳng thắn thừa nhận rằng hiện nay hứng thú học văn ở học sinh đã giảm sút đáng kể Học sinh thờ ơ với bộ môn, quá trình học không phải là quá trình tìm tòi khám phá mà miễn cưỡng bắt buộc Từ tư tưởng ấy dẫn đến kết quả không chỉ cảm thụ sai tác phẩm mà năng lực rung cảm của học sinh cũng bị xói mòn Đây là vấn đề khiến chúng ta phải lưu tâm

Trong hoạt động dạy và học theo định hướng phát triển năng lực học sinh,

mô hình tổ chức lớp học chủ động, tiến trình bài giảng chia thành nhiều bước Trong đó, hoạt động “củng cố - dặn dò” là thao tác cuối cùng sau khi tìm hiểu xong toàn bộ giá trị của tác phẩm, trước khi kết thúc giờ học Mỗi một phần việc đều có phương pháp riêng thích hợp Tuy chỉ chiếm một thời lượng ít ỏi (thông thường là từ 5 phút đến 7 phút, hoặc có thể nhiều hơn tuỳ theo nội dung, tính chất, đặc điểm mỗi bài học), nhưng hoạt động này giúp cho học sinh có thể hệ thống hoá kiến thức, định hướng lại trọng tâm bài học, và xác định những nội dung cơ bản cần ghi nhớ

Đối với giờ Đọc - hiểu văn bản Ngữ văn, theo tôi, phần việc này lại càng quan trọng Tác phẩm văn học trong nhà trường thường là những tác phẩm văn học đã được cân nhắc, chọn lựa rất kĩ, có giá trị lớn về cả nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật Vì vậy, để khám phá hết những cái hay, cái đẹp của một văn bản không phải là một điều dễ dàng, đặt ra nhiều thử thách với giáo viên: làm thế nào trong một, hai tiết học để có thể hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh hết được những giá trị của tác phẩm Thời gian của tiết học, bài học có hạn nên đòi hỏi người giáo viên cần xác định được trọng tâm bài dạy, thiết kế giáo án phù hợp với đối tượng Đặc biệt, cần biết tận dụng hoạt động “củng cố - dặn dò” sao cho hiệu quả bởi trước một “rừng kiến thức” đã đề cập khi phân tích, tìm hiểu văn bản, người giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh chốt lại những kiến thức trọng tâm nhất; để tránh học sinh rơi vào tình trạng hoang mang, với một tâm lí phổ biến là

“môn văn mênh mông quá, không biết đường nào mà đi”

Trong thực tế, qua việc dự giờ thăm lớp cũng như tìm hiểu, tôi thấy hoạt động này chưa được nhiều giáo viên chú ý coi trọng Dường như đâu đó vẫn có tâm lí coi nhẹ, nếu có thì cũng chiếu lệ, qua loa cho có, thiên về “dặn dò” nhiều

Trang 2

hơn là “củng cố” Thực ra, cũng có khá nhiều nguyên nhân dẫn đế thực trạng này như: thời lượng phân phối chương trình cho mỗi bài thì có hạn mà nội dung thì nhiều nên môn văn hay rơi vào tình trạng thiếu giờ, “cháy giáo án” Do đó, ít khi dành thời gian cho hoạt động “củng cố, dặn dò” bài

Trước thực trạng như vậy, tôi mong muốn trình bày một vài suy nghĩ, giải pháp của bản thân về việc sử dụng hoạt động “củng cố - dặn dò” sao cho hiệu quả hơn để nâng cao hiệu quả giờ đọc hiểu văn bản ngữ văn Đó là lí do tôi chọn

đề tài : “Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ đọc – hiểu văn bản Ngữ văn cho học sinh lớp 12 từ hoạt động củng cố, dặn dò”.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Như tên đề tài "Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ đọc - hiểu văn bản Ngữ văn cho học sinh lớp 12 từ hoạt động củng cố, dặn dò", tôi mong muốn

nêu ra những hoạt động của thầy và trò trong phần việc cuối cùng của tiến trình giờ học; đồng thời cũng trình bày những tác động tích cực, kết quả của những hoạt động ấy như một gợi ý nhằm:

- Thấy được vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động cuối cùng của giờ dạy: củng cố - dặn dò, một hoạt động chiếm lượng thời gian ít trong cả tiết dạy đọc – hiểu văn bản, thường bị xem nhẹ, thậm chí là bỏ qua

- Đề xuất một vài phương pháp để phần việc củng cố – dặn dò trở nên có hiệu quả và có sức hấp dẫn hơn, giúp học sinh nắm chắc và hệ thống hoá lại được kiến thức bài học đã tìm hiểu trong giờ học Đồng thời, giúp học sinh có thể chuẩn bị trước những đơn vị kiến thức của bài học hôm sau nhằm tạo tâm thế chủ động cho việc tiếp nhận, lĩnh hội văn bản văn học; giúp cho giờ học của học sinh, giờ dạy của giáo viên thêm phần sinh động

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu là hoạt động củng cố - dặn dò Trong sáng kiến kinh nghiệm này, tôi hướng đến những nội dung chính như sau:

- Giáo viên khắc sâu, khái quát, hệ thống hoá bài học để học sinh hình dung lại và nắm chắc được dàn ý bài học, nhấn mạnh lại những nội dung cơ bản, trọng tâm

- Tập trung hệ thống câu hỏi gợi mở vừa mang tính tổng kết vừa mang tính kiểm tra đánh giá năng lực nhận thức của học sinh, đồng thời phát huy vai trò chủ động tích cực từ phía những người tiếp nhận

- Đưa ra một hệ thống câu hỏi với 4 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao liên quan đến bài học hôm sau để học sinh chuẩn bị trước bài học

1.3.2 Đối tượng khảo sát, thực nghiệm:

- Năm học 2019 - 2020 tôi được phân công giảng dạy 2 lớp 12: 12A2 và

12 A7 Tổng số học sinh của 2 lớp này là 79 (12 A2: 42, 12 A7: 37)

- Tôi lấy điểm số của bài kiểm tra (bài viết số 5,6,7) của học sinh để làm căn cứ theo dõi sự tiến bộ của học sinh và sự thành công sau khi áp dụng các

phương pháp trong hoạt động "củng cố, dặn dò"

Trang 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Để đạt được những mục đích nghiên cứu của mình, tôi đã tiến hành nhiều phương pháp như sau :

- Phương pháp quan sát, điều tra

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp thực nghiệm

1.5 Phạm vi nghiên cứu:

Môn Ngữ văn có 3 phân môn: Làm văn - Tiếng Việt và Đọc - hiểu văn bản nhưng ở đây do điều kiện nghiên cứu nên tôi chủ yếu tập trung vào các tiết Đọc - hiểu văn bản trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 – tập 1, chương trình chuẩn Đặc biệt tập trung vào các văn bản thường xuất hiện trong kỳ thi tốt nghiệp THPT của Bộ giáo dục

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

2.1.1 Khái niệm hoạt động "củng cố-dặn dò".

- Theo từ điển tiếng Việt: củng cố là làm cho trở thành vững chắc thêm [5 ]

- Từ định nghĩa trên, có thể khái quát: củng cố bài học là giúp học sinh nhớ lại

để nắm vững nội dung bài học và khắc sâu kiến thức hơn Như vậy, củng cố bài học là một “kết luận” cần thiết để học sinh có định hướng nhằm ghi nhớ những kiến thức trọng tâm

- Bản thân khái niệm trên đã bao hàm mục đích của công việc củng cố bài Theo ý riêng của bản thân tôi, có thể khái quát mục đích của công việc “củng cố bài” là:

+ Thứ nhất, nhằm mục đích khắc sâu kiến thức Giáo viên có thể chủ động bằng nhiều hình thức khác nhau cung cấp thêm những thông tin, tư liệu cần thiết liên quan đến tác phẩm để học sinh có thêm những kiến thức để liên hệ, mở rộng, so sánh nhằm hiểu sâu sắc bản chất, đặc điểm của bài học

+ Thứ hai, nhằm mục đích kiểm tra đánh giá năng lực nhận biết, hiểu bài, nắm vững nội dung cơ bản của bài học Giáo viên có thể thông qua hệ thống câu hỏi để kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh Và qua chính hệ thống câu hỏi đã được chắt lọc, chọn lựa đó cũng là một định hướng giúp học sinh nhận biết được nội dung trung tâm của bài học Câu hỏi kiểm tra cần phong phú, linh hoạt, ở nhiều cấp độ để học sinh vừa thể hiện hiểu biết của mình vừa cảm thấy hấp dẫn

và hứng thú Từ đó, mới tạo được hiệu quả và sức hấp dẫn của giờ học

- Theo từ điển tiếng Việt, dặn dò là: Nói cho biết để nhớ mà làm; Dặn cẩn thận

từng li từng tí, dặn với thái độ hết sức quan tâm [5 ]

- Từ định nghĩa trên, có thể khái quát: dặn dò là giúp học sinh chuẩn bị trước một số câu hỏi, vấn đề có trong bài học mới để các em có thể vừa hoạt động tốt trong giờ học vừa nắm vững kiến thức của bài học mới Như vậy, dặn dò bài học

là một “nhắc nhở” cần thiết cho tiết học sau

- Bản thân khái niệm trên đã bao hàm mục đích của công việc dặn dò Theo ý riêng của bản thân tôi, có thể khái quát mục đích của công việc “dặn dò” là:

+ Thứ nhất, nhằm định hướng để học sinh chuẩn bị bài kĩ trước khi bắt đầu tiết học Giáo viên có thể chủ động bằng nhiều hình thức khác nhau: phát

Trang 4

phiếu học tập dặn dò các em, đặt ra những câu hỏi, những vấn đề để các em suy ngẫm, chuẩn bị trước

+ Thứ hai, nhằm mục đích kiểm tra ý thức học tập; đánh giá năng lực tự học, hợp tác của học sinh

+ Thứ ba, giúp giờ học sôi nổi, có hiệu quả, tránh việc truyền thụ một chiều, thầy đọc – trò chép

2.1.2 Ý nghĩa, tác dụng của hoạt động "củng cố, dặn dò":

- Đối với học sinh:

+ Hệ thống lại kiến thức của bài (giúp học sinh khắc sâu kiến thức)

+ Giúp học sinh nắm vững và hiểu nội dung bài

+ Mở rộng và phát triển tư duy cho học sinh

+Tạo hứng thú học tập cho học sinh- Nuôi dưỡng bầu không khí lớp học + Tạo điều kiện để học sinh phát biểu ý kiến

+ Giúp học sinh có định hướng tốt trong quá trình học tập

- Đối với giáo viên:

+ Đây là một trong các bước lên lớp để hoàn thiện giờ học

+ Giáo viên nắm được khả năng tiếp thu bài của học sinh

+ Giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp nội dung

+ Là hình thức để giáo viên đánh giá tinh thần, thái độ học tập của học sinh

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Trong mỗi tiết học, hoạt động củng cố bài học chỉ chiếm 5 - 7 phút Thế nhưng hoạt động này lại rất quan trọng Vừa giảng xong, kiến thức còn “nóng hổi”, kiểm tra lại bài giảng ta sẽ thấy rõ kết quả cả thầy lẫn trò; từ đó giáo viên

sẽ kịp thời bổ sung và củng cố thêm Chỉ cần một câu hỏi về nội dung trọng tâm hoặc để cho học sinh nêu những điểm nào còn lơ mơ, chưa hiểu…

Do yêu cầu của phần việc chủ yếu là của người giáo viên là hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức trọng tâm của người học, nên trong đề tài này chúng tôi chủ yếu đề cập đến hoạt động của giáo viên

- Đối với giáo viên:

+ Nắm vững kiến thức và phương pháp giảng dạy

+ Chuẩn bị tốt giáo án và phương tiện dạy học, đặc biệt là những phương tiện hiện đại như dùng máy chiếu, giáo án điện tử để hỗ trợ

+ Giáo viên cần phải nắm vững trình độ và tâm lí học sinh: Đối với mỗi đối tượng học sinh cần áp dụng các phương pháp củng cố bài khác nhau sao cho phù hợp để tạo hiệu quả và tăng sức hấp dẫn

+ Giáo viên phải xác định được trọng tâm của bài học

+ Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể để chọn phương pháp củng cố: Nội dung bài học, thời gian, trình độ học sinh

- Đối với học sinh:

+ Học sinh cần có sự chuẩn bị bài ở nhà tốt

+ Trong giờ học cần chú ý lắng nghe, tiếp thu bài giảng

+ Học sinh phải có tinh thần và thái độ học tập tích cực

Trang 5

2.3 Đề xuất một số giải pháp thực hiện

2.3.1 Các phương pháp củng cố

2.3.1.1 Cung cấp thêm thông tin, tư liệu để khắc sâu kiến thức

Giáo viên có thể chủ động cung cấp thêm những tư liệu liên quan đến bài học để học sinh có được những hiểu biết, cảm nhận sâu sắc hơn, nắm vững bản chất bài học Giáo viên có thể chú ý đến một vài hình thức sau:

- Cung cấp thêm những tư liệu liên quan đến tác giả, tác phẩm hoặc những lời bình về tác phẩm chẳng hạn như: Giới thiệu thêm tác phẩm có liên

quan đến cùng nội dung chủ đề của cùng tác giả: sau khi học xong bài thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng, đọc thêm cho học sinh nghe bài thơ “Lên Tây Bắc” của

Tố Hữu

- Nghe những bài thơ được ngâm hoặc xem một vài đoạn video clip về tác phẩm: [6 ]

+ Ngâm thơ bài “Sóng”

+ Xem video clip Bác Hồ đọc "Tuyên ngôn độc lập"

+ Nghe bài hát được phổ nhạc từ bài thơ “Tây Tiến”

2.3.1.2 Dùng sơ đồ, biểu bảng để tổng kết những nội dung cơ bản hoặc cấu trúc bài học

Ví dụ: Sơ đồ tư duy bài “Tuyên ngôn độc lập” [6 ]

* Sử dụng hệ thống câu hỏi để kiểm tra, đánh giá năng lực nhận thức, rung động cảm xúc và khả năng sáng tạo của học sinh:

Để xác lập hệ thống câu hỏi vừa đáp ứng được việc tổng kết củng cố kiến thức, vừa kiểm tra đánh giá được nhận thức của học sinh, vừa khơi gợi sự chủ động tích cực tham gia của học sinh vào hoạt động của giờ giảng, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số kiểu câu hỏi theo cấp độ tăng dần như sau:

- Những câu hỏi mang tính chất tái hiện lại, liệt kê lại kiến thức:

Ví dụ:

+ Sau khi học xong bài thơ “Tây Tiến”, hãy nêu nội dung cảm xúc chủ

đạo và những biện pháp nghệ thuật đặc sắc nhằm chuyển tải nội dung đó?

Trang 6

Ở những câu hỏi thuộc kiểu dạng này, giáo viên dần đưa các em vào việc khám phá nội dung đồng thời bày tỏ suy nghĩ, thái độ của cá nhân mình về một vấn đề của bài học trước tập thể lớp Điều này giúp các em dần chủ động hơn trong việc lĩnh hội và khám phá tác phẩm

2.3.1.3 Cho học sinh tìm hiểu và tranh luận về tên tác phẩm, tên đoạn trích.

Tên tác phẩm, tên đoạn trích (có thể do người biên soạn đặt) đều bao hàm chứa đựng nội dung của tác phẩm, được biểu đạt ở dạng khái quát nhất Do đó, tìm hiểu tiêu đề tác phẩm là một phương thức khá lý thú, hấp dẫn lại có hiệu quả trực tiếp

Ví dụ: Sau khi học xong bài thơ, em cảm nhận như thế nào về nhan đề

“Tây Tiến”, So với nhan đề “ Nhớ Tây Tiến" thì có gì khác?

Rõ ràng khi trả lời được câu hỏi này học sinh phải nắm chắc nội dung bài học Đồng thời với việc đưa ra câu hỏi tình huống (nếu ), học sinh sẽ hết sức phấn khởi khi được tham gia vào việc tạo dựng tác phẩm (dù chỉ dừng lại tên gọi của nó) Với những câu hỏi này giáo viên nên hết sức chú trọng đến ý kiến cá nhân học sinh để có thể bổ sung hoặc điều chỉnh hợp lí

2.3.1.4 Đưa ra những nhận định xác đáng của những nhà phê bình, nghiên cứu để từ đó yêu cầu học sinh lý giải.

Ví dụ:

+ Tại sao nhiều người lại cho rằng: "Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu đậm đà tính dân tộc".

+ Về bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, nhiều người cho rằng "Tây

Tiến là bài thơ thể hiện phong cách nghệ thuật của Quang Dũng: hồn thơ phóng khoáng, lãng mạn và tài hoa" Dựa vào đâu lại nhận định như vậy?

Những câu hỏi thuộc kiểu loại trên đòi hỏi học sinh phải tư duy thấu đáo Đây là câu hỏi đòi hỏi tư duy của học sinh Học sinh cần phải hiểu nội dung bài học và nhận định của nhà nghiên cứu, từ đó phải huy động kiến thức để lí giải, chứng minh Những câu hỏi này giúp học sinh phát triển tư duy và cách lập luận

2.3.1 5 Cung cấp cho học sinh những cách tiếp cận khác nhau về tác phẩm, sau đó cho học sinh lựa chọn cách hiểu phù hợp với năng lực của mình và lí giải

Xuất phát từ đặc trưng của bộ môn văn học: vừa là bộ môn nghệ thuật ngôn từ, vừa là bộ môn khoa học cho nên có nhiều cách khám phá giá trị tác phẩm là điều bình thường Điều cần lưu ý là giáo viên có thể cung cấp những cách hiểu khác nhau nhưng không khiên cưỡng học sinh phải hiểu theo một ý kiến chủ quan, quan trọng là xem xét đến sự lí giải của các em Từ đó các em được biết nhiều “kênh” khác nhau, đồng thời giúp các em rèn luyện “bản lĩnh” nghiên cứu

2.3.1.6 Sử dụng các hình thức kiểm tra theo kiểu “vừa học vừa chơi” như câu đố, chơi ô chữ.

Trang 7

Đây là phương pháp củng cố bài được nhiều học sinh quan Nó tạo nên không khí lớp học sinh động, vui nhộn "vừa học-vừa chơi" Nó góp phần làm cho giờ học ngữ văn không còn kém thú vị

2.3.1.7 Sử dụng phương pháp đóng vai kết hợp thuyết trình nhanh về tác tác phẩm [2 ]

Đối với phương pháp này, học sinh bắt buộc phải tìm hiểu kĩ tác phẩm, quá trình học tập lắng nghe, ghi chép để nắm bắt được tinh thần của tác phẩm Sau đó, bằng chính những kiến thức mình có được, các em đóng vai như là

“những hướng dẫn viên” truyền tải lại vấn đề mình đã hiểu biết đến các bạn học một cách nhanh gọn, hóm hỉnh Phương pháp này đồng thời cũng cố kĩ năng thuyết trình, kĩ năng dùng từ, kĩ năng giải quyết vấn đề và nâng cao năng lực hoạt động trí tuệ Tiết học trong những phút cuối không còn cảm giác “quá tải” hay “nặng nề” mà sẽ trở nên vui vẻ, sôi động hơn

Ví dụ: Sau khi học xong tùy bút "Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ

Ngọc Tường, em hãy đóng vai là một hướng dẫn viên du lịch thuyết minh vẻ đẹp của dòng sông Hương xứ Huế

2.3.1.8 Thực hành, ứng dụng trong các giờ Đọc- hiểu văn bản Ngữ văn lớp 12

Trong phần này, chúng tôi xin đề xuất một vài hình thức có thể sử dụng

trong hoạt động “Củng cố”, theo từng đơn vị bài học cụ thể Như đã nói trong

phần đầu, do điều kiện thời gian có hạn nên chúng tôi dừng lại nghiên cứu và thực hành những văn bản trong chương trình Ngữ văn 12, tập 1, cụ thể là các tác

phẩm: Tuyên Ngôn độc lập (Hồ Chí Minh), Tây Tiến (Quang Dũng), Việt Bắc (Tố Hữu), Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm) Sóng (Xuân Quỳnh), Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân), Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc

Tường)

Chúng tôi sẽ triển khai theo từng đơn vị bài học Với mỗi bài học, chúng tôi đều đưa ra nhiều cách thức khác nhau để củng cố bài, với những nguyên tắc sau:

- Kết hợp hai hoặc nhiều cách thức:

- Kết hợp nhiều hình thức và phương tiện dạy học để phần củng cố đa dạng, phong phú, sinh động

- Cần phụ thuộc vào thời gian, đối tượng học sinh (trình độ, năng lực nhận thức, định hướng thi cử ) để lực chọn những hình thức củng cố bài phù hợp, nhằm đạt hiệu quả cao nhất

- Bám sát chuẩn kiến thức - kĩ năng và mục tiêu cần đạt của mỗi bài để đưa ra nội dung củng cố phù hợp

Sau đây, tôi xin được đi vào những văn bản cụ thể:

Văn bản “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh [4 ]

* Cho học sinh xem đoạn video Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập (VCD

đính kèm trên hện thống máy chiếu) [6 ]

Trang 8

Hình 3.1 Hình ảnh trong Video clip "Tuyên ngôn độc lập"

* Câu hỏi tái hiện kiến thức: Mở đầu Tuyên ngôn độc lập, Hồ chí Minh

đã trích dẫn những bản tuyên ngôn nào? Ý nghĩa?

N

ộ i dung c ầ n đạ t:

* Trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

trích dẫn hai bản Tuyên ngôn :

- Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776

- Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791

* Ý nghĩa của việc trích dẫn:

- Tác giả tạo một cơ sở pháp lý vững chắc cho bản tuyên ngôn để khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam là một lẽ phải không ai chối cãi được, đồng thời tạo tiền đề cho lập luận nêu ở phần sau

- Tác giả thể hiện thái độ trân trọng tinh hoa văn hóa nhân loại, đề cao truyền thống bình đẳng, nhân đạo, tư tưởng dân chủ tiến bộ của hai nước Pháp

và Mỹ để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới

- Tác giả muốn từ vấn đề nhân quyền để suy rộng ra và phát triển thành quyền dân tộc Đây là đóng góp lớn về tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới

- Tác giả cũng chỉ ra cho thực dân Pháp thấy rõ: nếu chúng âm mưu tái chiếm nước ta là xúc phạm đến nguyên lý về quyền độc lập tự do mà chính tổ tiên của chúng đã nêu ra trước kia Đây là lối tranh luận lấy gậy ông đập lưng ông, thể hiện thái độ vừa kiên quyết vừa khôn khéo của tác giả Mặt khác, khi đặt ba bản tuyên ngôn ngang nhau, tác giả còn bộc lộ sâu sắc niềm tự hào dân

tộc [1 ]

* Câu hỏi cảm nhận và lí giải: Anh/ chị hãy cho biết phong cách nghệ

thuật trong văn chính luận của Hồ Chí Minh thể hiện qua “Tuyên ngôn Độc lập’?

N

ộ i dung c ầ n đạ t:

Trang 9

- Văn phong Hồ Chí Minh trong bản Tuyên ngôn độc lập rất đanh thép,

hùng hồn, đầy sức thuyết phục

- Cách lập luận chặt chẽ: trích dẫn mở đầu bằng lời văn trong hai bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ(1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1791) làm cơ sở pháp lí Dùng thủ pháp tranh luận theo lối “gậy ông đập lưng ông”, lập luận theo logic tam đoạn luận

- Bằng chứng hùng hồn, không ai chối cãi được (trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa)

- Ngòi bút chính luận vừa hùng biện vừa trữ tình, dẫn chứng tiêu biểu, xác đáng, cách dùng từ, đặt câu hết sức linh hoạt

- Tuyên ngôn độc lập vừa có giá trị lịch sử lớn lao, vừa xứng đáng là tác

phẩm văn chương đích thực, có thể xem là áng “thiên cổ hùng văn” của thời đại

mới [1 ]

* Dùng sơ đồ để tái hiện lại cấu trúc bài học

Qua sơ đồ, học sinh nhớ lại những nội dung chính của bài học và thấy được cấu trúc, bố cục của bài Từ đó ghi nhớ kiến thức một cách có hệ thống, logic và có hiệu quả hơn

Văn bản “Tây Tiến” của Quang Dũng [4 ]

*Cho học sinh xem video phổ nhạc bài thơ Tây Tiến [6 ]

* Cung cấp thông tin tư liệu về bài thơ Tây Tiến

* Câu hỏi cảm nhận và phát biểu suy nghĩ: Nêu cảm nghĩ của em về

hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến So với người lính trong bài "Đồng chí" của Chính Hữu, người lính trong bài thơ Tây Tiến có gì khác?

Tây Tiến (Quang Dũng) Đồng chí (Chính Hữu) Xuất thân Từ Hà nôi, có học thức Nông dân, ra đi từ làng quê

nghèo

Hoàn

cảnh

chiến đấu

Miền núi Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, hoang dại, khác thường

Nơi rừng hoang sương núi, không hoang vu hiểm trở như trong Tây Tiến

Ý nghĩa Hiện lên với vẻ đẹp phi

thường:

- Ngoại bình bi tráng

- Hào hùng trong ý chí

- Hào hoa, lãng mạn ở tâm hồn

Hiện lên với vẻ đẹp bình dị: + Lam lũ chất phát

+ Dáng vẻ kiên cường bất khuất

Bút pháp Tả thực, lãng mạn Tả thực

* Đưa ra nhận định của các nhà phê bình nghiên cứu yêu cầu học

sinh lí giải: Bàn về bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, Trần Lê Văn có nhận

xét: “Tây Tiến phảng phất những nét buồn nét đau, song buồn đau mà không bi luỵ, trái lại rất bi tráng.” Em có nghĩ gì về ý kiến trên?

Định hướng học sinh trả lời:

 Nét buồn, nét đau:

Trang 10

 Tây Tiến phác hoạ một cuộc hành quân dài ngày giữa núi rừng hiểm trở: đó lá cải hiểm trở của con đường hành quân, cái oai linh của rừng thiêng, cảnh thú dữ rình rập, bệnh tật do lam sơn chướng khí

 Đó là sự đánh đổi quãng đời tuổi trẻ tươi đẹp cho Tổ quốc trường tồn, đó là sự hi sinh

 Nhưng đó là cái buồn đau bi tráng, không phải bi lụy nó là nét đẹp với tâm hồn rất lãng mạn, hào hoa của những người lính Tây Tiến

 Nét hùng:

 Trên cái nền thiên nhiên kì vĩ, hoang sơ và dữ dội với nhiều đường nét, hình khối, màu sắc chuyển đổi bất ngờ, đoàn quân Tây Tiến có vẻ nhỏ bé, đối lập với thiên nhiên Nhưng chính sự đối lập đó đã làm tăng thêm khí phách hào hùng, dáng nét hiên ngang bất khuất không gì ngăn cản nỗi của đoàn quân

 Nét hào hùng còn thể hiện rõ ở khí thế chiến đấu của họ Ngay trong lúc bệnh tật, người chiến sĩ Tây Tiến vẫn anh dũng chiến đấu:

 Tóm lại, hai nét bi và tráng hoà lẫn nhau, tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ, nhưng nỗi bật vẫn là nét hùng tráng

* Câu hỏi liên hệ thực tế: Từ hoàn cảnh sống và chiến đấu, ý chí của

người lính Tây Tiến, em có suy nghĩ gì về trách nhiệm của chúng ta trước sự kiện Trung Quốc đặt giàn khoan HD981 ở vùng biển nước ta

Việt Bắc của Tố Hữu (phần Tác phẩm)

* Câu hỏi kiểm tra kiến thức: Nêu khái quát giá trị nội dung và nghệ

thuật của đoạn trích Việt Bắc.

Định hướng trả lời:

+ Nội dung: bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến; bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến

+ Nghệ thuật: Bài thơ đậm đà tính dân tộc, tiêu biểu cho phong cách thơ

tố Hữu: thể thơ lục bát, lối đối đáp, cách xưng hô mình - ta, ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi

* Câu hỏi thông hiểu: Phân tích giá trị biểu cảm của cách xưng hô

mình-ta trong bài thơ Việt Bắc.

Định hướng trả lời:

+ Trong đoạn trích bài thơ “Việt Bắc”, từ mình được dùng để chỉ bản thân người nói - ngôi thứ nhất, nhưng cũng còn dùng ở ngôi thứ hai Từ ta là ngôi thứ nhất, chỉ người phát ngôn, nhưng có khi ta chỉ chúng ta.

+ Cặp đại từ này được sử dụng rất sáng tạo, biến hóa linh hoạt

+ Mang lại cho bài thơ phong vị ca dao, tính dân tộc đậm đà và một giọng điệu tâm tình ngọt ngào, sâu lắng

+ Góp phần làm cho tình cảm giữa người ra đi và người ở lại, giữa cán bộ với nhân dân Việt Bắc thêm thân mật, gần gũi, tự nhiên, gắn bó khăng khít tuy hai mà một

* Đưa ra những nhận định, ý kiến, yêu cầu học sinh lí giải: Bàn về bài

thơ Việt Bắc của Tố Hữu, có ý kiến cho rằng: “Bài thơ mang vẻ đẹp truyền

Ngày đăng: 13/07/2020, 12:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.3.1.2. Dùng sơ đồ, biểu bảng... để tổng kết những nội dung cơ bản hoặc cấu trúc bài học - Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ đọc – hiểu văn bản ngữ văn cho học sinh lớp 12 từ hoạt động củng cố, dặn dò
2.3.1.2. Dùng sơ đồ, biểu bảng... để tổng kết những nội dung cơ bản hoặc cấu trúc bài học (Trang 5)
Hình 3.1 Hình ảnh trong Video clip "Tuyên ngôn độc lập" - Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ đọc – hiểu văn bản ngữ văn cho học sinh lớp 12 từ hoạt động củng cố, dặn dò
Hình 3.1 Hình ảnh trong Video clip "Tuyên ngôn độc lập" (Trang 8)
hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến. So với người lính trong bài "Đồng - Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ đọc – hiểu văn bản ngữ văn cho học sinh lớp 12 từ hoạt động củng cố, dặn dò
hình t ượng người lính trong bài thơ Tây Tiến. So với người lính trong bài "Đồng (Trang 9)
+ "Thuyền tôi trôi trên sông Đà. Cảnh ven sông lặng tờ. Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng lờ đến thế mà thôi...." [4 ] - Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ đọc – hiểu văn bản ngữ văn cho học sinh lớp 12 từ hoạt động củng cố, dặn dò
34 ;Thuyền tôi trôi trên sông Đà. Cảnh ven sông lặng tờ. Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng lờ đến thế mà thôi...." [4 ] (Trang 15)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w