1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 thực hành về từ loại tiếng việt

19 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 222 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giúp các em nắm được các kiến thức về từ trong Tiếng Việt, vận dụng nó để đặt câu, viết văn và ứng dụng trong giao tiếp hằng ngày, cao hơn nữa là bồi dưỡng cho các em trở thành những

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Lý do chọn đề tài.

Trong hệ thống giáo dục, mỗi môn học đều góp phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, cung cấp cho các em những tri thức cần thiết để phục vụ cho cuộc sống, học tập và sinh hoạt sao cho tốt nhất và có hiệu quả cao Ở Tiểu học môn Tiếng Việt có vị trí đặc biệt quan trọng Học tốt Tiếng Việt, học sinh sẽ có

cơ sở để tiếp thu và học tốt các môn học khác Nắm vững kiến thức Tiếng Việt

và được luyện tập thành thạo các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, các em sẽ có suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong sáng; có khả năng làm chủ được tiếng nói và chữ viết của dân tộc Tiếng Việt là môn học chính, là cơ sở để hình thành vốn ngôn ngữ chuẩn, làm nền tảng cho các bậc học về sau Ở Tiểu học, học sinh được học những kiến thức cơ bản về từ, từ loại, câu, …qua đó giúp học sinh có những hiểu biết ban đầu của những kiến thức mới Trong đó, phần từ loại được trải đều trong nội dung các bài học từ lớp 2 cho đến lớp 5. 

Việc cung cấp cho học sinh Tiểu học những kiến thức sơ giản về từ ngữ rất quan trọng bởi đây là điểm khởi đầu về nhận thức của các em đối với vốn từ Tiếng Việt Để giúp các em nắm được các kiến thức về từ trong Tiếng Việt, vận dụng nó để đặt câu, viết văn và ứng dụng trong giao tiếp hằng ngày, cao hơn nữa

là bồi dưỡng cho các em trở thành những học sinh có năng khiếu về Tiếng Việt, người giáo viên phải có những định hướng, những giải pháp để nâng cao hiệu quả dạy học môn Tiếng Việt

Kiến thức về từ loại trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học cung cấp gồm: danh từ, động từ, tính từ, đại từ và quan hệ từ Từ những kiến thức về từ loại, giúp cho học sinh biết cách dùng từ, đặt câu có ý nghĩa, vận dụng trong viết chính tả, làm bài tập tiếng Việt, … Không những thế, những kiến thức về từ loại

sẽ giúp học sinh phát triển được vốn từ, kĩ năng nhận diện, sử dụng thành thạo trong viết văn, … Nhưng thực tế cho thấy, những kiến thức về từ loại là rất phong phú và đa dạng, học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhận diện

từ loại, phân loại từ loại, vận dụng từ loại trong dùng từ, đặt câu, Nếu không nắm vững những kiến thức cơ bản làm nền tảng thì học sinh hay dễ nhầm lẫn, mắc phải những lỗi sai cơ bản Và nếu không được củng cố kiến thức ngay từ đầu thì học sinh Tiểu học sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển ngôn ngữ viết của mình Vì thế, đối với giáo viên, việc dạy về từ loại cho học sinh là một nhiệm vụ rất quan trọng, đang được nhiều người quan tâm đến Giáo viên nắm vững những kiến thức và truyền đạt một cách dễ hiểu cho học sinh, kích thích tính nhanh nhạy của học sinh, phát triển sự sáng tạo, giúp học sinh tiếp thu bài nhanh hơn

Nhận thức rõ tầm quan trọng của từ loại trong chương trình Tiểu học, là giáo viên đứng lớp đã 20 năm, qua mét thời gian giảng dạy, tôi thấy học sinh của mình rất cố gắng học tập tất cả các môn học đặc biệt là môn Tiếng Việt Nhưng trong thực tế, khi học đến từ loại Tiếng Việt thì nhiều em còn lúng túng Với suy nghĩ: "Làm thế nào để học sinh nắm chắc kiến thức này và tự tin trong học tập?" nên tôi đã quyết định chọn đề tài: "Các giải pháp hướng dẫn học

sinh lớp 5 thực hành tốt từ loại Tiếng Việt trong chương trình tiểu học".

1

Trang 2

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Xuất phát từ những vấn đề trên và qua nghiên cứu, tìm hiểu trong nhiều năm dạy phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 tôi đã chọn đề tài "Các giải pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 thực hành tốt từ loại Tiếng Việt trong chương trình tiểu học" nhằm mục đích:

- Các phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 thực hành các bài tập về từ loại Tiếng Việt

- Nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc sử dụng từ loại Tiếng Việt trong học tập và giao tiếp

- Góp phân nâng cao chất lượng giáo dục tô thắm thêm truyền thống nhà trường

Chỉ tiêu: Cuối năm học 100% học sinh Hoàn thành các bài tập về từ loại theo yêu cầu Trong đó 80% học sinh Hoàn thành tốt

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Là các giải pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 thực hành tốt từ loại Tiếng Việt trong chương trình tiểu học” Cụ thể trong đề tài này, đối tượng nghiên cứu là các dạng bài tập về từ loại (danh từ, động từ, tính từ) trong chương trình sách Tiếng Việt ở Tiểu học

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng những phương pháp:

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cở sở lí thuyết

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin

- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lý luận

Ở trong Trường Tiểu học, môn Tiếng Việt giữ vai trò đặc biệt quan trọng,

nó góp phần đắc lực vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ ở Tiểu học theo đặc trưng bộ môn của mình Việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường nhằm tạo cho học sinh năng lực sử dụng Tiếng Việt văn hoá và hiện đại để suy nghĩ, giao tiếp và học tập Thông qua việc học Tiếng Việt, nhà trường rèn luyện cho các em năng lực tư duy, phương pháp suy nghĩ, giáo dục các em những tư tưởng lành mạnh, trong sáng, góp phần hình thành nhân cách cho học sinh

Môn Tiếng Việt ở Tiểu học bao gồm các phân môn: Học vần (lớp 1), tập đọc, chính tả, tập viết, luyện từ và câu, tập làm văn, kể chuyện Mỗi phân môn đều có nhiệm vụ riêng song mục đích cuối cùng của chúng ta là cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông về ngôn ngữ Trên cơ sở đó rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết nhằm giúp học sinh vận dụng các từ đã học vào phân môn tập làm văn vốn rất hạn chế bởi việc hiểu nghĩa từ loại chưa chính xác Mặt khác, từ loại là sự phân loại vốn từ của một ngôn ngữ cụ thể thành những loại, những lớp hạng dựa vào những đặc trưng ngữ pháp Sự quy loại một lớp từ nào đó vào một từ loại nhất định được xác định bởi những đặc trưng về ngữ nghĩa, về hoạt động ngữ pháp của nó (về hình thái học hoặc về cú pháp học, hoặc về cả tình thái học và cú pháp học) trong việc thực hiện một chức vụ cú pháp nhất định Như vậy, bất kì hệ thống ngôn ngữ của một dân tộc nào, của một cộng đồng người nào (cho dù ngôn ngữ ở trình độ phát triển hay còn ở trạng thái

Trang 3

thô sơ, đã có hệ thống ngôn ngữ chữ viết hay chưa …) đã có vốn từ vựng, có ngữ pháp riêng thì đều có từ loại Từ loại là một phổ niệm của mọi ngôn ngữ, không phụ thuộc vào phương thức biểu hiện của nó

+ Về danh từ.

Ở lớp 2, lớp 3 danh từ được gọi là từ chỉ sự vật (người, con vật, đồ vật, cây cối) Các dạng bài tập chủ yếu: tìm từ chỉ sự vật; cách sử dụng danh từ trong câu theo mô hình : Ai (cái gì, con gì) là gì? Ai (cái gì, con gì) làm gì? Ai (cái gì, con gì) thế nào?

Lên lớp 4 học danh từ thông qua các khái niệm và các bài tập Nội dung về danh từ ở lớp 4 gồm: khái niệm danh từ, các tiểu loại danh từ, danh từ chung, danh từ riêng, viết hoa tên riêng

+ Về động từ

Ở lớp 2, lớp 3 học về từ loại động từ thông qua các bài tập tìm “từ chỉ hoạt động, trạng thái’’; sử dụng câu theo mô hình: Ai làm gì? Ai thế nào?

Lên lớp 4 khái niệm động từ và luyện tập sử dụng động từ Để bổ sung ý nghĩa về thời gian cho động từ, ta có thể dùng các từ: đã, đang, sẽ, vừa, mới; Để

bổ sung ý nghĩa về sự sai khiến cho động từ ta có thể dùng các từ: hãy, đừng, chớ, đi, thôi

+ Về tính từ

Ở lớp 2, lớp 3 tính từ được đưa vào dưới dạng bài tập: tìm từ chỉ tính chất qua kiểu câu: Ai (con gì, cái gì) thế nào?

Lên lớp 5 học sinh được củng cố về danh từ, động từ, tính từ thông qua các tiết ôn tập và học thêm phần đại từ, quan hệ từ

2.2 Thực trạng về việc dạy học từ loại Tiếng Việt trong trường Tiểu học

2.2.1 Thuận lợi

* Về giáo viên:

Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi là ngôi trường có truyền thống “Dạy tốt

- học tốt”, có đội ngũ cán bộ quản lý giàu năng lực, có tập thể BGH đoàn kết đồng lòng, đội ngũ giáo viên nhiệt tình công tác, trình độ chuyên môn vững vàng, có nhiều GV- HS giỏi cấp Quốc gia, cấp Tỉnh, cấp Thành phố Nhà trường luôn tạo điều kiện cho công tác của giáo viên, đầy đủ SGK, sách hướng dẫn và được học về sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại Đội ngũ giáo viên yêu nghề, có năng lực sư phạm Phân môn luyện từ và câu của lớp 5 đặc biệt phần từ loại trong chương trình Tiểu học được phân bố đều trong nội dung học từ lớp 2 đến lớp 5 Từ loại được đem vào nội dung học cho học sinh từ mức độ đơn giản đến phức tạp hơn, nội dung được trải đều trong chương trình, không quá chú trọng quá cụ thể vào một lớp học nào, tạo điều kiện cho giáo viên lựa chọn các phương pháp và hình thức dạy học phù hợp giúp học sinh tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn

*Về học sinh.

- Học sinh đã quen với cách học mới từ lớp 1, 2, 3, 4 nên các em đã biết cách lĩnh hội và luyện tập thực hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên

- Sự quan tâm của phụ huynh học sinh cũng góp phần nâng cao chất lượng môn học nói riêng và môn Tiếng việt nói chung

- Các em học sinh đều được học 9 buổi/tuần và được sự quan tâm dạy dỗ

Trang 4

nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo Từ đó giúp các em có khả năng sử dụng thành thạo các bài tập thực hành về từ loại và áp dụng linh hoạt vào các phân môn khác

2.2.2 Khó khăn.

Trong những năm giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh còn gặp nhiều khó khăn trong việc nhận diện từ loại, phân loại từ loại, vận dụng từ loại trong dùng từ, đặt câu Hơn thế nữa, học sinh lại mắc phải những lỗi mà đáng ra các em không mắc phải

Năm học 2019-2020, tôi được phân công dạy lớp 5A trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi Lớp tôi có 40 học sinh trong đó có: 14 em nam, 26 em nữ Hầu hết các em đều mạnh dạn, ngoan ngoãn, vâng lời thầy cô Tuy nhiên, các bài tập trong chương trình Tiếng Việt 5 hoặc những bài tập trong tiết Luyện tập thực hành bản thân tôi đưa ra còn nhiều em gặp không ít khó khăn Có những

em khó đạt mức hoàn thành hoặc có những em đạt mức hoàn thành nhưng thiếu chiều sâu, nhiều em nhớ nhanh nhưng cũng nhanh quên, vốn hiểu biết của các

em không được mở rộng Để nắm cụ thể về thực trạng của các em trong lớp về việc học từ loại, với mong muốn học sinh của mình học tốt hơn, hiệu quả giờ dạy đạt cao hơn Bản thân tôi đã khảo sát chất lượng và xem mức độ tiếp thu phần này của các em như thế nào với đề bài như sau:

Đề bài: (Thời gian 40 phút)

Câu1: Xác định chủ ngữ, vị ngữ của các câu sau:

a Chích bông là một con chim bé xinh đẹp trong thế giới loài chim

b Cô mùa xuân xinh tươi đang lướt nhẹ trên cánh đồng

c Màu vàng trên lưng chú lấp lánh

Câu2: Tìm danh từ, tính từ, động từ trong đoạn văn sau:

Ngày xưa, dế Trống và dế Mái đều gáy to và khoẻ như nhau

Câu 3: Hãy xác định từ loại của các từ được gạch chân trong các câu sau:

a Con mèo con đuổi bắt con con chuột con con

b Cuộc đời của học sinh đầy những kỉ niệm đẹp

c Bạn Hà kỉ niệm tôi chiếc bút này khi chia tay nhau

Câu 4: Hãy viết một đoạn văn ngắn từ 4-5 câu có nội dung tự chọn và xác định

từ loại có trong đoạn văn đó

Đáp án đề khảo sát:

Câu 1:

a Chích bông

b Cô mùa xuân xinh tươi

c Màu vàng trên lưng chú

là một con chim bé xinh đẹp trong thế giới loài chim đang lướt nhẹ trên cánh đồng

lấp lánh Câu2:

Câu 3: Học sinh xác định đúng các từ loại gạch chân như sau :

a Con mèo con đuổi bắt con con chuột con con

DT DT DT TT

Trang 5

b.Cuộc đời của học sinh đầy những kỉ niệm đẹp

DT

c.Bạn Hà kỉ niệm tôi chiếc bút này khi chia tay nhau

ĐT

Câu 4: Học sinh viết được đoạn văn theo yêu cầu và xác định đúng từ loại có trong đoạn văn

– Đoạn văn đúng bố cục: Có câu mở đoạn, kết đoạn và trình bày theo một nội dung tự chọn

– Đoạn văn đảm bảo số câu theo yêu cầu, có xác định được từ loại có trong đoạn văn đó

– Trình bày rõ ràng, sạch đẹp, tránh sai lỗi chính tả

Với yêu cầu đề bài như vậy, tôi đã tiến hành khảo sát học sinh lớp 5A (do tôi làm chủ nhiệm) để làm cơ sở đối chứng Sau khi chấm bài, tôi nhận thấy các

em làm được như sau:

Câu 1: Rất ít em xác định đúng cả ba câu Nhiểu em chỉ xác định đúng ý a,

b còn ý c các em đều xác định bộ phận chủ ngữ là màu vàng, vị ngữ là; trên lưng chú lấp lánh

Câu2: Các em xác định được danh từ là: dế Trống, dế Mái Động từ là: Gáy Tính từ là: to, khoẻ Và không có học sinh nào xác định được từ ngày xưa

là danh từ

Câu 3 : Các em đều xác định đúng từ con thứ nhất là danh từ, còn hai từ con tiếp theo phần lớn các em cho là tính từ Còn từ kỉ niệm các em đều cho

là động từ

Câu 4: Hầu hết học sinh đều viết được đoạn văn đúng với yêu cầu nhưng viết câu chưa đúng cấu trúc ngữ pháp, chấm câu chưa hợp lí, liên kết các câu còn chưa chặt chẽ, diễn đạt còn chưa hay và xác định từ loại còn chưa chính xác

Bảng kết quả làm bài của học sinh đạt được như sau:

Thời gian

kiểm tra Lớp

Tống

số học sinh

Kết quả Hoàn thành

tốt

Hoàn thành Chưa hoàn

thành

Đầu học kỳ I

Qua kết quả làm bài khảo sát, tôi nhận thấy đa số các em đều làm chưa tốt

Số em hoàn thành tốt còn ít, số em hoàn thành và chưa hoàn thành còn nhiều Bản thân tôi suy nghĩ và rút ra được: Các em làm được kết quả như vậy là do những nguyên nhân sau:

Thứ nhất: Học sinh chưa nắm vững cách xác định chủ ngữ và vị ngữ, các

em chưa nắm rõ: “chủ ngữ do từ ngữ hay thường do loại từ nào tạo thành? Vị ngữ do từ ngữ hoặc do từ loại nào tạo thành?” nên đã xác định sai

Thứ hai: Học sinh chưa nắm rõ khái niệm của từ loại và khả năng kết hợp

từ của từ loại nên đã xác định chưa đầy đủ

Thứ ba: Học sinh thường chưa cẩn thận khi làm bài, làm bài xác định chưa

Trang 6

rõ yêu cầu, đưa từ nhiều khi còn chưa phù hợp với văn cảnh.

Thứ tư: Do không phân định đúng ranh giới của từ mà học sinh xác định từ

loại sai

Thứ năm: Nhiều em không nắm được khái niệm “từ loại” nên không hiểu

đúng yêu cầu của bài tập

Thứ sáu: Khi xác định từ loại học sinh còn gặp khó khăn trong những

trường hợp mà nghĩa của từ hoặc dấu hiệu hình thức không rõ ràng

Thứ bảy: Thời gian luyện tập, số tiết luyện tập về từ loại Tiếng Việt còn

chưa được nhiều

Xuất phát từ yêu cầu của việc dạy học từ loại trong môn Tiếng Việt, đồng

thời xuất phát từ những thực trạng trên tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Các dạng bài tập hướng dẫn học sinh thực hành từ loại Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học”.

2.3 Các giải pháp thực hiện

Để hướng dẫn học sinh lớp 5 thực hành tốt các dạng bài tập về từ loại Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học, tôi đã áp dụng các giải pháp phân ra từng loại bài tập để học sinh thực hành như sau:

Giải pháp 1 Rèn kĩ năng thực hành các dạng bài tập khắc sâu lý thuyết về

từ loại.

* Về danh từ: Để giúp học sinh nhận diện và khắc sâu kiến thức về danh

từ, tôi đã thực hiện như sau:

- Giáo viên cho học sinh củng cố về khái niệm danh từ để hiểu danh từ là từ chỉ người, vật, hiện tượng, khái niệm

Ví dụ:

+ Chỉ người: Cô giáo học sinh, anh , chị

+ Chỉ vật: Nhà, bàn, ghế, cây,cỏ, sông, biển, Thanh Hóa

+ Chỉ hiện tượng: Gió, bão, nắng, mưa,hoà bình

- HS hiểu về khái niệm, giáo viên giúp học sinh nắm vững khả năng kết hợp của danh từ bằng cách cung cấp cho học sinh các cách (các mẹo) nhận biết danh từ như sau:

- Cách 1: Thêm vào trước nó một từ chỉ số lượng (một, hai, vài, những, các ) xem có được không, nếu được thì đó là một danh từ Ví dụ: Hai học sinh

- Cách 2: Thêm vào sau nó một từ chỉ trỏ (này, ấy, kia, đó ) xem có được không nếu được thì đó là một danh từ Ví dụ: Học sinh ấy

* Để phân biệt danh từ chung với danh từ riêng, danh từ cụ thể, danh từ trừu tượng tôi tiến hành hướng dẫn học sinh hiểu:

- Danh từ có nhiều loại:

+ Danh từ chung: là tên gọi chung của một loại sự vật.

VD: Học sinh, công nhân, thành phố

+ Danh từ riêng: là tên gọi riêng của một loại sự vật

VD: Nguyễn Văn Trỗi, núi Hàm Rồng, sông Mã

Ngoài ra, tôi còn giúp học sinh cách phân biệt danh từ cụ thể với danh từ trừu tượng

+ Danh từ cụ thể: chỉ những sự vật mà ta có thể nhận ra được bằng giác quan (nhìn, nghe, ngửi, thấy, đếm được )

Trang 7

VD: Nhà, tủ, ghế, bàn , sách,vở, gió ,mưa…

+ Danh từ trừu tượng: chỉ những sự vật mà ta nhận ra được bằng suy nghĩ

chứ không phải bằng các giác quan

VD: Niềm vui, đạo đức, thái độ,tình bạn, nỗi buồn ,

* Để giúp học sinh nắm vững chức vụ ngữ pháp của danh từ: Học sinh cần hiểu trong câu, danh từ (đứng một mình hoặc kèm theo các từ phụ thuộc) có thể làm nhiều chức vụ khác nhau: Nó có thể làm chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ

*Về động từ: Cách tiến hành tương tự như danh từ

- Giáo viên giúp học sinh hiểu động từ là từ chỉ hoạt động hay trạng thái của người, sự vật

VD: Ngủ, chạy

Để giúp học sinh nhận diện và khắc sâu kiến thức về động từ, tôi đã giúp học sinh nắm vững được khả năng kết hợp của động từ:

+ Trước động từ: Các thành tố phụ chỉ thời gian (đã, đang, sẽ, sắp, ); chỉ

mệnh lệnh (hãy); chỉ sự phủ định (không, chẳng, chưa )

Ví dụ: Chỉ vài hôm, lộc non đã tràn đầy trên bàn tay mùa đông của cây bàng Dáng mọc của lộc rất lạ, thẳng đứng trên cành, như thể đêm qua có ai đã thả ngàn vạn búp lá nhỏ xíu từ trên trời, xanh biếc chi chít đầy cành

(Bàng thay lá - Hoàng Phủ Ngọc Tường )

Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều

Để nghe dưới đáy nước hồ reo

(Hàn Mặc Tử )

Ngoài ra còn có các tính từ đứng trước động từ

Ví dụ :

Những cánh hoa đỏ đang rung nhè nhẹ trước gió

TT ĐT

+ Sau động từ: Là các danh từ, các phụ từ chỉ sự tiếp diễn, kết thúc (xong,

rồi, mãi, ), tính từ

Ví dụ :

+ Anh nhìn trăng và nghĩ tới ngày mai…

ĐT DT ĐT

+ Đằng đông, phía trên dải đê chạy dài rạch ngang tầm mắt

ĐT TT

- Nắm vững khả năng đảm nhiệm chức vụ ngữ pháp của động từ.

Động từ có thể đảm nhiệm nhiều chức vụ ngữ pháp khác nhau trong câu: làm vị ngữ, chủ ngữ, định ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ.Trong đó chức năng làm vị ngữ của động từ là phổ biến và tiêu biểu nhất

Ví dụ :

+ Học tập là nhiệm vụ của học sinh (ĐT làm chủ ngữ)

+ Chúng ta xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (ĐT làm vị ngữ)

+ Chúng em hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ học tập (ĐT làm định ngữ) + Bạn Lan rất thích xem phim (ĐT làm bổ ngữ)

+ Nhớ lời cha mẹ dặn, chúng em không đi chơi xa (ĐT làm trạng ngữ)

- Giúp học sinh hiểu về các loại động từ: Động từ có hai loại:

Trang 8

+ Động từ chỉ trạng thái, hoạt động do người hay sự vật thực hiện, không ảnh hưởng tới người hay sự vật khác gọi là động từ nội động

VD: Em bé ngủ.

+ Động từ chỉ hoạt động của người hay sự vật thực hiện có ảnh hưởng đến người hay sự vật khác gọi là động từ ngoại động

VD: Bác nông dân đang gặt lúa.

- Giúp học sinh hiểu rõ các động từ đặc biệt.: có, là, bị, được

+ Động từ "bị" và "được" chỉ trạng thái tiếp thu

+ Động từ "có" chỉ trạng thái tồn tại hoặc sở hữu

+ Động từ "là" chỉ được dùng trong câu giới thiệu, nhận xét, đánh giá

* Về tính từ: Là từ chỉ tính chất của người, loài vật, đồ vật, cây cối như:

màu sắc, hình thể, khối lượng, kích thước, dung lượng, phẩm chất

Ví dụ : - Xanh, đỏ, xanh biếc, đỏ thắm (chỉ màu sắc)

- Vuông, tròn, thon (chỉ hình thể)

- To, nhỏ, dài, ngắn (chỉ kích thước)

- Nặng, nhẹ, nhiều, ít (chỉ khối lượng, dung lượng)

- Tốt, xấu, thông minh…(chỉ phẩm chất)

Để giúp học sinh nhận diện và khắc sâu kiến thức về tính từ, tôi đã đưa ra cách tìm hiểu khả năng kết hợp của tính từ

- Trước tính từ :

+ Là các phụ từ tình thái : còn (rất ), đã, không, đều, …

Ví dụ :

Vẫn còn rất sớm

Đã gan dạ

Cả hai cái áo đều mới + Phụ từ chỉ mức độ : hơi, khá, rất, cực kì, tương đối, …

Ví dụ :

Hơi xấu, rất đẹp, bài hát cực kì hay, …

Cô ấy vẫn còn đang rất trẻ

- Sau tính từ.

Có thể là thực từ hoặc hư từ, có thể thuộc những từ loại khác

Ví dụ :

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người

Rộng thênh thang tám mét

- Giúp học sinh hiểu khả năng đảm nhiệm chức vụ ngữ pháp của tính từ

+ Làm vị ngữ

Ví dụ :

- Hoa cà /tim tím Hoa mướp /vàng vàng

- Ngôi nhà này/ đẹp

+ Làm chủ ngữ: có quan hệ từ “là’’ đứng sau

Ví dụ :

Ngoan nhất nhà / là bé Lan

- Về phân loại tính từ

Trang 9

Tính từ được phân chia thành hai nhóm chính: Tính từ đánh giá được về mức độ và tính từ không đánh giá được về mức độ

+ Tính từ đánh giá được về mức độ:

Ví dụ: Tường rất trắng, trời xanh quá !

TT TT

+ Tính từ không đánh giá được về mức độ:

Ví dụ: Khăn quàng đỏ thắm, căn nhà rộng rãi

TT TT

* Về đại từ: Để giúp học sinh nhận diện và khắc sâu kiến thức về đại từ,

trước tiên, tôi phải cho học sinh thấy được người ta dùng đại từ để làm gì ?

- Đại từ dùng để thay thế cho danh từ, động từ hoặc tính từ trong câu

Ví dụ: Cú chẳng có tổ, nó ph¶i sống trong những hốc cây tăm tối,

- Trong giao tiếp người ta có thể dùng đại từ để xưng hô Đó là đại từ chỉ ngôi Các đại từ chỉ ngôi thường dùng là:

+ Ngôi thứ nhất: tôi, chúng tôi, tao, chúng tao

+ Ngôi thứ hai: mày, chúng mày…

+ Ngôi thứ ba: nó, chúng nó …

- Danh từ chỉ người cùng thường được dùng trong xưng hô như đại từ chỉ ngôi

VD: anh, chị, ông, bà

- Nắm vững khả năng đảm nhiệm chức vụ ngữ pháp của đại từ: Đại từ xưng hô có thể đảm nhiệm những chức vụ ngữ pháp khác nhau trong câu

+ Làm chủ ngữ

Ví dụ:

Tôi học bài

Tôi và anh là hai người bạn

+ Làm vị ngữ

Ví dụ:

Người được nhắc đến là tôi

+ Làm bổ ngữ

Ví dụ:

Mọi người rất yêu quý tôi

+ Làm định ngữ

Ví dụ:

Bố mẹ tôi rất tự hào

+ Làm trạng ngữ: Với tôi, mẹ là người phụ nữ tuyệt vời nhất

ĐT

Giải pháp 2: Rèn kĩ năng vận dụng thực hành các dạng bài tập về từ loại

* Đối với bài tập khắc sâu khái niệm “từ loại” tôi đưa ra một số bài nhằm

củng cố khái niệm:

Ví dụ: Cho các từ sau: núi đồi, rực rỡ, chen chúc, vườn, dịu dàng, ngọt, thành phố, ăn, đánh đập Hãy xếp những từ trên thành các nhóm theo hai cách:

a, Dựa vào cấu tạo (từ đơn, từ ghép, từ láy)

b, Dựa vào từ loại (danh từ, động từ, tính từ)

- Ở bài tập này học sinh phải củng cố về kiến thức thế nào là chia từ theo

Trang 10

cấu tạo và thế nào là chia từ theo từ loại Các em sẽ dễ dàng làm được.

- Nếu xếp theo cấu tạo từ, ta sẽ xếp như sau:

+ Từ đơn: vườn, ăn, ngọt

+ Từ ghép: núi đồi, thành phố, đánh đập

+ Từ láy: rực rỡ, dịu dàng, chen chúc

- Nếu xếp theo từ loại, ta sẽ xếp như sau:

+ Danh từ: núi đồi, thành phố, vườn

+ Động từ: chen chúc, đánh đập, ăn

+ Tính từ: rực rỡ, dịu dàng, ngọt

* Đối với bài tập xác định từ loại cho từ, tôi cho học sinh làm hai kiểu bài tập như sau:

Kiểu 1: Cho sẵn các từ, yêu cầu học sinh xác định từ loại của các từ đó.

VD: Xác định từ loại của các từ sau: niềm vui, vui tươi, vui chơi, tình yêu, yêu thương, đáng yêu

Để xác định từ loại của những từ này, ta xét ý nghĩa (chỉ đối tượng, chỉ hành động hay chỉ tính chất) cũng như thử các khả năng kết hợp của chúng Có thể nói:

- những niềm vui - rất yêu thương - hãy vui chơi

- tình yêu ấy - hãy yêu thương - rất đáng yêu

Sau đó học sinh trình bày:

Kiểu 2: Xác định từ loại trong đoạn thơ văn có sẵn:

VD: Xác định động từ, danh từ, tính từ trong hai câu thơ của Bác Hồ:

“ Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay Vượn hót chim kêu suốt cả ngày”

- Ở bài tập này, học sinh cần phải xác định ranh giới các từ rồi xét ý nghĩa

và các khả năng kết hợp của từ rồi xếp

“ Cảnh / rừng / Việt Bắc / thật là / hay Vượn / hót / chim / kêu / suốt cả ngày”

- Danh từ : cảnh, rừng, Việt Bắc, vượn, chim, ngày

- Động từ: hót, kêu

- Tính từ : hay

Giải pháp 3: Rèn kĩ năng vận dụng thực hành các dạng bài tập nhằm phát triển năng lực học sinh

* Đối với dạng bài: “Xác định từ loại trong các từ khó phân định ranh giới”.

VD: Tìm tính từ trong khổ thơ sau:

Việt Nam đẹp khắp trăm miền, Bốn mùa một sắc trời riêng đất này

Xóm làng, đồng ruộng, rừng cây, Non cao gió dựng, sông đầy nắng chang Xum xuê xoài biếc, cam vàng

Ngày đăng: 13/07/2020, 09:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng kết quả làm bài của học sinh đạt được như sau: Thời gian - Giải pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 thực hành về từ loại tiếng việt
Bảng k ết quả làm bài của học sinh đạt được như sau: Thời gian (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w