Thực trạng về việc dạy Tập làm văn của giáo viên Qua một số năm thực hiện dạy học lớp 2 và thông qua việc dự giờ thăm lớp và qua trao đổi với những giáo viên dạy lớp 2 tôi nhận thấy: Đa
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1.Lí do chọn đề tài
Một môn học có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống giao tiếp cũng như trong quá trình học tập của học sinh là môn Tiếng Việt Dạy học Tiếng Việt là dạy học tiếng mẹ đẻ Dạy học Tiếng Việt giúp các em hình thành 4 kỹ năng cơ bản: Nghe, nói, đọc, viết Từ đó mở rộng vốn ngôn ngữ và sự hiểu biết về ngôn ngữ Tiếng Việt là chìa khoá để mở cánh cửa tri thức, là điều kiện phương tiện để học tốt các môn học khác
Ở nhà trường Tiểu học môn Tiếng Việt bao gồm các phân môn: Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn Mỗi phân môn đều
có nhiệm vụ riêng của nó xong đều có một đặc điểm chung là hình thành và phát triển 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết cho học sinh
Trong những phân môn trên phân môn Tập làm văn có tính chất tổng hợp, đòi hỏi học sinh phải bộc lộ cả năng lực tư duy, năng lực giao tiếp, năng lực Tiếng Việt lẫn khả năng cảm thụ, thái độ, cảm xúc cá nhân Phân môn Tập làm văn hơn bất kỳ một phân môn nào khác đặt lên hàng đầu yêu cầu phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh Do đó dạy Tập làm văn phải tích cực hoá được hoạt động học tập của học sinh, phải tạo điều kiện để học sinh chủ động, tự do thể hiện cái “tôi” của mình một cách rõ ràng, bộc bạch cái riêng của mình một cách trọn vẹn
Trong môn Tiếng Việt phân môn Tập làm văn hội tụ đủ 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết Đối với học sinh lớp 2 thì đây là một phân môn khó Bởi lứa tuổi các
em, vốn kiến thức và hiểu biết còn hạn hẹp Bên cạnh đó còn một số khó khăn khách quan như học sinh vùng nông thôn, bố mẹ làm nghề nông các em ít có điều kiện giao tiếp, việc diễn đạt ngôn ngữ kém, việc tiếp thu kiến thức khá chậm, học sinh nghèo vốn từ ngữ… Điều này ảnh hưởng nhiều việc học tập nói chung, học phân môn Tập làm văn nói riêng
Trong chương trình Tiếng Việt lớp 2, ngay từ đầu năm học, các em được làm quen với đoạn văn và được rèn kỹ năng viết đoạn văn từ 3 đến 5 câu Trong quá trình làm bài, tôi nhận thấy các em còn lúng túng, nhiều học sinh làm bài chưa hoàn chỉnh, diễn đạt chưa rõ ý, lặp câu, lặp từ, dùng từ chưa phù hợp
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy ở lớp 2, tôi rất băn khoăn và trăn trở: Làm thế nào để giúp các em thực hiện được mục tiêu đề ra? Bản thân tôi luôn cố gắng để tìm ra những biện pháp nâng cao chất lượng học tập cho học sinh lớp mình
Trang 2phụ trách Đây là lí do tôi quyết định chọn và áp dụng: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 làm tốt đoạn văn ngắn từ 3 đến 5 câu.”
1.2 Mục đích nghiên cứu:
- Nắm bắt thực trạng về "Viết đoạn văn ngắn từ 3 đến 5 câu " của học sinh trường Tiểu học Quảng Hưng Thành phố Thanh Hóa
- Nắm được nội dung, phương pháp dạy học Tiếng việt nói chung và phương pháp dạy học tập làm văn nói riêng
- Đề xuất một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 làm tốt đoạn văn ngắn từ 3 đến 5 câu
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
-Học sinh lớp 2A trường Tiểu học Quảng Hưng Thành phố Thanh Hóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài, tìm hiểu sách giáo khoa Tiếng việt lớp 2, sách giáo viên Tiếng Việt lớp 2, phương pháp dạy học Tiếng Việt
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp kiểm tra đánh giá sau thực nghiệm
Trang 32 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận
Phân môn tập làm văn sử dụng toàn bộ các kỹ năng được hình thành và phát triển do nhiều phân môn khác của môn Tiếng Việt đảm nhiệm (kỹ năng đọc, nghe nói, viết chữ, viết chính tả, dùng từ đặt câu ) Phân môn Tập làm văn có tính chất thực hành, tổng hợp các phân môn của môn Tiếng Việt Phân mônTập làm văn còn đòi hỏi học sinh huy động với kiến thức nhiều mặt (Từ hiểu biết về cuộc sống đến tri thức về văn học, khoa học thường thức ) có liên quan đến đề bài
Bài Tập làm văn là sản phẩm tổng hợp của vốn sống, vốn văn học, năng lực
tư duy, năng lực giao tiếp, sự thành thạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, sự sáng tạo của cá nhân học sinh Qua bài Tập làm văn (kết quả học tập phân môn Tập làm văn) ta sẽ thấy trình độ sử dụng Tiếng Việt, những tri thức và hiểu biết về cuộc sống của học sinh
Phân môn tập làm văn lớp 2 giúp cho học sinh nắm vững đơn vị tri thức cơ bản của khoa học Việt ngữ Trên cơ sở hình thành kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết đạt đến trình độ đúng, tạo điều kiện học sinh nắm được tri thức khoa học mới Vì vậy dạy học sinh tiếp thu được chương trình mới, kiến thức Tập làm văn là góp phần không nhỏ vào việc hình thành mục tiêu giáo dục và đào tạo
2.2 Thực trạng về việc dạy và học phân môn tập làm văn lớp 2 ở Trường Tiểu học Quảng Hưng.
2.2.1 Đặc điểm tình hình
- Về giáo viên: Trường Tiểu học Quảng Hưng có đội ngũ giáo viên có trình độ
chuyên môn vững vàng, trình độ đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn Có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, có tâm huyết với nghề nghiệp
- Về học sinh: Năm học 2019 – 2020 trường Tiểu học Quảng Hưng có 179
học sinh khối 2 được chia thành 5 lớp, lớp 2A do tôi phụ trách
Đa số các em học sinh học đúng độ tuổi, ngoan ngoãn, lễ phép với thầy cô Các em có đủ sách giáo khoa, đồ dùng học tập, chịu khó học bài, chuẩn bị bài và làm bài tập đầy đủ trước khi đến lớp
- Về nhà trường: Ban giám hiệu nhà trường đã thường xuyên quan tâm chỉ
đạo sát sao đến công tác dạy và học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học cho giáo viên và học sinh
Trang 42.2.2 Thực trạng về việc dạy Tập làm văn của giáo viên
Qua một số năm thực hiện dạy học lớp 2 và thông qua việc dự giờ thăm lớp
và qua trao đổi với những giáo viên dạy lớp 2 tôi nhận thấy: Đa số các giáo viên đều cho rằng dạy học sinh lớp 2 viết đoạn văn là một nội dung khó Để học sinh viết được một đoạn văn đạt kết quả cao đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị một cách công phu vì vậy rất nhiều giáo viên rất ngại dạy môn Tập làm văn nhất là khi được phân công dạy giờ chất lượng cao hay thao giảng bởi vì khi dạy bài có nội dung viết đoạn văn thì tốn rất nhiều thời gian chuẩn bị bài Học sinh làm bài lâu dẫn đến quá thời gian tiết học
Trong quá trình xây dựng kế hoạch cũng như tiến trình dạy học trên lớp nhiều giáo viên còn phụ thuộc vào sách giáo viên, chưa có sự sáng tạo, linh hoạt trong việc sử dụng các phương pháp cũng như các hình thức dạy học sao cho phù hợp với từng bài, từng đối tượng học sinh Vì vậy chưa tạo được hứng thú cho học sinh trong giờ học, chưa phát huy được vốn kiến thức sẵn có của các em vào bài học
Đa số giáo viên hướng dẫn học sinh viết đoạn văn dưới hình thức cung cấp bài văn mẫu cho học sinh, chưa phát huy được tính sáng tạo của học sinh
2.2.3 Thực trạng về việc học Tập làm văn của học sinh
Qua quá trình dự giờ thăm lớp, qua việc chấm chữa bài của học sinh trong lớp cũng như trong bài thi kiểm tra định kỳ của học sinh, tôi thấy chất lượng viết đoạn văn của các em còn chưa tốt Nhiều học sinh làm bài chưa đạt yêu cầu, còn lúng túng trong sự dùng từ đặt câu Các em thường lặp lại câu đã viết, dùng từ sai chưa chính xác Các em còn chưa biết sử dụng dấu câu, còn sử dụng một cách tự
do
Trong các giờ học Tập làm văn có nội dung viết đoạn văn, học sinh thường không làm bài xong trong tiết học mà phải làm bài tiếp ở buổi 2
Bản thân tôi là một giáo viên trực tiếp giảng dạy trên lớp, tôi luôn luôn trăn trở trước thực trạng của học sinh khi viết đoạn văn Vì vậy trong năm học 2019 –
2020, vào tuần học thứ 8 các em bắt đầu được làm quen với bài tập viết đoạn văn
Để nắm bắt tình hình thực tế của học sinh, sau khi học xong tiết Tập làm văn tuần
8, tôi đề nghị với ban giám hiệu cho phép tôi được khảo sát chất lượng viết đoạn
văn của học sinh khối 2 với đề bài: Viết đoạn văn ngắn từ 4 đến 5 câu nói về cô
giáo lớp 1 của em.
Trang 5Kết quả khảo sát như sau:
Căn cứ vào các nhận xét của giáo viên trong bài làm của học sinh của cả 5 lớp, thống kê các lỗi trong bài làm của học sinh cho thấy có 88 bài chưa hoàn thành, các bài này có các lỗi phổ biến như sau:
- Chưa biết trình bày bài thành đoạn văn
- Số lượng câu chưa đảm bảo
- Chưa biết sử dụng dấu câu
- Bài viết lặp từ, lặp câu
Tìm hiểu về nguyên nhân dẫn đến các lỗi trên, tôi nhận thấy lí do các em mắc lỗi là do:
- Do viết đoạn văn là nội dung mới với các em nên chưa nắm được cách trình bày bài
- Học sinh chưa biết cách phát triển câu văn từ các câu hỏi gợi ý
- Chưa hiểu chính xác về câu
- Do vốn từ ngữ của các em còn nghèo nàn
Từ những thực trạng của việc dạy – học viết đoạn văn cho học sinh lớp 2, tôi nhận thấy làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học Tập làm văn với nội dung viết đoạn văn cho học sinh lớp 2 đạt hiệu quả cao là một vấn đề đặt ra và sớm được giải quyết
2.3 Các biện pháp đã sử dụng
Để việc dạy và học nội dung viết đoạn văn cho học sinh lớp 2 đạt hiệu quả hơn, tôi xin đưa ra một số biện pháp cụ thể như sau:
2.3.1 Nắm vững nội dung chương trình phân môn tập làm lớp 2 nói chung và nội dung viết đoạn văn nói riêng.
Dạy học tập làm văn cho học sinh lớp 2 là dạy cho học sinh các nội dung :
Trang 6- Dạy thực hành các nghi thức lời nói tối thiểu như: chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi, nhờ cậy, yêu cầu, khẳng định, phủ định, tán thành, từ chối, chia vui, chia buồn,
- Dạy một số hiểu biết và kĩ năng phục vụ học tập và đời sống: Khai bản tự thuật ngắn, viết bức thư ngắn, nhận và gọi điện thoại, đọc và lập danh sách học sinh, tra mục lục sách, đọc thời khóa biểu, đọc và lập thời gian biểu,
- Bước đầu dạy cách tổ chức đoạn văn, bài văn, rèn kĩ năng diễn đạt( nói, viết) thông qua nhiệm vụ kể một sự việc đơn giản hoặc tả sơ lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi
-Rèn luyện kĩ năng nghe thông qua các bài tập kể lại hoặc nêu ý chính của mẩu chuyện đã nghe
Trong các nội dung trên nội dung viết đoạn văn là nội dung khó đối với học sinh lớp 2 Nội dung viết đoạn văn ngắn được đưa vào chương trình lớp 2 từ tuần học thứ 8 trở đi Nội dung viết đoạn văn trong chương trình sách giáo khoa lớp 2 gồm có những nội dung sau:
Trang 7- Viết đoạn văn về gia đình : Tuần 13
- Viết đoạn văn về một người thân : Tuần 10, Tuần 15, Tuần 34
- Viết đoạn văn về cô giáo( thầy giáo) lớp 1 của em : Tuần 8
- Viết về các mùa trong năm : Tuần 20
- Viết về một loài chim : Tuần 21
- Tả ngắn về biển: Tuần 26
- Viết về một vật: Tuần 27
- Tả ngắn về một loài quả: Tuần 28
- Một loài cây hoa: Tuần 35
- Viết về Bác Hồ: Tuần 31
- Viết về một em bé: Tuần 35
- Kể một việc làm tốt: Tuần 33
Việc nắm vững nội dung chương trình sách giáo khoa giúp giáo viên nắm vững nội dung yêu cầu của từng dạng bài, từ đó giáo viên có thể giúp học sinh hệ thống hoá một cách chắc chắn, phân biệt rõ đặc điểm của các đối tượng sẽ giúp các
em tránh được những nhầm lẫn đáng tiếc, ảnh hưởng đến chất lượng bài viết của các em
2.3.2 Vận dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh
- Kết hợp phương pháp quan sát và hỏi đáp:
Kỹ năng quan sát rất cần cho học sinh khi viết văn: Quan sát trên lớp theo gợi
ý, hướng dẫn của giáo viên hoặc tự quan sát khi chuẩn bị ở nhà Giáo viên cần khai thác kỹ tranh ảnh, hình ảnh, tập trung quan sát đặc điểm nổi bật của đối tượng, mục đích là giúp học sinh tránh được kiểu kể theo liệt kê Bên cạnh đó tôi cũng hướng dẫn học sinh cách quan sát bằng các giác quan để cảm nhận một cách có cảm xúc
về sự vật
Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh quan sát tìm ra đặc điểm của con gà trống,
tôi cho học sinh quan sát tranh con gà trống và đặt câu hỏi:
- Trên đầu gà trống có gì? Học sinh sẽ nói trên đầu gà trống có một chiếc mào màu
đỏ Tôi hỏi tiếp: Em thấy chiếc mào gà màu đỏ trông như cái gì? Học sinh sẽ liên tưởng tới màu đỏ của bông hoa từ đó học sinh sẽ nói được câu văn có hình ảnh hơn
“ Trên đầu chú gà rung rinh một chiếc mào đỏ thắm như bông hoa hồng…” Khi quan sát con mèo, nhờ mắt và tay, các em nhận ra: “ Bộ lông mèo mướp màu xám tro, mượt mà như nhung” …
Trang 8Khi hướng dẫn học sinh quan sát về quả cam, tôi hỏi:
Quả cam có hình gì? Học sinh sẽ nói quả cam có hình tròn Tôi hỏi tiếp: Em thấy quả cam tròn như cái gì? Học sinh sẽ liên tưởng đến quả bóng ném từ đó học sinh
sẽ nói: Quả cam tròn như quả bóng ném
- Để học sinh quan sát và nêu được những câu văn có cảm xúc tôi thường đặt câu hỏi như: Em yêu nhất cái gì? hoặc sự vật đó có gì đặc biệt? …
- Phương pháp thực hành giao tiếp
Thông qua phương pháp quan sát, giáo viên rèn cho học sinh kỹ năng nói, trình bày miệng bài nói trước khi làm bài viết Trên cơ sở đó, giáo viên điều chỉnh giúp học sinh hoàn thiện bài viết Với phương pháp này tôi thường tổ chức cho học sinh luyện nói cá nhân, luyện nói trong nhóm Khi tổ chức luyện nói trong nhóm tôi
có thể cho học sinh kết nhóm theo ý thích, để có sự thoải mái tự nhiên, tự tin khi tham gia làm việc trong nhóm
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ:
Học sinh lớp 2 chưa được học về lý thuyết về khái niệm từ và câu mà được hình thành thông qua thực hành luyện tập Chính vì vậy, việc tăng cường sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ rất cần thiết trong giờ học Tập làm văn Sử dụng phương pháp này để giáo viên có cơ sở giúp học sinh nhận ra cấu tạo câu, nhằm giúp các em viết câu đúng, đủ bộ phận
Ví dụ :
Dựa vào các mẫu câu được học trong phân môn luyện từ và câu: “ Ai - là gì?, “ Ai – làm gì?”, “ Ai thế nào ?”, Giáo viên hướng dẫn học sinh nhận biết những vấn đề sau:
- Câu văn của em viết ra đã đủ hai bộ phận chưa: Đâu là bộ phận trả lời cho câu hỏi Ai? ( hoặc cái gì, con gì?), đâu là bộ phận trả lời cho câu hỏi là gì ( hoặc làm gì? / như thế nào? ( Đó chính là đảm bảo về mặt nghĩa) Trên cơ sở đó, giáo viên hướng dẫn học sinh viết dấu chấm khi hết câu
- Phương pháp sử dụng từ ngữ trong câu:
Với lứa tuổi của các em học sinh lớp 2, việc sử dụng từ ngữ trong bài Tập làm văn còn nhiều hạn chế Hầu hết học sinh sử dụng từ ngữ chưa phù hợp, chưa chính xác Vì vậy, giáo viên cần cấp giúp các em lựa chọn, phân tích để sử dụng từ ngữ cho hợp lí Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần giới thiệu, cung cấp thêm các từ đồng nghĩa phù hợp với bài văn
Trang 9Ví dụ:
Khi viết đoạn văn kể về người thân thì học sinh sẽ có nhiều bài làm khác nhau, giáo viên cần giúp học sinh chọn lựa từ ngữ cho phù hợp, khi kể về bố là thầy giáo thì từ ngữ phải khác với bài viết về bố là bộ đội hay bài viết về bố làm nông nghiệp Bài viết về mẹ làm giáo viên phải khác bài viết về mẹ làm nông nghiệp Viết về tình cảm của em đối với cha mẹ, ông bà thì dùng từ phải khác với viết về tình cảm của mình đối với bạn bè Viết về cảnh biển buổi sáng có thể dùng các từ đồng nghĩa như: bình minh, hừng đông, sớm mai Viết về gia đình có các từ như đoàn tụ, sum họp, quây quần…, để tả mặt trời mùa hè có các từ chói chang, gay gắt, đỏ rực, như mâm lửa khổng lồ, như quả cầu lửa…Giáo viên cần chuẩn bị kỹ với mỗi bài để hướng dẫn học sinh vận dụng các từ ngữ thích hợp vào bài viết
- Sử dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học
Về hình thức dạy học có rất nhiều hình thức dạy học như dạy học cá nhân, nhóm, đồng loạt… Giáo viên cần phải căn cứ vào nội dung, mục đích yêu cầu của từng bài để lựa chọn các hình thức dạy học cho phù hợp
2.3.3: Linh hoạt trong quá trình tổ chức hướng dẫn học sinh viết đoạn văn
Để tránh tình trạng không làm được bài hoặc viết lan man quá nhiều câu dẫn
đến lạc đề, giáo viên giúp học sinh cần biết làm như thế nào để viết được và cần phải viết những gì trong đoạn văn ấy
Đối với học sinh lớp 2, năng lực tư duy của các em còn kém do vậy các em không thể tự mình tìm hiểu được nội dung của bài viết mà cần phải có sự hướng dẫn của giáo viên Giáo viên cần giúp học sinh những vấn đề sau:
- Xây dựng một hệ thống câu hỏi gợi ý rõ ràng:
Trong chương trình hầu hết các bài văn đều có câu hỏi gợi ý rõ, đầy đủ Giáo viên tranh thủ thời gian cuối tiết học hướng dẫn học sinh chuẩn bị, đọc câu hỏi gợi ý, suy nghĩ bài viết cho tiết học sau Hoặc chuẩn bị phần tự học khi ở nhà, trước khi lên lớp Dựa vào các câu hỏi gợi ý này các em sẽ chuẩn bị cho bài nói của mình trước lớp giúp cho học sinh tiết kiệm thời gian chuẩn bị bài mà dành thời gian
để học sinh trình bày bài nói trước lớp từ đó giáo viên có thể hướng dẫn bổ sung bài cho học sinh được tốt hơn
+ Đối với những bài có câu hỏi gợi ý giáo viên cụ thể hoá các câu hỏi giúp học sinh dễ nói và viết được những câu văn khác nhau
Ví dụ:
Trang 10Khi hướng dẫn học sinh viết đoạn văn kể về gia đình sách giáo khoa đã đưa
ra hệ thống câu hỏi gợi ý như sau:
- Gia đình em gồm có mấy người? Đó là những ai?
- Nói về từng người trong gia đình em
- Em yêu quý những người trong gia đình em như thế nào?
Với trình độ và khả năng của học sinh lớp 2 các em sẽ khó khăn trước câu hỏi gợi ý thứ 2 vì vậy khi hướng dẫn giáo viên cần gợi ý để các em có thể kể về tuổi tác, công việc hoặc tình cảm hay sự quan tâm của từng người đối với em Tuỳ vào từng đối tượng học sinh kể mà tôi đưa ra những câu hỏi cho phù hợp Ví dụ khi học sinh kể về người anh hoặc chị đã lớn tuổi trưởng thành thì tôi đặt câu hỏi gợi ý như sau:
Anh ( chị ) của em năm nay bao nhiêu tuổi? Làm việc gì? ở đâu? khi kể về người anh, chị hoặc em đang còn đi học thì tôi gợi ý để học sinh kể: Anh , chị hoặc
em của em năm nay bao nhiêu tuổi ? Đang học lớp mấy? Trường nào? Với những câu hỏi như vậy thì học sinh sẽ nói và viết câu văn dễ ràng hơn
Hay đối với bài tập làm văn tuần 25- 26 sách giáo khoa đưa ra các câu hỏi: a) Tranh vẽ cảnh gì?
2 Sóng biển như thế nào?
3 Trên mặt biển có những gì?
4 Trên bầu trời có những gì?
Với bài tập này các em chỉ dựa vào 4 câu hỏi này thì các em chỉ trả lời đơn giản là: “Tranh vẽ cảnh biển Sóng biển đang dềnh lên Trên mặt biển có những cánh buồm và những con hải âu Trên bầu trời có ông mặt trời và những đám mây…” thì đây mới chỉ là những câu trả lời khô khan, sơ lược về nội dung bức tranh, chưa phải là những câu văn hay, có hình ảnh Để học sinh nêu được những câu trả lời mở rộng hơn, phong phú hơn, từ các câu hỏi gợi ý sách giáo khoa tôi có thể phát triển các câu hỏi trên như sau:
Từ câu hỏi a tôi có thể hỏi: Tranh vẽ cảnh gì? Vào lúc nào? với câu hỏi này học sinh sẽ trả lời : Tranh vẽ cảnh biển buổi sáng, khi mặt trời đỏ rực đang từ dưới biển nhô lên bầu trời
Với câu hỏi c tôi có thể phát triển thành các câu hỏi như: Trên mặt biển có những gì? Sau khi học sinh trả lời được trên mặt biển có những cánh buồm và những con hải âu Tôi đưa ra câu hỏi tiếp: Những cánh buồm như thế nào? Những