SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ PHÒNG GD VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THANH HOÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 5 PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG ÂM VÀ TỪ NHIỀU NGHĨA Người thực
Trang 1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THANH HOÁ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 5 PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG ÂM VÀ TỪ NHIỀU NGHĨA
Người thực hiện: Lê Thị Hảo Quý Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường Tiểu học Lý Tự Trọng SKKN thuộc lĩnh vực: Tiếng Việt
THANH HOÁ - NĂM 2020
Trang 21 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Mục tiêu của môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học là hình thành vàphát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) đểhọc tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi Ngôn ngữ làphương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Con người học ngôn ngữ
từ thuở còn thơ và suốt cuộc đời không ngừng trau dồi ngôn ngữ cho mình Quanhững năm đứng trên bục giảng, tôi nhận thấy hầu như tất cả giáo viên đều rấtcoi trọng môn Tiếng Việt, dành rất nhiều thời gian cho môn học nhưng chấtlượng môn Tiếng Việt vẫn chưa đạt như mong muốn nhất là phần hiểu nghĩa của
từ Luyện từ và câu là phân môn của môn Tiếng Việt, thông qua phân môn này,học sinh biết: Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ, trang bị cho học sinh một số hiểubiết cơ bản về từ, nghĩa của từ và câu Ngoài ra, phân môn này còn rèn cho họcsinh kĩ năng dùng từ và câu, sử dụng dấu câu phù hợp, bồi dưỡng cho học sinhthói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu.Trong quá trình giảng dạy, tôinhận thấy các em thường không thích môn học này Điều đó luôn làm tôi bănkhoăn và trăn trở Sau khi nghiên cứu, tôi thấy nội dung phân môn Luyện từ vàcâu là phù hợp với năng lực nhận thức của các em Nếu người giáo viên cóphương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, tổ chức hướng dẫn các hoạt động mộtcách linh hoạt, nhẹ nhàng, thì các em sẽ rất hứng thú, chủ động nắm chắc kiếnthức nhất là phần từ đồng âm và từ nhiều nghĩa Trong chương trình môn TiếngViệt ở Tiểu học, Luyện từ và câu được tách thành một phân môn độc lập có vịtrí ngang bằng với các phân môn khác như Tập đọc, Chính tả, Tập làm văn Như vậy nội dung dạy về luyện từ và câu trong chương trình môn Tiếng Việt nóiriêng, các môn học nói chung ở Tiểu học chiếm một tỷ lệ đáng kể Điều đó nóilên ý nghĩa quan trọng của việc dạy luyện từ và câu ở Tiểu học Nói đến dạyLuyện từ và câu ở Tiểu học, người ta thường nói tới ba nhiệm vụ chủ yếu là giúphọc sinh phong phú hoá vốn từ, chính xác hoá vốn từ và tích cực hoá vốn từ.Phong phú hoá vốn từ còn gọi là mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ nghĩa là xâydựng một vốn từ ngữ phong phú, thường trực và có hệ thống trong trí nhớ họcsinh, để tạo điều kiện cho từ đi vào hoạt động ngôn ngữ (nghe - đọc, nói - viết)được thuận lợi Chính xác hoá vốn từ là giúp học sinh hiểu nghĩa của từ mộtcách chính xác - nhất là đối với những từ ngữ mà học sinh thu nhận được quacách học tự nhiên, đồng thời giúp học sinh nắm được nghĩa của những từ ngữ
mới Tích cực hoá vốn từ là giúp học sinh luyện tập, sử dụng từ ngữ trong nói viết, nghĩa là giúp học sinh chuyển hoá những từ ngữ tiêu cực (từ ngữ mà chủ
Trang 3-thể nói năng hiểu nhưng không hoặc ít dùng) thành những từ ngữ tích cực (từ
ngữ được chủ thể nói năng sử dụng trong nói - viết) phát triển kỹ năng, kỹ xảo
phát triển từ ngữ cho học sinh
Trong ba nhiệm vụ cơ bản nói trên, nhiệm vụ phong phú hoá vốn từ, phát triển, mở rộng vốn từ được coi là trọng tâm Bởi vì đối với học sinh Tiểu học,
từ ngữ được cung cấp trong phân môn Luyện từ và câu giúp các em hiểu đượccác phát ngôn khi nghe - đọc Ngoài ra, ở một chừng mực nào đó, phân mônLuyện từ và câu ở Tiểu học còn có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một số kháiniệm có tính chất sơ giản ban đầu về cấu tạo từ và nghĩa của từ Tiếng Việt (nhưcác khái niệm từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, nghĩa của từ ) Những
kiến thức có tính chất lý thuyết về từ này có tác dụng làm cơ sở, làm chỗ dựa
cho việc thực hành luyện tập về từ ngữ cho học sinh Dân gian có câu: ”Phong
ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” Vấn đề từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa là một vấn đề khá phức tạp, dễ nhầm lẫn
Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là mảng kiến thức quan trọng của phânmôn Luyện từ và câu lớp 5 Tuy nhiên, đa số học sinh vẫn chưa thấy được mốiquan hệ giữa chúng nên các em còn lúng túng khi gặp các bài tập dạng này Đểnắm chắc về mảng kiến thức này, yêu cầu các em phải có đầu óc tổng hợp caotrong khi tư duy của các em còn cụ thể, chưa phát triển tư duy trừu tượng Điềunày đòi hỏi giáo viên cần phải tìm ra được biện pháp dạy học thích hợp với tâm
lý nhận thức của các em
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm qua, chúng tôi nhận thấy: Số tiết dạy về
từ đồng âm và từ nhiều nghĩa còn ít (4 tiết):
+ Tuần 5: Từ đồng âm (1tiết )
+ Tuần 7: Từ nhiều nghĩa (2 tiết)
Luyện tập về từ nhiều nghĩa
+ Tuần 8: Luyện tập về từ nhiều nghĩa
Sách giáo khoa chỉ đưa ra một vài ví dụ điển hình, mang tính chất giớithiệu Trong khi đó mảng kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa khá trừutượng Đó là điều trăn trở, lo nghĩ của biết bao giáo viên đứng trên bục giảng khidạy phân môn Luyện từ và câu
Trăn trở về vấn đề này, qua nhiều năm dạy lớp 5, bản thân tôi đã đúc rút ramột số kinh nghiệm nhỏ về cách hướng dẫn học sinh phân biệt từ đồng âm với từ
nhiều nghĩa Vì vậy, tôi mạnh dạn đề xuất: " Một số giải pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa" nhằm giúp học sinh tốt hơn phần
kiến thức này, đồng thời giúp các em học sinh hiểu bài sâu hơn, nhớ bài lâu hơn,góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Trang 41.2 Mục đích nghiên cứu
Tìm ra các giải pháp giúp học sinh phân biệt được từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
để từ đó giúp các em tiếp thu và lĩnh hội tốt phần kiến thức này
1.3.Đối tượng nghiên cứu
Sáng kiến: “Một số giải pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng
âm và từ nhiều nghĩa” được tôi áp dụng đối với học sinh lớp 5B Trường Tiểu
học Lý Tự Trọng
Sĩ số : 47 học sinh Trong đó: Nam: 21 em, Nữ : 26 em
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Việc dạy hai bài học trên cũng tuân theo nguyên tắc chung khi dạy luyện
từ và câu và vận dụng các phương pháp, hình thức dạy học như:
- Phương pháp hỏi đáp - Hình thức học cá nhân
- Phương pháp giảng giải - Thảo luận nhóm
- Phương pháp trực quan - Tổ chức trò chơi
- Phương pháp luyện tập thực hành
1.5 Những điểm mới của sáng kiến
Cho học sinh thấy được vai trò của phân môn trong chương trình học cũngnhư giúp học sinh hiểu được nghĩa của từ, thấy được tính nhiều nghĩa và sựchuyển nghĩa của từ để từ đó biết đặt câu đúng cấu trúc ngữ pháp, đặt câu phùhợp với mục đích nói, tình huống giao tiếp Ngoài ra còn giúp học sinh sử dụngtốt các biện pháp liên kết khi viết đoạn văn, bài văn
Trang 52 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận
Con người muốn tư duy phải có ngôn ngữ Cả những lúc chúng ta nghĩthầm trong bụng, chúng ta cũng “bụng bảo dạ” cũng nói thầm, tức là cũng sửdụng ngôn ngữ, một hình thức ngôn ngữ mà các nhà chuyên môn gọi là ngônngữ bên trong Còn thông thường thì chúng ta thể hiện ra ngoài kết quả của hoạtđộng tư duy, những ý nghĩ tư tuởng của chúng ta thành những lời nói, nhữngthực thể ngôn ngữ nhất định Ngôn ngữ là công cụ, là hiện thực của tư duy Bởi
lẽ đó, tư duy và ngôn ngữ có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫnnhau Người có tư duy tốt sẽ nói năng mạch lạc, trôi chảy và nếu trau dồi ngônngữ được tỉ mỉ, chu đáo thì sẽ tạo điều kiện cho tư duy phát triển tốt Con emchúng ta, muốn lớn lên trở thành những con người hiện đại phải được giáo dụcđầy đủ trong gia đình, trong trường học, ngoài xã hội Nhưng giáo dục về bảnchất có thể nói, đó là sự chuyển giao các giá trị văn hoá đông tây, kim cổ một sựgiao tiếp cùng thời lịch sử mà phương tiện chủ yếu là lời nói của cha mẹ, thầy
cô, là sách báo các loại Nói một cách khác, giáo dục trong sự biểu hiện cụ thểcủa nó Xét cho cùng chính là một sự giao tiếp ngôn từ, giao tiếp bằng ngônngữ Trong giáo dục, việc nắm vững tiếng nói (trước hết là tiếng mẹ đẻ) có ýnghĩa quyết định Nếu học sinh chưa tốt về ngôn ngữ, nghe nói chỉ hiểu lơ mơ,nói viết không chính xác, không thể hiện được ý mình cho suôn sẻ, thì không thểnào khai thác đầy đủ các thông tin tiếp nhận từ người thầy, từ sách vở được Bởivậy, trong nội dung giáo dục, chúng ta cần phải hết sức coi trọng việc đào tạo vềmặt ngôn ngữ, xem đó là điều kiện không thể thiếu để bảo đảm thành công trongthực hiện sứ mệnh trọng đại của mình Mặt khác, Tiếng Việt là môn học chiếmthời lượng lớn nhất trong các môn học Chính Tiếng Việt đã cung cấp vốn ngônngữ đồ sộ cho học sinh Nó không những giúp học sinh am hiểu tiếng mẹ đẻ màcòn giúp học sinh phát triển tư duy để học tốt môn học khác Do đó, bản thân tôicũng như tất cả các giáo viên khác khi đi dạy luôn coi trọng việc dạy ngôn ngữ
là một điều kiện không thể thiếu để đảm bảo thành công trong việc thực hiện sứmệnh trọng đại của mình Như vậy, môn Tiếng Việt có vai trò hết sức quantrọng
Một trong những nguyên tắc cơ bản của dạy Tiếng Việt là dạy học thôngqua giao tiếp Các hoạt động giao tiếp, đặc biệt giao tiếp bằng ngôn ngữ là công
cụ chính để học sinh tiếp cận, rèn luyện và phát triển khả năng sử dụng từ TiếngViệt Do đó, việc đưa học sinh vào các hoạt động học tập trong giờ Tiếng Việtcủa chúng ta thực sự có nhiều khía cạnh khó, một trong những nội dung khó đó
Trang 6là phần nghĩa của từ Trong đó, việc phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là vấn
2.2.2 Khó khăn
Do Luyện từ và câu là một phân môn mới và khó và việc hiểu nghĩa của từđối với học sinh lại càng khó hơn cho nên giáo viên còn lúng túng trong việc tổchức một tiết dạy - học Luyện từ và câu sao cho đúng yêu cầu của phân môn,đúng đặc trưng của phân môn và đạt được hiệu quả dạy - học cao Dưới cái nhìncủa giáo viên, có thể nói một số nội dung giảng dạy (được trình bày trong sáchgiáo khoa) còn ít nhiều xa lạ và phương pháp dạy phân môn này hầu như chưađịnh hình, cho nên giáo viên gặp nhiều khó khăn trong giảng dạy Giáo viên cótâm lý ngại dạy Luyên từ và câu nhất là phần từ đồng âm và từ nhiều nghĩa Vìthế hiệu quả dạy - học giờ phần này nhìn chung còn thấp Với tôi, việc dạy phânmôn Luyện từ và câu phần từ đồng âm và từ nhiều nghĩa còn chưa tốt thường cómấy nguyên nhân cơ bản sau:
a Giáo viên
- Vốn từ ngữ của một số giáo viên chưa phong phú, chưa đáp ứng được yêucầu hướng dẫn học sinh mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ Đa số giáo viên cònlúng túng khi miêu tả, giải thích nghĩa của từ Vì vậy, việc giáo viên hướng dẫnhọc sinh tập giải nghĩa từ, làm bài tập giải nghĩa từ cũng chưa đạt hiệu quả cao
Trang 7Kiến thức về từ vựng - ngữ nghĩa học của một số giáo viên còn hạn chế, nên bộc
lộ những sơ suất, sai sót về kiến thức
- Thời lượng giảng dạy về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa còn ít, (02 tiết dạy về từ
đồng âm, 03 tiết dạy về từ nhiều nghĩa) trong khi đó căn cứ vào Hướng dẫn điều
chỉnh nội dung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì một tiết luyện tập
về từ đồng âm được giảm tải tức là tiết "Dùng từ đồng âm để chơi chữ" được
giảm tải Vì vậy, các em vận dụng vào luyện tập, thực hành và giao tiếp trongcuộc sống còn nhiều hạn chế
- Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có đặc điểm và hình thức giống nhau,
(đọc giống nhau, viết giống nhau) chỉ khác nhau về ý nghĩa nên việc xác định từ
đồng âm, từ nhiều nghĩa là vấn đề không hề đơn giản
Năm học 2019- 2020, tôi được phân công dạy lớp 5B, trường Tiểu học Lý
Tự Trọng Lớp tôi có 47 học sinh trong đó có: 26 em nữ, 21 em nam Hầu hếtcác em đều mạnh dạn, ngoan ngoãn, vâng lời thầy cô Tuy nhiên, các bài tập bảnthân tôi đưa ra các em đều khó hoàn thành hoặc hoàn thành nhưng thiếu chiềusâu, nhiều em nhớ nhanh nhưng cũng nhanh quên, vốn hiểu biết của các emkhông được mở rộng Để nắm cụ thể về thực trạng của các em trong lớp về thựctrạng tiếp thu phần từ Đồng âm và từ nhiều nghĩa với mong muốn học sinh củamình học tốt hơn, hiệu quả giờ dạy đạt cao hơn,bản thân tôi đã khảo sát chấtlượng và xem mức độ tiếp thu phần này của các em như thế nào với đề bài nhưsau:
Đ
ề bài : (Thời gian 40 phút) Câu 1:(1 điểm )
a) Dòng nào dưới đây chứa từ đồng âm ?
A Ba/ Tía/ Bố/ Thầy
Trang 8B Cánh đồng/ Tượng đồng/ Đồng xu
C Miệng rộng thì sang/ Miệng bát/ Miệng ăn
b) Cặp từ ngữ nào dưới đây chứa từ nhiều nghĩa ?
A Vách đá - Đá bóng
B Anh dũng - Dũng cảm
C Đôi mắt - Mắt cá chân
Câu 2: (3 điểm)
Từ bay trong các câu sau là từ đồng âm hay từ nhiều nghĩa ?
A Bác thợ nề đang cầm bay trát tường.
B Cánh cò bay lả dập dờn.
C Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đạn quân thù bay vèo vèo.
D Chiếc áo xanh của bố em đã bay màu.
Câu 3: (3 điểm)
Đặt câu với các từ nhiều nghĩa sau: (một câu theo nghĩa gốc, một câu
theo nghĩa chuyển): nhà, đi, ngọt.
Câu 4: (3 điểm)
Với mỗi từ sau, hãy đặt 2 câu để phân biệt các từ đồng âm: chiếu, kén, mọc.
Đ
áp án đ ề khảo sát:
Tôi tiến hành khảo sát ở 2 lớp: Lớp 5B (do tôi làm chủ nhiệm) và 5C
Câu 1: (1 điểm) Mỗi lựa chọn đúng được 0,5 điểm
a) B b) C
Câu 2: (3 điểm) Mỗi xác định đúng được 0,75 điểm
A Cầm bay trát tường: Từ đồng âm
B Cánh cò bay: Từ nhiều nghĩa (nghĩa gốc)
C Đạn bay: Từ nhiều nghĩa (nghĩa chuyển)
D Bay màu: Từ nhiều nghĩa (nghĩa chuyển)
Từ bay ở câu A với từ bay ở câu B hoặc câu C hoặc câu D là từ đồng âm Còn từ
bay ở câu B,C, D là từ nhiều nghĩa
Câu 3: (3 điểm) Học sinh đặt đúng mỗi câu được 0,5 điểm
Ví dụ :
- Ngôi nhà đẹp quá./ Nhà tôi đi vắng.
- Em bé đang chập chững tập đi / Tuần sau, chúng tôi đi du lịch Thái Lan.
- Quả cam ngọt quá./ Chị ấy nói ngọt thật.
Câu 4: (3 điểm) Học sinh đặt đúng mỗi câu được 0,5 điểm
Ví dụ :
- Ánh trăng chiếu qua kẽ lá./ Bà tôi trải chiếu ra sân ngồi hóng mát.
- Con tằm đang làm kén / Cô ấy là người hay kén chọn.
Trang 9- Mặt trời mọc./ Bát bún mọc ngon tuyệt.
Sau khi thu và chấm bài, chúng tôi thấy các em đều làm đúng câu 1; câu 2thì có một số ít em còn nhầm lẫn; câu 3, 4 thì chỉ ít em đặt câu đúng yêu cầu.Câu 4 có một, hai em chưa kịp làm đến
Và kết quả làm bài của học sinh đạt được như sau:
Thời gian
kiểm tra Lớp
Tống
số học sinh
Kết quả Hoàn thành
Qua kết quả làm bài khảo sát, tôi nhận thấy đa số các em đều làm chưa tốt
Số em hoàn thành tốt còn ít, số em hoàn thành và chưa hoàn thành còn nhiều.Bản thân tôi suy nghĩ và rút ra được: các em làm được kết quả như vậy là donhững nguyên nhân sau:
- Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có đặc điểm và hình thức giống nhau, đọc
giống nhau, viết cũng giống nhau chỉ khác nhau về ý nghĩa
Ví dụ 1: Từ đồng âm “bàn”(1) trong “cái bàn” và “bàn” trong “bàn công
việc” xét về hình thức ngữ âm thì hoàn toàn giống nhau còn nghĩa thì hoàn toàn
khác nhau: “bàn” (1) là danh từ chỉ một đồ vật có mặt phẳng, chân đứng để đồ đạc hoặc làm việc, “bàn” (2) là động từ chỉ sự trao đổi ý kiến.
Ví dụ 2: Từ nhiều nghĩa: “bàn”(1) trong “cái bàn” và “bàn”(2) trong “bàn phím” Hai từ “bàn” này, về hình thức ngữ âm hoàn toàn giống nhau còn nghĩa thì “bàn” (1) là danh từ chỉ một đồ vật có mặt phẳng, có chân dùng để đi kèm với ghế làm đồ nội thất; “bàn”(2) là bộ phận tập hợp các phím trong một số loại đàn hoặc máy tính bàn” trong “cái bàn” và “bàn” trong “bàn công việc”đều mang nghĩa gốc, VD2 “bàn” trong “cái bàn” mang nghĩa gốc còn “bàn” trong
“bàn phím” mang nghĩa chuyển
- Trong chương trình Tiếng Việt 5 chưa có dạng bài tập phối hợp cả hai kiến
thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa để học sinh rèn kĩ năng phân biệt
- HS còn chưa phân biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
* Các giải pháp giúp nâng cao chất lượng giảng dạy phần từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
Để giảng dạy tốt môn này, tôi đã đưa các biện pháp như sau:
Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa bằng cách sử dụng tranh ảnh, vật thật để minh họa cho nghĩa của từ.
Trang 10Trong quá trình dạy học các bài về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, giáo viêncần sử dụng đồ dùng dạy học, tranh ảnh minh họa nhằm giúp học sinh dễ dàngphân biệt nghĩa của từ.
Ví dụ:
Học sinh dễ dàng nhận biết từ đồng trong ví dụ trên là từ đồng âm vì
chúng không liên quan gì với nhau về nghĩa
Học sinh dễ dàng nhận biết từ đá trong ví dụ trên là từ đồng âm vì chúng
không liên quan gì với nhau về nghĩa, hơn nữa chúng lại khác nhau về từ loại
Bé bị đau chân Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân
Học sinh dễ dàng phân biệt được:
Trang 11+ đau chân: Từ nhiều nghĩa (nghĩa gốc Chân: Bộ phận dưới cùng của cơ
thể người hay động vật, dùng để đi, đứng, chạy, nhảy, )
+ kiềng ba chân: Từ nhiều nghĩa (nghĩa chuyển Chân: Bộ phận dưới
cùng của chiếc kiềng dùng để đỡ một số bộ phận khác
Như vậy: Khi hướng dẫn các em phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa thì
việc dùng tranh ảnh, vật thật minh họa có vai trò quan trọng và giúp học sinh dễdàng nhận biết nghĩa của từ
Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa bằng cách đặt từ vào văn cảnh để hiểu đúng nghĩa của từ.
Ví dụ 1 :
Từ “đậu”trong câu sau quan hệ với nhau về nghĩa thế nào ?
“Ruồi đậu mâm xôi đậu.”
Trong văn cảnh này từ đậu thứ nhất “ruồi đậu” là động từ có nghĩa con ruồi nó dừng lại ở trên mâm xôi Còn từ đậu thứ hai “xôi đậu” được nấu từ gạo
nếp và loại đậu nào đó, từ đậu ở đây thuộc từ loại là danh từ
Vì vậy từ đậu trong câu trên là từ đồng âm.
Ví dụ 2 :
Từ vàng trong các câu sau là từ đồng âm hay từ nhiều nghĩa ?
a) Giá vàng trong nước tăng đột biến.
b) Mẹ em là một người có tấm lòng vàng.
c) Chiếc lá vàng rơi xuống sân trường.
- Trước hết tìm hiểu nghĩa của từ vàng trong từng câu như sau:
+ Giá vàng: chỉ số tiền để mua một lượng vàng nhất định (Ví dụ: Hôm
nay giá vàng là 3.500.000 đồng một chỉ.)
+ Tấm lòng vàng: là một người có tình yêu thương với tất cả mọi người,
sẵn sàng giúp đỡ mọi người không vì mục đích gì
+ Lá vàng: chỉ trạng thái của lá cây ở giai đoạn chuẩn bị lìa cành.
- Như vậy, học sinh dễ dàng xác định được:
+ Từ vàng trong Giá vàng/ tấm lòng vàng là từ nhiều nghĩa (giá vàng:
vàng mang nghĩa gốc/ tấm lòng vàng: vàng mang nghĩa chuyển)
+ Từ vàng trong Giá vàng/ lá vàng là từ đồng âm.
+ Từ vàng trong Tấm lòng vàng/ lá vàng là từ đồng âm.
Ví dụ 3 :
Từ “chỉ” trong các trường hợp sau là từ đồng âm hay nhiều nghĩa ?
Cái kim sợi chỉ - chiếu chỉ - chỉ đường - một chỉ vàng.