Việc dạy học Đại lượng và đo đại lượng tốt sẽ có tác dụng giúp học sinh: hệ thống hoá các kiến thức về Đại lượng và đo đại lượng đã học, tăng cường các kiến thức luyện tập thực hành gắn
Trang 1MỤC LỤC
1 Mở đầu 1
1.1 Lý do chọn đề tài: 1
1.2 Mục đích nghiên cứu: 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu: 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu: 2
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 3
2.1 Cơ sở lý luận: 3
2.2 Thực trạng: 4
2.2.1 Những thuận lợi và khó khăn ……….…4
2.2.2 Khảo sát thực trạng: ……….5
2.3 Các giải pháp thực hiện: 6
2.3.1 Dạy học về đơn vị độ dài:……….6
2.3.2 Dạy học về đơn vị khối lượng ……….6
2.3.3 Dạy học về đơn vị đo thời gian: ……….7
2.3.4 Dạy học về đơn vị đo diện tích: ……….7
2.4 Kết quả đạt được: 17
3 Kết luận, kiến nghị: 19
3.1 Kết luận: 19
3.2 Kiến nghị: 20
Trang 21 Mở đầu 1.1 Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết: Tiểu học là cấp học nền tảng, là cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của con người, tạo cho trẻ phát triển
về trí tuệ, tình cảm Trong chương trình Tiểu học nói chung và lớp 4 nói riêng môn Toán là một môn học đóng vai trò rất quan trọng, nó chiếm thời lượng lớn trong chương trình học Thông qua việc học Toán các em sẽ được hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hoá, khái quát hoá Học Toán sẽ rèn luyện cho học sinh khả năng suy nghĩ, suy luận, giải quyết vấn đề, diễn đạt đúng ý Và còn bồi dưỡng cho trẻ tính chính xác, đức tính trung thực, cẩn thận và hăng say lao động, Việc giúp học sinh hình thành kiến thức và rèn luyện kĩ năng về môn toán có tầm quan trọng đáng kể vì điều đó giúp các em định hướng trong không gian, gắn liền việc học tập với cuộc sống xung quanh và hỗ trợ học sinh học tập tốt các môn học khác
Đối với toán lớp 4 có thể coi là giai đoạn mở đầu, học sinh sẽ học tập ở mức sâu hơn, khái quát hơn về 5 mạch nội dung (Số học và một số yếu tố đại số; Đại lượng – Đo đại lượng; Các yếu tố hình học; Giải toán có lời văn; Các yếu tố thống kê) Ở đây học sinh được tích luỹ, mở rộng kiến thức phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí, phù hợp với kinh nghiệm sống của các em Điều này được thể hiện rõ ở nội dung học về “Đại lượng và đo đại lượng” Nội dung dạy học Đại lượng và đo đại lượng giữ vai trò rất quan trọng nhằm giúp học sinh vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống rất nhiều
Việc dạy học Đại lượng và đo đại lượng tốt sẽ có tác dụng giúp học sinh: hệ thống hoá các kiến thức về Đại lượng và đo đại lượng đã học, tăng cường các kiến thức luyện tập thực hành gắn liền thực tế xung quanh học sinh và phát triển năng lực cá nhân của học sinh Dạy học tốt nội dung này giúp các em có mối quan hệ mật thiết với các kĩ năng học toán khác
Song trong thực tế giảng dạy tôi nhận thấy đây là phần kiến thức khó dạy, học sinh chưa hứng thú khi học nội dung này và nhiều giáo viên còn gặp lúng túng khi dạy Vậy làm thế nào để nâng cao hiệu quả của việc dạy – học Đại lượng và đo đại lượng Qua quá trình nghiên cứu, áp dụng vào thực tế giảng dạy tôi đã thu được
kết quả tốt Tôi mạnh dạn trình bày “ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả khi dạy – học về Đại lượng và đo đại lượng cho học sinh lớp 4”
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của đề tài là đưa ra một số giải pháp giúp cho việc dạy – học về Đại lượng và đo đại lượng cho học sinh lớp 4 đạt hiệu quả cao
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả khi dạy – học về Đại lượng và đo đại lượng cho học sinh lớp 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
Trang 3- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lý luận:
Chương trình môn Toán ở Tiểu học về cơ bản được xây dựng trên cơ sở hoạt động của người học và người dạy Điều này thể hiện quan điểm kiến tạo Mỗi kiến thức toán trong chương trình được thiết kế dưới dạng cung cấp thông tin và chỉ dẫn các hoạt động học tập, nhằm làm cho người học bằng hoạt động của mình, dưới sự điều khiển của giáo viên, tự xây dựng nên kiến thức cho bản thân
Các kiến thức, kĩ năng của môn toán có nhiều ứng dụng trong đời sống, giúp học sinh nhận biết mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và công nghệ thông tin đó làm cho khả năng nhận thức của trẻ cũng vượt trội Điều đó đòi hỏi những nhà nghiên cứu giáo dục luôn luôn phải điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp với nhận thức của từng đối tượng học sinh nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện góp phần đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quê hương, đất nước
Nội dung cơ bản về Đại lượng và đo đại lượng cũng được xây dựng dựa trên hoạt động của người học và người dạy, bao gồm:
- Nội dung dạy học “Đại lượng và đo đại lượng” bổ sung hoàn thiện hệ thống hóa các kiến thức về đại lượng và đo đại lượng đã học
- Nội dung dạy học “Đại lượng và đo đại lượng” có cấu trúc hợp lí, sắp xếp đan xen với các mạch kiến thức khác làm nỗi rõ hạt nhân số học phù hợp với sự phát triển theo từng giai đoạn học tập của học sinh
- Nội dung dạy học “Đại lượng và đo đại lượng” đã được tăng cường các kiến thức luyện tập thực hành gắn liền với thực tế đời sống xung quanh học sinh
- Nội dung dạy học “Đại lượng và đo đại lượng” thể hiện đúng trình độ chuẩn của mạch kiến thức này, đảm bảo các yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng đồng thời tạo điều kiện để phát triển năng lực cá nhân của học sinh
Với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 4: có khả năng khái quát hoá những vấn đề đơn giản nhưng hoạt động phân tích tổng hợp kiến thức còn hạn chế Các em đã có sự ghi nhớ nhưng hiệu quả của việc ghi nhớ còn phụ thuộc vào sự tập trung của trí tuệ, sự lôi cuốn hấp đẫn của phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
Từ cơ sở đó giáo viên vận dụng những phương pháp dạy học tích cực (lấy học sinh làm trung tâm) trong quá trình giảng dạy nhằm đạt hiệu quả cao trong dạy học
2.2 Thực trạng:
2.2.1 Những thuận lợi và khó khăn.
a Đối với giáo viên:
* Thuận lợi:
Trang 4- Ban giám hiệu luôn tạo điều kiện giúp đỡ trong việc giảng dạy của giáo viên đứng lớp Đồ dùng giảng dạy về các yếu tố đại lượng và đo đại lượng được nhà trường trang bị tương đối đầy đủ
- Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, năng nổ, yêu nghề mến trẻ Với vai trò là giáo viên chủ nhiệm các cô giáo có điều kiện gần gũi với học sinh không chỉ lớp mình chủ nhiệm mà còn với học sinh lớp khác trong khối
- Là giáo viên đã từng giảng dạy lớp 4 nhiều năm nên ít nhiều đã nắm được đặc điểm, đặc trưng của môn toán và khả năng tiếp thu của học sinh
* Khó khăn:
Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy người giáo viên còn gặp những khó khăn sau:
- Khi dạy về Đại lượng và đo đại lượng giáo viên chưa hệ thống mạch kiến thức này đồng thời chưa giúp học sinh xâu chuỗi các mạch kiến thức
- Khi dạy –học về Đại lượng và đo đại lượng giáo viên chưa mạnh dạn đổi mới hình thức tố chức dạy học và phương pháp dạy học, chưa đảm bảo cá thể hoá hoạt động học tập của học sinh, chưa giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức
và sáng tạo khi làm bài
- Khi học về Đại lượng và đo đại lượng sự vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực hành chưa cao nên học sinh chưa áp dụng được vào thực tế
a Đối với học sinh:
* Thuận lợi:
- 100% học sinh có đầy đủ sách giáo khoa và đồ dùng học tập
- Học sinh thích được thực hành trên đồ vật cụ thể
* Khó khăn:
- Học sinh còn lúng túng khi thực hành một số thao tác cơ bản
+ Biểu tượng về Đại lượng và đo đại lượng nắm chưa sâu nên còn nhầm lẫn Khả năng tưởng tượng còn yếu do đó gặp nhiều khó khăn khi áp dụng thực tế
+Do đặc điểm lứa tuổi các em còn chưa tập trung cao trong học tập, còn hạn chế về kĩ năng thực hành, nắm mạch kiến thức còn hời hợt mau nhớ mau quên
2.2.2 Khảo sát thực trạng:
Chính vì vậy Sau khi dạy xong phần Đại lượng và đo đại lượng, tôi đã tiến hành khảo sát như sau:
+ Nội dung khảo sát: 1 bài
+ Thời gian khảo sát: 40 phút
Bảng 1: Tổng hợp kết quả khảo sát thực trạng:
Số HS
tham gia
Kết quả
Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành
Trang 5* Qua trực tiếp giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp, khảo sát chất lượng, tôi nhận
thấy học sinh gặp mắc phải một số lỗi sau:
1 Nhầm lẫn tên đơn vị khi so sánh, chuyển đổi các đơn vị đo
2 Không nắm vững quan hệ giữa các đơn vị đo trong cùng một đại lương
3 Không hiểu bản chất của phép tính trên các số đo đại lượng
4 Không vận dụng được khái niệm và các phép tính về phân số
5 Sai lầm khi thực hiện các phép tính số học hoặc các phép tính trên số đo đại lượng
6 Nhầm lẫn mối quan hệ giữa đơn vị đo độ dài và diện tích
2.3 Các giải pháp thực hiện:
Giải pháp1: Giúp giáo viên hệ thống hoá mạch kiến thức “Đại lượng và
đo đại lượng”, đưa ra mối quan hệ về kiến thức giữa các bài học.
Trong chương trình toán học ở Tiểu học nói chung và Toán 4 nói riêng, các kiến thức về phép đo đại lượng gắn bó chặt chẽ với các kiến thức số học và hình học Khi dạy học hệ thống đơn vị đo của mỗi đại lượng đều phải nhằm củng cố các kiến thức về hệ ghi số (hệ thập phân) Ngược lại, việc củng cố này có tác dụng trở lại giúp nhận thức rõ hơn mối quan hệ giữa các đơn vị đo của đại lượng đó có kiến thức về phép tính số học làm cơ sở cho việc dạy học các phép tính trên số đo đại lượng Việc chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng được tiến hành trên cơ sở hệ ghi số; đồng thời việc đó cũng góp phần củng cố nhận thức về số tự nhiên, phân số, số thập phân theo chương trình toán Tiểu học Việc so sánh và tính toán trên các số đo đại lượng góp phần củng cố nhận thức về khái niệm đại lượng, tính cộng được của đại
lượng cộng được, đo được
Để dạy tốt mạch kiến thức này giáo viên cần nắm chắc nội dung chương trình hệ thống hoá được các kiến thức cần thiết Dạy học “Đại lượng và đo đại lượng” trong Toán 4 bao gồm các nội dung kiến thức:
* Dạy học về đơn vị độ dài:
Tiếp tục củng cố và rèn luyện kĩ năng về:
+ Đọc, viết số đo độ dài (có 1 hoặc 2 tên đơn vị đo)
+ Chuyển đổi các đơn vị đo độ dài
+ Làm tính và giải toán liên quan đến các số đo độ dài
+ Thực hành đo và ước lượng số đo độ dài trong các trường hợp đơn giản
* Dạy học về đơn vị khối lượng
- Giới thiệu tên gọi, kí hiệu, độ lớn của các đơn vị đo khối lượng: tấn, tạ, yến,
hg, dag
- Hệ thống hoá các đơn vị đo khối lượng thường dùng thành bảng đơn vị đo khối lượng
+ Chuyển đổi số đo khối lượng
+ Làm tính và giải toán với các số đo theo đơn vị: tấn, tạ, yến, kg và g
+ Thực hành cân các đồ vật thông dụng hằng ngày Tập ước lượng “cân nặng” trong một số trường hợp đơn giản
Trang 6* Dạy học về đơn vị đo thời gian:
+ Giới thiệu các đơn vị đo thời gian: Giây; thế kỉ và quan hệ giữa một số đơn
vị đo thời gian
+ Tập chuyển đổi số đo thời gian
+ Củng cố và rèn luyện kĩ năng: thực hành đo thời gian với các đơn vị đo thường gặp là: giờ, phút, giây, tháng, năm; thực hành xem lịch, xem đồng hồ
+ Củng cố nhận biết về thời điểm và khoảng thời gian
* Dạy học về đơn vị đo diện tích:
+ Giới thiệu các đơn vị đo diện tích: dm2; m2; km2
+ Nhận biết quan hệ giữa một số đơn vị đo diện tích thường gặp
+ Chuyển đổi số đo diện tích
+ Làm tính và giải toán liên quan tới các số đo diện tích, trong đó có các bài toán về tính diện tích của hình chữ nhật; hình vuông; hình bình hành; hình thoi
* Khi đã nắm chắc các mạch kiến thức thì giáo viên cần liên hệ giữa các mạch kiến thức trên cụ thể trong các bài dạy, tiết dạy:
+ Khi dạy – học về đơn vị đo khối lượng cần thấy được điểm giống với đơn vị
đo độ dài là mối quan hệ giữa các đơn vị đo và mỗi đơn vị đo đều ứng với 1 chữ số
+ Khi dạy học về đơn vị đo diện tích cần thấy được điểm khác giữa đơn vị đo
độ dài với đơn vị đo độ dài ở điểm là mỗi đơn vị đo diện tích ứng với 2 chữ số Khi dạy về đơn vị đo độ dài, đơn vị đo diện tích tôi đều cho học sinh liên hệ, so sánh cách đọc, cách viết giữa số đo độ dài với số đo diện tích (dm – dm2; km – km2; )
Giúp học sinh nhớ mối quan hệ giữa các đơn vị đo
Ví dụ: Khi dạy bài Đề xi mét vuông hoặc mét vuông
Để làm được các bài đổi từ đơn vị đo ra đơn vị đo bé hơn hoặc ra đơn vị đo
bé hơn GV cho học sinh nắm vững phép nhân 1 số với 10,100,1000 hoặc chia 1
số cho 10, 100, 1000 ở bài trước Chẳng hạn:
Để làm bài 68dm2 = cm2 học sinh phải giải thích được cách làm là: vì 1dm2
= 100cm2 nên 68dm2 = 68 x100 = 6800cm2 Vậy 68dm2 = 6800cm2
+ Khi dạy học các bài ôn tập về đại lượng cần giúp học sinh liên hệ đến các bài về khái niệm ban đầu của các đại lượng ấy
Giải pháp 2: Giúp giáo viên mạnh dạn đưa phương pháp và hình thức tổ chức dạy - học phù hợp với từng dạng bài khi dạy mạch kiến thức Đại lượng
và đo đại lượng Từ đó cá thể hoá hoạt động học tập của học sinh giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức và có nhiều cách giải hay, sáng tạo.
Như chúng ta đã biết học sinh tiểu học còn có những hạn chế trong việc nhận thức: tri giác còn gắn với hành động trên đồ vật, khó nhận biết được các hình khi chúng thay đổi vị trí trong không gian hay thay đổi kích thước, khó phân biệt những đối tượng giống nhau, chú ý của học sinh tiểu học chủ yếu là chú ý không có chủ định, nên học sinh tiểu học hay chú ý tới cái mới lạ, hấp dẫn, cái đập vào trước mắt hơn là cái cần quan sát, đối với học sinh tiểu học trí nhớ trực quan hình tượng phát triển mạnh hơn trí nhớ câu chữ trừu tượng, trí tưởng tượng phụ thuộc hình mẫu có thực, tư duy cụ thể là chủ yếu, còn tư duy trừu tượng dần dần hình thành
Trang 7Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn mạnh dạn áp dụng đổi mới phương pháp giảng dạy vào từng hoạt động cụ thể của tiết học Kết hợp sử dụng các hình thức tổ chức phù hợp với mục đích bài học giải quyết những lỗi mà các em gặp phải trong quá trình học về Đại lượng và số đo đại lượng Cụ thể:
- Đọc các tài liệu có liên quan đến dạy học về Đại lượng và số đo đại lượng
- Thực hiện những phương pháp dạy học tích cực trong quá trình hướng dẫn học sinh học về Đại lượng và số đo đại lượng
- Luôn phát huy tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh kiến thức, sáng tạo khi làm bài của học sinh trong quá trình dạy – học
Sau khi học sinh đã nắm vững lí thuyết các dạng bài về đại lượng và đo đại lượng, giáo viên củng cố kiến thức thông qua thực hành làm bài tập để củng cố Tuy nhiên cần tổ chức các tiết học sao cho mọi đối tượng học sinh đều hoạt động một cách chủ động để đạt kết quả cao nhất như: lựa chọn bài tập phù hợp Đối với học sinh chậm cần giúp đỡ riêng để các em đạt yêu cầu, đối với học sinh tiếp thu nhanh, học sinh năng khiếu cần khai thác phát triển các bài tập nâng cao để các em
có điều kiện bộc lộ và phát triền năng lực của mình Để làm tốt điều đó, tôi đã tiến hành dạy theo các bước sau:
Bước 1 Trước khi thực hành làm bài tập cần kiểm tra lí thuyết giúp các em nhớ lại kiến thức đã học:
- Nêu các đơn vị vừa được học
- Nêu mối quan hệ giữa hai đơn vị đo liền kề nhau
- Nêu mối quan hệ giữa hai đơn vị đo bất kì (Dành cho học sinh năng khiếu)
- Nêu yêu cần của đề bài: Đổi từ đơn vị nào ra đơn vị nào?
Bước 2 Học sinh làm bài: Tùy theo từng yêu cầu của mỗi loại bài giáo viên
có thể cho học sinh làm bài cá nhân hoặc làm theo nhóm hay tổ chức trò chơi theo một lượng thời gian nhất định
Bước 3 Chữa bài:
- Giáo viên có thể tổ chức chữa chung cả lớp: Yêu cầu học sinh đọc bài – Giải thích cách làm – Nêu cách làm khác (nếu có)
- Giáo viên có thể chữa riêng (đối với học sinh tiếp thu chậm) để giúp các em nắm vững kiến thức
Dạng 1: Dạng bài giới thiệu đơn vị và hình thành khái niệm đơn vị đo đại lượng
Để giới thiệu một đơn vị đo đại lượng, giáo viên phải làm cho học sinh hiểu các biểu tượng về đại lượng được hình thành bằng cách mô tả, thao tác trên vật, trên cơ sở đó tìm ra cái chung nhất, đặc trưng cho đại lượng Chẳng hạn đặc tính
“nặng - nhẹ” của các vật biểu thị cho khối lượng của vật, đặc tính “dài – ngắn” của vật biểu thị cho độ dài của vật Trên cơ sở đó giới thiệu đơn vị đo đại lượng nhằm
đo đạc, so sánh, tính toán giá trị của đại lượng Tùy vào từng đơn vị đo được hình thành mà chúng ta lựa chọn cách tiến hành cho phù hợp
Ví dụ: Khi dạy về Đề - xi - mét vuông.
- Giáo viên đưa hình minh hoạ, giới thiệu và giao nhiệm vụ cho các nhóm:
Trang 8+ Đo cạnh của hình vuông, tính diện tích hình vuông đó.
+ Từ cách viết kí hiệu cm2 đã học, học sinh nêu cách kí hiệu dm2
- GV yêu cầu các nhóm tự thảo luận và nêu kết quả thảo luận: cạnh hình vuông là 1dm, diện tích hình vuông là1dm2
- GV giúp HS nêu được vấn đề: Đề xi mét vuông là gì? Để học sinh trả lời:
Đề xi mét vuông là diện tích hình vuông có cạnh là 1dm
Tương tự khi dạy bài “Mét vuông”, giáo viên treo bảng 1 mét vuông lên bảng lớn, giới thiệu và đặt câu hỏi gợi ý để học sinh tự hiểu được mét vuông là diện tích hình vuông có cạnh 1mét Từ đó học sinh liên hệ, hình dung thấy được hình vuông 1m2 được lấp đầy bởi 100 hình vuông có diện tích 1dm2, qua đó thấy được 1m2 = 100dm2
Cho học sinh xem tranh (ảnh) chụp một quyển sách, một mảnh vườn nhỏ, một cánh đồng hay một khu rừng, biển và giới thiệu: Để đo diện tích của những vật nhỏ người ta dùng đơn vị cm2, dm2 để đo diện tích của cánh đồng, biển, rừng, người ta dùng đơn vị đo diện tích lớn hơn là km2
Dạng 2: Dạy hệ thống đơn vị đo, cách chuyển đổi đơn vị đo
* Để hệ thống được đơn vị đo và chuyển đổi thành thạo các đơn vị đo cần giúp học sinh nắm chắc kiến thức ban đầu về Đại lượng và số đo đại lượng:
- Nắm vững từng bảng đơn vị đo Thuộc thứ tự bảng đó từ nhỏ đến lớn và ngược lại từ lớn đến nhỏ
- Nắm vững được quan hệ giữa 2 đơn vị đo lường liền nhau và giữa các đơn
vị khác nhau
- Xác định yêu cầu bài tập loại bài tập đổi từ lớn ra bé hay từ bé ra lớn
- Thực hành chuyển đổi đơn vị đo
*Cụ thể:
- Khi thực hiện đổi đơn vị đo độ dài: GV yêu cầu học sinh thuộc các đơn vị trong bảng đơn vị đo độ dài, nắm chắc mối quan hệ giữa các đơn vị đo độ dài liền
kề “Hai đơn vị đo khối lượng liên tiếp gấp (hoặc kém) nhau 10 lần” hoặc giữa các đơn vị trong bảng đo độ dài như:
1km = 1000 m; 1dam = 10 m; 1m = 1000mm; 1dm = 100 mm…
Giúp học sinh củng cố nhận thức về hệ đếm thập phân và đặc điểm của tập hợp số tự nhiên: “Cứ mười đơn vị ở một hàng lại tập hợp thành một đơn vị ở hàng trên tiếp liền nó”
- Khi chuyển đổi các đơn vị đo Thời gian cần giúp cho các em thấy được
quan hệ giữa các đơn vị đo thời gian không chuyển đổi theo hệ đếm cơ số 10, các đơn vị tiếp liền nhau không hơn kém nhau cùng một số lần Giáo viên hệ thống hoá, giúp các em nắm chắc và ghi nhớ các mối quan hệ cơ bản về đơn vị đo thời gian như:
1ngày = 24 giờ; 1giờ = 60 phút; 1phút = 60 giây;
1năm = 12 tháng; 1tuần lễ = 7 ngày; 1thế kỉ = 100 năm
- Khi thực hiện đổi đơn vị đo giáo viên cần lưu ý học sinh:
Trang 9+ Đối với đơn vị đo khối lượng và đo độ dài thì hai đơn vị đo liền kề nhau hơn kém nhau 10 lần Khi viết mỗi số đo độ dài hay đo khối lượng, ta có thể hiểu ngầm mỗi hàng mỗi đơn vị đo khối lượng hay đo độ dài tương ứng với một chữ số
VD: 5175kg = …tấn …tạ … yến …kg
5 1 7 5kg = 5 tấn 1tạ 7yến 5kg
tấn tạ yến kg
VD: 5420mm = m mm
5 4 2 0mm = 5 m 420mm
m dm cm mm
+ Đối với đơn vị đo diện tích thì hai đơn vị đo liền kề nhau gấp (kém) nhau
100 lần: 1dm2 = 100 cm2; 1m2 = 100 dm2 nên “Khi viết mỗi đơn vị đo diện tích, mỗi hàng mỗi đơn vị đo diện tích tương ứng với hai chữ số”
Ví dụ: 345678 cm2 = 34m2 56dm2 78cm2
Lưu ý: Chữ số hàng đơn vị bao giờ cũng gắn với tên đơn vị của số đó
*Ví dụ minh hoạ:
Ví dụ 1 : (Bài 2c – trang 171 – Toán 4) 3 tấn 25 kg = kg
* Cách tiến hành:
Giúp cho HS củng cố, nắm chắc được mối quan hệ giữa tấn với kg (1 tấn = 1000kg) Vậy ta có thể hướng dẫn để học sinh làm như sau:
Vì 1 tấn = 1000 kg nên 3 tấn = 3000 kg (3 x 1000kg)
Ta có: 3 tấn 25 kg = 3000 kg + 25 kg = 3025 kg
Vậy: 3 tấn 25 kg = 3 025kg
Ví dụ 2 : (Đổi số đo thời gian) Bài 2a (trang 171 – Toán 4)
3 giờ 15 phút = phút.
*Cách tiến hành:
Học sinh phải nắm chắc 1 giờ = 60 phút
Ta có: 3 giờ 15 phút = 3 giờ + 15 phút = 180 phút + 15 phút = 195 phút
Vậy: 3 giờ 15 phútt = 195 phút.
- Các bài tập khác hướng dẫn tương tự:
3 phút 25 giây = …giây 8 phút 15 giây = ….giây
5 giờ 20 phút = ….giây; ……
Ví dụ 3 : (đổi số đo diện tích) Bài 2 (toán 4 –trang 65):
10 dm2 2 cm2 = … cm2.
*Cách tiến hành:
Học sinh có thể đổi: Vì 1dm2 = 100cm2
Ta có: 10dm2 = 10 x 100cm2 = 1000cm2
Nên: 10dm2 2cm2 = 1000cm2 + 2cm2 = 1002cm2
Vậy: 10dm 2 2cm 2 = 1002cm 2
Trang 10Đối với các em học sinh tiếp thu tốt các em có thể tự hoàn thành được thì sau khi ra kết quả, giáo viên yêu cầu các em giải thích cách làm
Ví dụ 4: Bài 4 (Toán 4 - trang 64) Điền dấu >; <; =
210cm2 … 2dm2 10cm2 ; 1954cm2 … 19dm250cm2
- Học sinh có thể vận dụng cách làm trên để tìm ra kết quả
+ Đổi 2dm2 10cm2 =210cm2 ; 19dm2 50cm2 = 1950cm2 rồi so sánh để điền dấu thích hợp
- Ngoài cách làm trên, giáo viên có thể cho học sinh nêu cách đổi khác để so sánh
Ví dụ 5: (Số đo thời gian) Bài 2a (Toán 4 – trang 171)
420 giây = ….phút
Học sinh thường viết: 420 giây : 60 giây = 7 phút, vậy 420 giây = 7 phút
Ở đây, học sinh đã tìm ra được kết quả đúng nhưng trình bày sai vì không hiểu bản chất của phép tính được viết ra Trong cách viết trên thì phải hiểu đó là tỉ
số (thương) của hai số đo thời gian cùng một đơn vị đo là giây Vì vậy giá trị của tỉ
số này phải là 7, chứ không phải là 7 phút
Vậy GV phải giúp cho các em thấy được bản chất của vấn đề là:
60 giây = 1 phút và 420 : 60 = 7 hay 420 giây gấp 60 giây 7 lần
Vậy: 420 giây = 7 phút
* Đối với đổi số đo diện tích, khối lượng, độ dài cũng có thể mắc các sai lầm tương tự
VD: 60 000cm2 = ….m2 không được viết: 60 000cm2 : 10 000cm2 = 6m2 rồi kết luận: 60 000cm2 = 6 m2; …
Ví dụ 6: Bài 1 ( Toán 4 - Trang 25).
1
3phút = … giây
2
1
thế kỉ = …giây 1
5 thế kỉ = ……năm
Giáo viên cần: Củng cố cho học sinh mối quan hệ giữa hai đơn vị đó, sau vận dụng khái niệm và các phép tính về tìm phân số của một số để tìm ra kết quả
Vì 1 phút = 60 giây, nên: 1
3phút = 60 giây : 3 = 20 giây Vậy: 1
3phút = 20 giây Vì: 1thế kỉ = 100năm, nên:
2
1
thế kỉ = 100 năm : 2 = 50 năm hoặc 100 x
2
1
= 50năm Vậy:
2
1
thế kỉ =50 năm
Dạng 3: Dạy học sinh cách tự học
* Tự học trên lớp
Khi giáo viên đã hướng dẫn học sinh thực hành tốt các bài tập cơ bản trong sách giáo khoa thì có thể mở rộng kiến thức cho học sinh thông qua các tiết thực hành ở buổi 2 nhằm củng cố kiến thức đã học đồng thời mở rộng nâng cao kiến thức Muốn vậy đòi hỏi giáo viên phải căn cứ vào đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học để lựa chọn phương pháp phù hợp với nội dung và đối tượng học sinh, tạo