Trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay, các giáo viên đã rất chú trọng đến việc sử dụng kênh hình để hướng dẫn học sinh học tập môn Địa lí, bao gồm: bản đồ treo tường, mô hình
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy và học đang là một vấn đề được các cấp học, các bậc học quan tâm Thực tế nó đã tác động rất lớn đối với giáo viên và học sinh ở các môn học trong đó có cả Địa lí
Trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay, các giáo viên đã rất chú trọng đến việc sử dụng kênh hình để hướng dẫn học sinh học tập môn Địa lí, bao gồm: bản đồ treo tường, mô hình, lược đồ, các tranh ảnh, bảng biểu, số liệu thống kê trong sách giáo khoa và đặc biệt trong Átlát …
Hơn nữa đối tượng học sinh mà tôi đang dạy là học sinh trường THPT Hàm Rồng đóng trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa, các em có kiến thức văn hóa tương đối tốt, song kiến thức thực tế về tự nhiên cũng như phần kinh tế - xã hội Việt Nam là chưa nhiều Để khắc phục tình trạng trên, đồng thời để lôi cuốn và phát huy được tư duy, sáng tạo của học sinh lớp 12 trong quá trình học tập môn
Địa lí tôi đã xây dựng, định hướng cho các em với nội dung “Rèn luyện kĩ năng
sử dụng Átlát cho học sinh lớp 12 Trường THPT Hàm Rồng” trong dạy học
Địa lí nhìn chung là có hiệu quả
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu
và thực nghiệm trong quá trình giảng dạy, đến nay đã thu được những kết quả khả quan, đồng thời rút ra được một số kinh nghiệm xin trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp để cùng nhau tìm ra phương pháp dạy học môn Địa lí đạt kết quả cao hơn
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nhằm nâng cao khả năng sử dụng các phương tiện dạy học phục vụ cho một tiết học có hiệu quả của giáo viên địa lí
Giúp học sinh có khả năng tiếp nhận kiến thức và tự hoàn thiện kiến thức trên cơ sở những tri thức giáo viên đã nghiên cứu, truyền tải thông qua các phương tiện dạy học trong một tiết học
1.3 Phạm vi đối tượng nghiên cứu
1.3.1 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài này được thực hiện trên cơ sở sử dụng Átlát trong dạy học địa lí lớp 12
- Giới hạn trong việc nghiên cứu sử dụng có hiệu quả các phương tiện dạy học của giáo viên
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng mà đề tài hướng tới nghiên cứu và áp dụng thực nghiệm là học sinh lớp 12 Trường THPT Hàm Rồng
1.3.3 Giá trị sử dụng của đề tài
Trang 2- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên ôn thi tốt nghiệp THPT Quốc gia
- Dùng cho học sinh tự nghiên cứu, học tập và làm bài kiểm tra có hiệu quả hơn
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khái quát hoá các kinh nghiệm giảng dạy trong nhiều năm thực hiện chương trình đổi mới SGK cấp THPT Phương pháp này còn được thực hiện thông qua công tác dự giờ thăm lớp của các đồng nghiệp
Phương pháp thực nghiệm: Thực hiện kiểm tra đánh giá ở các lớp 12B8, 12B9, 12B10 tại Trường THPT Hàm Rồng
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
1.5.1 Tổng kết cơ sở lí luận về Átlát và vai trò của chúng trong dạy học địa lí lớp 12.
1.5.2 Hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng sử dụng Átlát trong dạy học địa lí
12 nhằm nâng cao kĩ năng địa lí, phục vụ tốt và có hiệu quả trong việc học tập, kiểm tra, đánh giá hoạt động học của học sinh.
Ý nghĩa của đề tài này tôi muốn đi sâu thêm vào việc làm sao để học sinh Trường THPT Hàm Rồng có học lực trung bình môn địa lí mà vẫn có điểm cao trong kỳ thi tốt nghiệp THPTQG Để tránh phải ghi nhớ máy móc, học thuộc lòng (một nỗi sợ của nhiều học sinh hiện nay) thì học sinh nên sử dụng Átlát vào việc học địa lý, cách học này đòi hỏi học sinh phải có kiến thức về bản đồ (đọc -hiểu) Vậy học như thế nào là tối ưu và đạt hiệu quả? Có lẽ cần phải học địa lý bằng Átlát xong cũng không bỏ qua SGK, cả hai tài liệu này sẽ hỗ trợ nhau trong quá trình học
1.5.3 Qua lí luận và kết quả kiểm chứng, dự kiến sáng kiến sẽ xác định được tính khả thi của việc “Rèn luyện kĩ năng sử dụng Átlát trong dạy học địa lí lớp 12”, góp phần quan trọng vào việc đổi mới và nâng cao chất lượng dạy và học
ở trường THPT Hàm Rồng hiện nay.
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận chung của đề tài
2.1.1 Quan niệm về sử dụng phương tiện dạy học theo tinh thần dạy học tích cực
Trong các bộ môn khoa học đang dạy ở nhà trường, mỗi môn học đều có một vai trò nhất định Môn Địa lí cũng vậy, giữ một vị trí hết sức quan trọng, nó
mở mang cho học sinh hiểu biết về thiên nhiên, hoạt động văn hoá, xã hội - kinh
tế của con người Giúp các em đi sâu nghiên cứu khoa học, tìm hiểu khám phá cấu trúc của Trái Đất, nguồn tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố tự nhiên, xã hội
để phát triển kinh tế, góp phần nâng cao đời sống nhân dân.…
Trang 3Tuy nhiên, mỗi môn học đều yêu cầu những đặc điểm riêng, cần các phương pháp giảng dạy thích hợp Môn Địa lí đã xác định phương pháp đặc trưng là sử dụng kênh hình và kênh chữ trong việc dạy và học Song việc giảng dạy kênh chữ đã quen thuộc trong nhà trường, nhưng kênh hình mới được chú trọng trong những năm đổi mới phương pháp dạy học, nên việc vận dụng nó còn nhiều khó khăn bỡ ngỡ Nhất là đối với học sinh lớp 12, việc sử dụng Átlát Địa
lí Việt Nam để đọc và phân tích các dữ liệu, rồi đi đến nhận biết kiến thức qua các trang bản đồ trong Átlát là rất cần thiết, giúp cho học sinh nhận thức đầy đủ kiến thức, tiếp thu nhanh, dễ hiểu
Đặc biệt với hình thức thi trắc nghiệm như hiện nay nhất là trong kì thi THPTQG, các câu hỏi cần sử dụng Átlát lên đến 14 câu tương đương 3,5 điểm trong bài thi Địa lí thì việc sử dụng Átlát lại càng trở nên quan trọng và là một khâu không thể thiếu trong quá trình làm bài của học sinh
2.1.2 Một số phương tiện dạy học Địa lí cơ bản
2.1.2.1 Bản đồ
Bản đồ, Átlát là nguồn tri thức quan trọng, được coi là quyển sách giáo khoa địa lí thứ hai của học sinh Vì vậy giáo viên cần nghiên cứu kĩ càng nội dung chứa đựng trong bản đồ, từ đó giúp học sinh lựa chọn bản đồ phù hợp với nội dung bài học
2.1.2.2 Máy tính cá nhân
Giúp học sinh tính toán xử lí số liệu trong Átlát
2.1.2.3 Những thiết bị kĩ thuật hiện đại
Băng (đĩa) hình: Là một loại phương tiện có tác dụng cung cấp thông tin bằng hình ảnh
Máy vi tính : Máy vi tính được sử dụng trong dạy học có thể giải quyết được các vấn đề cơ bản của quá trình dạy học như: truyền thụ kiến thức, phát triển tư duy, hướng dẫn hoạt động, rèn luyện kĩ năng…
Mạng Internet: Là kênh thông tin khổng lồ và hết sức đa dạng giúp giáo viên và học sinh tra cứu thông tin bổ sung thêm vào nguồn tri thức của mình Ngoài ra còn một số phần mềm và các tài liệu khác như sơ đồ, biểu đồ, bảng số liệu thống kê, phiếu học tập
2.2 Thực trạng của việc sử dụng các phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học là một khâu không thể thiếu được trong giảng dạy và đổi mới phương pháp dạy và học hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh Cơ sở vật chất của nhà trường đã phần nào đáp ứng đầy đủ các danh mục và phương tiện dạy học cho giáo viên và học sinh khi dạy và học Giờ dạy nếu có sử dụng các phương tiện dạy học thì chất lượng giờ dạy và học nhìn chung là có hiệu quả cao
Sáng kiến kinh nghiệm của tôi cho thấy một điều rằng: Khi giáo viên có
sử dụng phương tiện dạy học, nhất là việc sử dụng Átlát để dạy địa lí cho các em
Trang 4học sinh lớp 12 thì hiệu quả dạy và học cao hơn nhiều so với dạy chay không sử dụng Átlát
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Có kế hoạch chuẩn bị trước những phương tiện cần thiết cho từng bài giảng
Nghiên cứu kĩ các phương tiện để hiểu rõ nội dung, tính năng, tác dụng của phương tiện, tránh tình trạng khi lên lớp mới tiếp xúc với phương tiện và mày mò sử dụng phương tiện
2.3.2 Cần lựa chọn phương tiện thiết thực nhất với nội dung bài học.
2.3.3 Khi soạn bài cũng như khi lên lớp, giáo viên cần xây dựng được hệ thống câu hỏi, bài tập tương đối chuẩn xác, rõ ràng để học sinh làm việc với các phương tiện hiệu quả nhất nhằm giúp các em lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng được tốt hơn.
2.3.4 Giáo viên cần giúp học sinh nắm được trình tự các bước làm việc với phương tiện dạy học để tìm tòi kiến thức, rèn luyện kĩ năng và phát triển tư duy học sinh.
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
2.4.1 Tầm quan trọng của Átlát địa lí Việt Nam trong việc giảng dạy và học tập môn địa lí lớp 12.
2.4.1.1 Bố cục của Átlát Địa lí Việt Nam do nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 2009 có thể khái quát như sau:
a) Bản đồ chung bao gồm các bản đồ: Hành chính, hình thể, địa chất khoáng sản, khí hậu, đất, thực vật và động vật, các miền tự nhiên, dân số
b) Bản đồ dùng cho các ngành kinh tế: Nông nghiệp chung, nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản, công nghiệp chung, công nghiệp, giao thông, thương mại,
du lịch
c) Bản đồ dùng cho các vùng kinh tế:
Trung du và miền núi Bắc Bộ
Vùng Đồng bằng sông Hồng
Vùng Bắc Trung Bộ
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
Vùng Tây Nguyên
Vùng Đông Nam Bộ
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
* Trong mỗi vùng đều có bản đồ tự nhiên, bản đồ kinh tế và biểu đồ GDP so với cả nước
* Trong một trang bản đồ của Átlát thể hiện nhiều yếu tố:
Trang 5- Yếu tố tự nhiên: Địa hình, đất đai, khoáng sản, sông ngòi, khí hậu, sinh vật…
- Yếu tố kinh tế, xã hội: Dân cư, hành chính, các ngành kinh tế, các vùng kinh tế
* Trong một trang bản đồ của Átlát còn thể hiện:
- Hình thể của cả nước, một vùng hay hai vùng liền kề nhau
- Một số biểu đồ như dân số qua các năm, cơ cấu, mật độ dân số, hay biểu
đồ biểu hiện giá trị sản xuất các ngành nông nghiệp, công nghiệp…
- Một số hình ảnh quan trọng của những địa phương, sản xuất kinh tế, hoạt động văn hoá…
2.4.1.2 Tầm quan trọng của Átlát Địa lí Việt Nam
+ Do bố cục của Átlát rất phong phú, nên có thể giúp cho việc giảng dạy môn Địa lí đạt hiệu quả:
- Trong phương pháp sử dụng kênh hình để dạy và học môn Địa lí thì kỹ năng sử dụng Átlát là phức tạp hơn cả, vì nó là phương tiện để phục vụ cho nội dung bài giảng Mỗi trang bản đồ trong Átlát chứa đựng những kiến thức cụ thể
và rất phong phú, mang đặc trưng của bộ môn
- Átlát Địa lí Việt Nam được dùng để giảng dạy và học tập môn Địa lí cho các bài ở nhiều khối lớp khác nhau như lớp 8; lớp 9 và cả các lớp của THPT Nhưng trong từng bài cụ thể mức độ khai thác, sử dụng Átlat không giống nhau Đối với học sinh lớp 12, đòi hỏi kỹ năng sử dụng Átlát phải thành thạo và được rèn luyện một cách thường xuyên qua từng tiết học
- Trong chương trình Địa lí lớp 12 có bài chỉ cần sử dụng một trang bản
đồ trong Atlat, nhưng cũng có bài phải sử dụng nhiều trang bản đồ khác nhau, song lại có trang Átlát dùng để dạy và học được nhiều bài Vì vậy khi giảng dạy Địa lí lớp 12 ta nên tích cực rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng Átlát để các
em biết cách khai thác kiến thức qua từng trang bản đồ của Átlát là rất cần thiết
2.4.2 Các phương pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng Átlát cho học sinh
2.4.2.1 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng tìm hiểu các nội dung trong bản đồ của Átlát để rút ra đặc điểm của các yếu tố tự nhiên, xã hội.
Muốn tìm hiểu được nội dung của mỗi bản đồ, biểu đồ thì việc hiểu các ngôn ngữ của nó là việc hết sức quan trọng Trong Átlát ngôn ngữ được dùng là những quy định thống nhất, chính xác về màu sắc, ký hiệu, tỷ lệ của bản đồ Ngay từ trang đầu tiên của Átlát, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu
và nắm vững các quy ước ở mục chú giải để có thể đọc nhanh, đúng bản đồ và
từ đó phân tích chính xác hơn
Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh khi đọc bất cứ một bản đồ nào phải đọc:
- Tên bản đồ trước để hình dung ra nội dung của bản đồ
Trang 6- Đọc phần chú giải để hiểu rõ các kí hiệu được dùng cho bản đồ đó.
- Sau đó sẽ tìm hiểu các kiến thức liên quan đến bài học được thể hiện trên bản đồ, biểu đồ trong Átlát Từ đó rút ra những nhận xét về các yếu tố của
tự nhiên và kinh tế - xã hội theo từng nội dung của bài học
2.4.2.2 Khai thác bản đồ, biểu đồ trong Átlát để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tìm hiểu kiến thức địa lí về dân cư
Ví dụ:
a) Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách phân tích bản đồ trang 16 (dạy bài16)
học sinh rút ra nhận xét:
+ Phân bố các dân tộc nước ta không đều: Các nhóm dân tộc ít người chỉ
có trên 13% dân số nhưng phân bố rất rộng trên khắp các vùng trong cả nước Dân cư tập trung đông ở đồng bằng, nhất là ở đô thị
+ Hiểu được ngữ hệ và các nhóm ngôn ngữ của các dân tộc
b) Phân tích các bản đồ, biểu đồ trang 15 của Átlát (dạy từ bài 16 - 17 SGK) rút
ra kết luận về đặc điểm dân cư và nguồn nhân lực nước ta:
+ Dựa vào màu sắc của bản đồ, phân tích mật độ dân số: Nước ta có mật
độ dân số cao nhưng phân bố không đều (tập trung đông ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông cửu Long, đặc biệt mật độ dân số ở các thành thị rất cao, thưa thớt ở miền núi nhất là vùng Tây Bắc,Tây nguyên)
+ Phân tích biểu đồ phát triển dân số nước ta qua các năm, từ đó học sinh nhận thức được: Dân số nước ta đông, gia tăng nhanh từ đầu thế kỷ XX đến nay (Năm 1960 có khoảng 30,17 triệu người Năm 1989 có 64,41 triệu người Năm
1999 có 76,3 triệu người Năm 2003 có khoảng 80,9 triệu người, năm 2007 có khoảng 85,97 triệu người)
+ Phân tích tháp tuổi trong biểu đồ để rút ra kết luận: Dân số nước ta có kết cấu dân số trẻ, giải thích xu hướng thay đổi cơ cấu theo độ tuổi ở nước ta So sánh được giới tính giữa nam và nữ tương đối cân bằng
+ Qua biểu đồ sử dụng lao động theo ngành, học sinh có thể nhận thức được: Nước ta có nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ lao động trong nông - lâm - thuỷ sản chiếm tỷ lệ cao, công nghiệp và dịch vụ còn thấp
+ Từ Átlát trang 15,16 học sinh có thể trả lời các câu hỏi:
Câu 1 Phần lớn diện tích có mật độ dân số từ 1001 người/km2 trở lên ở nước ta tập trung ở vùng
A Đồng bằng Sông Hồng.
B Đông Nam Bộ
C Đồng bằng sông Cửu Long
D Bắc Trung Bộ
Câu 2 Phần lớn dân cư thuộc nhóm ngữ hệ Nam Đảo tập trung ở vùng
A Tây Nguyên
B Duyên hải Nam Trung Bộ
Trang 7C Đông Nam Bộ.
D Đồng bằng sông Cửu Long
2.4.2.3 Phân tích bản đồ trong Átlát để rút ra nhận định tình hình phát triển của các ngành kinh tế nước ta.
Ví dụ 1:
Sử dụng Átlát Địa lí Việt Nam để tìm hiểu tình hình sản xuất nông nghiệp của nước ta
+ Bản đồ trang 11 (Dạy bài 21): Giáo viên hướng dẫn học sinh nghiên cứu:
Đặc điểm tài nguyên đất : Đất phù sa tập trung ở lưu vực sông Hồng và sông Cửu Long, miền Duyên hải MiềnTrung để trồng lúa nước và các cây công nghiệp ngắn ngày Đất Feralit tập trung chủ yếu ở miền núi và trung du, phù hợp với việc phát triển các cây công nghiệp dài ngày như: chè, cà fê, cao su, hồ tiêu…
Đồng thời phản ánh tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng
Bên cạnh đó có thể tìm hiểu tài nguyên nước rất phong phú của nước ta
do có hệ thống sông ngòi chằng chịt và nhiều đầm hồ
+ Átlát trang 9: Nói lên đặc điểm của nhân tố khí hậu của nước ta (lượng mưa, nhiệt độ) phân hoá từ Bắc vào Nam Các loại gió mùa hoạt động trên lãnh thổ nước ta
+ Bản đồ khái quát chung về nông nghiệp trang 18 (Dạy bài 21): Học sinh tìm hiểu được hiện trạng sử dụng đất, sự phân vùng nông nghiệp của nước ta
Qua biểu đồ học sinh có thể lập được bảng giá trị sản xuất các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản qua các năm (đơn vị: tỷ đồng)
Năm Tổng sản lượng Nông nghiệp Lâm nghiệp Thuỷ sản
Nhìn bảng số liệu học sinh có thể phát hiện được sự tăng trưởng của các ngành qua các năm đó
+ Bản đồ trang 19 Átlát học sinh tìm hiểu và phát hiện:
- Ngành trồng trọt: Tổng diện tích trồng lúa và hoa màu (diện tích trồng cây lương thực), diện tích trồng cây công nghiệp mà học sinh có thể tìm trên bản
đồ
Như vậy từ nội dung sách giáo khoa kết hợp đọc bản đồ trong Átlát, học sinh nhận thức sâu hơn, rộng hơn những nội dung các em học sinh cần lĩnh hội, không phải ghi nhớ máy móc, không cần học thuộc lòng những kiến thức mà có thể tìm ngay trong bản đồ, giúp cho học sinh hoạt động trí tuệ hợp lý hơn
Trang 8- Ngành chăn nuôi : Dựa vào kỹ năng sử dụng Átlát như trên, học sinh sử dụng biểu đồ trang 19 của Átlát để trình bày giá trị sản lượng của ngành chăn nuôi gia súc và gia cầm tăng trưởng mạnh qua các năm 2000, 2005, 2007
Ví dụ 2:
Dùng Átlát Địa lí Việt Nam để học sinh tìm hiểu sự phân bố lâm nghiệp
(các loại rừng) và thuỷ sản của nước ta (Bài 14 - SGK Địa lí CB12).
- Để trình bày được nội dung trên ta hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức qua các trang bản đồ, biểu đồ trang 20 của Átlát Cụ thể là:
+ Tổng diện tích rừng nước ta qua các năm 2000, 2005, 2007 và giá trị sản xuất lâm nghiệp của các tỉnh năm 2007
+ Sự phát triển của ngành thuỷ sản:
- Về sản lượng thuỷ sản của cả nước qua các năm 2000, 2005, 2007
Cụ thể:
Câu 1 Các tỉnh có tỉ lệ diện tích trồng rừng so với diện tích toàn tỉnh đạt trên
60%( năm 2007) là (Átlát trang 19)
A Tuyên Quang, Quảng Bình, Kon Tum
B Tuyên Quang, Quảng Trị, Kon Tum, Lâm Đồng
C Quảng Bình,Tuyên Quang, Kon Tum, Lâm Đồng
D Quảng Bình, Hà Giang, Kon Tum, Lâm Đồng
Ví dụ 3:
Sử dụng Átlát để học sinh tìm hiểu tình hình phát triển và phân bố tổ
chức lãnh thổ công nghiệp ở nước ta (Bài 28 – SGK Địa lí CB12)
+ Átlát trang 8: Giúp cho học sinh tìm hiểu về tài nguyên khoáng sản của nước ta để phát triển công nghiệp
+ Khi giảng dạy nội dung về ngành công nghịêp ta phải hướng dẫn cho học sinh biết sử dụng bản đồ công nghiệp chung trang 21 Átlat, cách thực hiện như sau:
- Học sinh đọc kỹ, hiểu về ngành công nghiệp, các trung tâm công nghiệp trong phần chú thích
- Khai thác kiến thức trên lược đồ, biểu đồ thấy rõ đặc điểm phân hoá công nghiệp nước ta như thế nào?
+ Qua phần hướng dẫn kỹ năng sử dụng Átlát, học sinh nhanh chóng nhận thức được:
- Giá trị sản xuất công nghiệp của nước ta tăng liên tục từ 336,1 nghìn tỉ đồng (2000) lên 1469,3 nghìn tỉ đồng (2007)
- Công nghiệp nước ta phân bố không đều trên khắp lãnh thổ mà tập trung theo từng khu vực, từng vùng như: Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam
Bộ là những khu vực có mức độ tập trung công nghiệp vào loại cao bậc nhất cả nước
Trang 9- Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước phân theo thành phần kinh tế
- Cơ cấu các ngành công nghiệp trọng điểm của nước ta, giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp, những trung tâm công nghiệp lớn là TP Hồ Chí Minh và Hà Nội
+ Phân tích bản đồ Átlát Địa lí trang 22, học sinh có thể nhận biết được một số ngành công nghiệp trọng điểm như: Công nghiệp năng lượng, công nghiệp cơ khí luyện kim, điện tử - tin học, hoá chất, công nghiệp hàng tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm…
Cụ thể:
Câu 1 Các trung tâm công nghiệp có quy mô từ trên 40 đến 120 nghìn tỉ đồng
(năm 2007) ở nước ta gồm có (Átlát trang 21)
A Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh
B Hà Nội, Đà Nẵng, Tp.Hồ Chí Minh
C Hải Phòng, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Vũng Tàu
D Tp.Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Vũng Tàu, Cần Thơ
Câu 2 Trung tâm công nghiệp chế biến lương thực,thực phẩm quy mô lớn nhất
(năm 2007) vùng Đồng bằng sông Hồng là (Átlát trang 22)
A Hải Phòng, Nam Định
B Hải Phòng
C Hải Phòng, Hà Nội
D Hà Nội
Câu 3 Ba nhà máy nhiệt điện có công suất lớn nhất nước ta (năm 2007) là
(Átlát trang 22)
A Phả Lại, Ninh Bình, Phú Mỹ
B Phú Mỹ, Bà Rịa, Cà Mau
C Phả Lại, Cà Mau, Trà Nóc
D Phả Lại, Cà Mau, Phú Mỹ
Ví dụ 4:
Sử dụng Átlát để học sinh tìm hiểu tình hình hoạt động các ngành dịch vụ nước ta
+ Phân tích bản đồ, biểu đồ trang 23, 24, 25 học sinh nhận thức được sự phân bố và phát triển của các loại hình dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân
- Mạng lưới giao thông và đầu mối giao thông vận tải chính ở nước ta, mối quan hệ giữa ngành giao thông vận tải với các ngành kinh tế khác
Giao thông đường bộ ngày càng phát triển
Giao thông đường thuỷ, đường sắt vận chuyển khối lượng hàng hoá cao Tuyến đường bay trong nước, quốc tế ngày càng phát triển
- Các hoạt động thương mại như: Nội thương (biết được số người kinh doanh, hàng hoá bán lẻ qua các năm …), ngoại thương (cơ cấu giá trị các mặt
Trang 10hàng xuất khẩu giữa công nghiệp – nông nghiệp – thuỷ sản và tỷ trọng các mặt hàng nhập khẩu so với xuất khẩu)
- Vai trò của ngành du lịch rất quan trọng trong cơ cấu kinh tế nước ta, tiềm năng to lớn của ngành du lịch được thể hiện qua các trung tâm du lịch quốc gia, vùng, các điểm du lịch trong cả nước, số lượng khách du lịch và doanh thu
từ du lịch từ năm 1995 đến năm 2007 Cơ cấu khách du lịch quốc tế với Việt Nam năm 1995, năm 2007
Tài nguyên du lịch phong phú của nước ta như: Di sản văn hoá thế giới,
di sản lịch sử cách mạng, di tích lịch sử cách mạng, các làng nghề truyền thống…
Câu 1 Hai tỉnh, thành phố có giá trị xuất khẩu hàng hóa (năm 2007) lớn nhất
nước ta là (Átlát trang 24)
A Tp.Hồ Chí Minh, Hà Nội
B Tp.Hồ Chí Minh, Bình Dương
C Tp.Hồ Chí Minh, Bà Rịa -Vũng Tàu
D Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phước
Câu 2 Các nước và vùng lãnh thổ có giá trị xuất khẩu hàng hóa (năm 2007) đạt
trên 6 tỉ USD là (Átlát trang 24)
A Hoa Kì
B Hoa Kì, Nhật Bản
C Nhật Bản
D Nhật Bản, Xingapo
+ Phân tích bản đồ trang 26 học sinh nắm được:
- Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ Từ đó có thể so sánh được đặc điểm tài nguyên của hai tiểu vùng Đông Bắc và Tây Bắc
- Thấy được mối liên hệ: Sự phân bố tài nguyên thiên nhiên và hình thành khu công nghiệp, GDP của vùng Trung du miền núi phía Bắc so với cả nước, sự phân bố các trung tâm công nghiệp lớn của vùng Các ngành công nghiệp trọng điểm có mối liên hệ như thế nào đến giao thông, sông ngòi, nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Đọc được các loại khoáng sản, nắm được vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, sông ngòi, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên của vùng Đồng bằng Sông Hồng và giải thích được tại sao ở đây đông dân cư, GDP của Đồng bằng sông Hồng so với cả nước, đây là vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
* Qua các phân tích trên ta thấy rằng: Khi tìm hiểu một số kiến thức về kinh tế
-xã hội, việc sử dụng Átlát đã giúp cho học sinh có phương pháp tiếp thu kiến thức chủ động so với cách học thụ động trước đây Học sinh tự tìm hiểu các kiến thức cần thiết, bổ ích, ít phải thuộc lòng các kiến thức một cách máy móc, tầm nhìn khoa học của học sinh được mở rộng hơn