MỤC LỤCSỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THCS VÀ THPT QUAN HÓA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC 11 CHO HỌC SINH TRƯỜNG THCS VÀ THPT QUAN HÓA THÔNG QUA XÂY DỰN
Trang 1MỤC LỤC
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THCS VÀ THPT QUAN HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC 11 CHO HỌC
SINH TRƯỜNG THCS VÀ THPT QUAN HÓA THÔNG QUA
XÂY DỰNG CÂU HỎI KIẾN THỨC HÓA HỌC GẮN LIỀN
VỚI ĐỜI SỐNG THỰC TIỄN VÀO NỘI DUNG BÀI HỌC
Người thực hiện: Bùi Văn Tuân Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực môn: Hóa Học
THANH HOÁ NĂM 2020
Trang 2TRANG
Trang 3I MỞ ĐẦU………. 2
1 Lý do chọn đề tài……… 2
2 Mục đích nghiê cứu……… 2
3 Đối tượng nghiên cứu……… 2
4 Phương pháp nghiên cứu……… 3
II NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN……… 3
1 Cơ sở lí luận của vấn đề 3
2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu 4
3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 5
3.1 Một số hình thức áp dụng câu hỏi kiến thức Hóa học gắn liền với đời sống thực tiễn vào nội dung bài học……… 5
3.2 Các giải pháp cụ thể khi thực hiện việc xây dựng câu hỏi kiến thức Hóa học gắn liền với đời sống thực tiễn vào nội dung bài học 6
3.2.1 Xây dựng hệ thống câu hỏi kiến thức hóa học gắn liền với đời sống thực tiễn sử dụng trong bài giảng về NITƠ – PHOTPHO … 6
3.2.2 Xây dựng hệ thống câu hỏi kiến thức hóa học gắn liền với đời sống thực tiễn sử dụng trong bài giảng về CACBON – SILI…………. 8
3.2.3 Xây dựng hệ thống câu hỏi kiến thức hóa học gắn liền với đời sống thực tiễn sử dụng trong bài giảng về DẪN XUẤT HALOGEN – ANCOL – PHENOL……… 11
3.2.4 Xây dựng hệ thống câu hỏi kiến thức hóa học gắn liền với đời sống thực tiễn sử dụng trong bài giảng về ANĐEHIT- XETON- AXIT CACBOXYLIC ……… 13
3.2.5 Xây dựng hệ thống câu hỏi kiến thức hóa học gắn liền với đời sống thực tiễn sử dụng trong bài giảng về HIĐROCACBON NO…… 14
3.2.6 Xây dựng hệ thống câu hỏi kiến thức hóa học gắn liền với đời sống thực tiễn sử dụng trong bài giảng về HIĐROCACBON KHÔNG NO………
… 14 2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 15
III KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ ……… 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 17
Trang 4I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hóa học là bộ môn khoa học tự nhiên giữ một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển trí dục của học sinh Nhưng qua thực tiễn giảng dạy tôi nhận thấy nhiều học sinh đều cảm thấy môn hóa học là môn khoa học khô khan và khó tiếp thu nên nhiều em đã thốt lên rằng “Môn Hóa khó quá, môn Hóa rất khô khan, khó học, môn Hóa mình không nhớ gì hết, môn Hóa học để làm gì, sao không học những môn gì nó thực tế hơn, học mấy cái phương trình Hóa học này để làm gì” Đó là những lời mà tôi vẫn thường nghe các học sinh than thở sau mỗi tiết dạy Chính vì thế trong tôi luôn đặt ra câu hỏi làm thế nào để học sinh hiểu đúng giá trị của môn Hóa học Là một giáo viên giảng dạy ở miền núi nhiều năm tôi luôn luôn trăn trở và suy nghĩ: “Làm sao để học sinh của mình học môn Hóa dễ hơn, yêu môn Hóa nhiều hơn, làm sao các em có thể vận dụng kiến thức môn Hóa học vào trong thực tế, làm thế nào để các em giải thích được một số hiện tượng Hóa học trong tự nhiên”…Với kinh nghiệm nhiều năm công tác, học tập và giảng dạy tôi nhận thấy rằng nếu cứ dạy kiến thức trong sách giáo khoa, sách bài tập, các bộ đề thi tuyển sinh, đề thi THPT Quốc gia cho đối tượng học sinh miền núi thì chỉ một
số em chú ý phần còn lại các em không có hứng thú, thụ động, không chú ý, làm việc riêng, dẫn đến nhiều em ghét, sợ môn Hóa học Do vậy, ngoài những hiểu biết
về Hóa học, người giáo viên dạy Hóa học còn có phương pháp truyền đạt thích hợp
và những hiểu biết về những vấn đề liên quan đến bài học để gây hứng thú cho học sinh khi lĩnh hội các kiến thức Chính vì vậy trong quá trình dạy học tôi thường đưa
ra những câu hỏi, những tình huống gắn liền với đời sống thực tiễn từ đó tôi thấy rằng các em học sinh trao đổi sôi nổi hơn, hứng thú hơn, chú ý hơn so với những phương pháp trước đây tôi đã dạy Do đó tôi mạnh dạn đưa kinh nghiệm của mình :
"Tạo hứng thú học tập môn Hóa học 11 cho học sinh trường THCS và THPT Quan Hóa thông qua xây dựng câu hỏi kiến thức Hóa học gắn liền với đời sống thực tiễn vào nội dung bài học’’.
2 Mục đích nghiên cứu
Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Hóa học
Phát huy tính tích cực và tạo hứng thú cho học sinh trong học tập bộ môn Hóa học và qua những câu hỏi thực tế phần nào giúp các em yêu thích, say mê nghiên cứu khoa học hơn
Đề tài này đặt ra nhằm phát huy tính tích cực trong học tập và giảng dạy môn Hóa học
3 Đối tượng nghiên cứu
- Kế hoạch thực hiện đề tài được bắt đầu từ năm học 2018 - 2019, được áp dụng trong năm học 2019 - 2020
Trang 5- Đề tài này nghiên cứu áp dụng trong chương trình giảng dạy môn Hóa học
đối với học sinh lớp 11 trường THCS và THPT Quan Hóa
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tốt đề tài này tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phân tích lý thuyết, điều tra cơ bản, tổng kết kinh nghiệm sư phạm và sử dụng một số phương pháp thống kê toán học trong việc phân tích kết quả thực nghiệm
sư phạm v.v
- Phương pháp trao đổi kinh nghiệm: tiến hành trao đổi, học hỏi từ đồng nghiệp, các tích lũy qua việc dự giờ từ đồng nghiệp
- Sưu tầm, liệt kê các hiện tượng hóa học thực tiễn áp dụng cho một số bài dạy
cụ thể ở chương trình Hóa học 11 và lồng ghép giảng dạy cho các lớp 11A, 11B, 11C và 11D trong các giờ học
- Nghiên cứu kỹ sách giáo khoa lớp 11 và các sách tham khảo
- Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh về nhà tìm tư liệu qua sách, mạng trước tiết học một vài hôm để khích thích các em tìm tòi và nghiên cứu bài học
- Lấy điểm tổng kết cả năm môn Hóa học của bốn lớp 11A, 11B, 11C và 11D năm học 2018 - 2019 ( năm lớp 10) làm bài kiểm tra đánh giá trước khi áp dụng
đề tài, lấy điểm tổng kết cả năm môn Hóa học của bốn lớp 11A, 11B, 11C và 11D năm học 2019 - 2020 làm bài kiểm tra đánh giá sau khi kết thúc nội dung nghiên cứu
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 Cơ sở lí luận của vấn đề
Hóa học là một trong những môn khoa học tự nhiên có giá trị thực tiễn cao nhất Người học có thể ứng dụng kiến thức hóa học vào giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống Với vai trò là người đồng hành cùng các em học sinh trên con đường học vấn tôi luôn trăn trở tìm ra những giải pháp tối ưu nhất giúp các
em có những bước đi vững chãi và thành công Đúc rút kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy và học tập tôi nhận thấy rằng để đạt được mục đích của Hóa học trong trường phổ thông đặc biệt là đối với những giáo viên giảng dạy môn Hóa học khu vực miền núi như tôi ngoài những hiểu biết về Hóa học, người giáo viên dạy Hóa học còn phải có phương pháp truyền đạt, thu hút, gây hứng thú khi lĩnh hội kiến thức Hóa học cho học sinh Đó là vấn đề cần quan tâm và nghiên cứu nghiêm túc
Bằng kinh nghiệm giảng dạy của mình tôi xin đề cập đến một khía cạnh “Tạo hứng
thú học tập môn Hóa học 11 cho học sinh trường THCS và THPT Quan Hóa thông qua xây dựng câu hỏi kiến thức Hóa học gắn liền với đời sống thực tiễn vào nội dung bài học’’
Với mục đích góp phần sao cho học sinh học Hóa học dễ hiểu, thiết thực, gần gũi với đời sống và lôi quấn học sinh khi học
2 Thực trạng của vấn đề
Trang 6Ở Việt Nam trong những năm gần đây đang diễn ra một quá trình cải cách tương đối toàn diện trong giáo dục Một trong những vấn đề trọng tâm của cải cách là nhu cầu đưa vào sử dụng những phương pháp giảng dạy hiện đại và phù hợp để nâng cao chất lượng đào tạo dạy học, đưa những kiến thức khoa học khô khan trở nên gần gũi với học sinh hơn và tăng khả năng vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống Chính vì vậy đổi mới phương pháp dạy đã và đang thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến
bộ là phải phát huy tính thực tế, giáo dục về môi trường, giáo dục về tư tưởng vừa mang bản sắc dân tộc mà không làm mất đi tính cộng đồng trên toàn thế giới Trong thực tế giảng dạy tôi thấy: Môn Hóa học trong trường phổ thông là một môn học khó, nếu không có những bài giảng và phương pháp hợp lý, phù hợp với đối tượng học sinh dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận, đã
có hiện tượng một số bộ phận học sinh không muốn học Hóa học, ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn của Hóa học đặc biệt là các em học sinh miền núi như trường THCS&THPT Quan Hóa là ngôi trường nằm khu vực miền núi của tỉnh Thanh Hóa, đây là huyện có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn của cả nước nói chung và của Thanh Hóa nói riêng, đa số các em học sinh nơi đây đều là con em dân tộc thiểu số, có điều kiện kinh tế khó khăn, đường sá xa xôi, hiểm trở, trình độ dân trí thấp do đó việc học tập của các em học sinh chưa được các gia đình quan tâm đúng mực, nhiều phụ huynh có tư tưởng việc học tập là giao cho thầy cô dạy
dỗ không quan tâm hôm nay con học được những gì, học như thế nào…mặt khác ở cấp học dưới nhiều trường chưa đủ giáo viên giảng dạy nên một giáo viên có thể giảng dạy 2 đến 3 môn đặc biệt là các môn tự nhiên trong đó có môn Hóa học Do
đó chất lượng đầu vào ở các lớp đầu cấp của Nhà trường năm nào cũng thấp, nhiều
em vào lớp 10 nhưng chưa biết cộng, trừ, nhân, chia thành thạo, nhiều em chưa thuộc bảng cửu chương chứ chưa nói gì về kiến thức Hóa học Chính vì lẽ đó hằng năm Nhà trường có tỉ lệ học sinh đạt yếu, kém về học tập rất cao, học sinh đạt 7-8 điểm ở các môn khoa học tự nhiên trong các kì thi THPT Quốc gia là không có, số học sinh tham gia thi tổ hợp các môn khoa học tự nhiên của Nhà trường ngày càng giảm, tỉ lệ học lực yếu, kém các môn tự nhiên chiếm đại đa số, cụ thể trong năm học 2018 – 2019 kết quả học lực môn Hóa học ở bốn lớp 11 mà tôi trực tiếp giảng dạy khi chưa áp dụng đề tài như sau:
Lớp Sĩ số Điểm tổng kết cả năm - năm học 2018 – 2019
Giỏi Khá Tbình Yếu
Trang 7Vậy thì nguyên nào nhân dẫn đến những thực trạng trên? Theo thăm dò qua nhiều thế hệ học sinh tối thấy đa phần các em đều trả lời rằng do chúng em chưa có
ý thức tự học, chúng em học nhưng không hiểu gì, chúng em học nhưng mất gốc hết rồi, thầy này, cô nọ dạy chán quá, dạy không hiểu gì hết…với vai trò là người thầy tôi cũng nhận thấy rằng lỗi một phần là do học sinh, một phần do giáo viên chưa quan tâm đúng đối tượng học sinh, chưa đặt ra cho mình nhiệm vụ và trách nhiệm cao trong giảng dạy, hiện tượng dùng đồng loạt cùng một cách dạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít Do đó người giáo viên đã trở thành người cảm nhận, truyền đạt tri thức một chiều Bên cạnh đó nhiều giáo viên chỉ dạy làm sao đủ thời gian để hết lượng kiến thức mà chương trình yêu cầu, chưa chịu lồng ghép một cách phù hợp các nội dung liên quan đến nội dung bài học Với
những lý do trên tôi mạnh dạn đưa ra phương pháp giảng dạy “Tạo hứng thú học
tập môn Hóa học 11 cho học sinh trường THCS và THPT Quan hóa thông qua xây dựng câu hỏi kiến thức Hóa học gắn liền với đời sống thực tiễn vào nội dung bài học’’
3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.
Để việc giảng dạy bộ môn hóa học 11 đạt hiệu quả cao tôi đã mạnh dạn cải tiến nội dung phương pháp trong các bài giảng hóa học 11 Một trong những giải pháp tôi đã làm là: Làm cho Hóa học không khô khan, bớt đi tính đặc thù, tạo hứng thú, giúp các em hiểu rõ lý thuyết, hiểu rõ bản chất một cách nhẹ nhàng không gây nhàm chán, áp lực, từ đó phần nào làm cho các em biết trân trọng môn Hóa học, yêu thích môn Hóa học và tạo động lực cho các em học tập tốt hơn Để thực hiện được tôi đã phải nghiên cứu kỹ bài giảng, xác định được kiến thức trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề liên quan phù hợp với từng đối tượng học sinh đặc biệt
là học sinh miền núi của Trường THCS và THPT Quan Hóa Ngoài ra bản thân tôi luôn quan tâm đến tính cách, sở thích của từng học sinh, biết tiếp thu những ý kiến đóng góp của học sinh và đồng nghiệp, từ đó xây dựng cho mình giáo án theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh nhưng phải mang tính hợp lý, hài hòa, nhẹ nhàng và đôi lúc khôi hài nhưng sâu sắc
3.1 Một số hình thức áp dụng câu hỏi kiến thức Hóa học gắn liền với đời sống thực tiễn vào nội dung bài học
- Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống hằng ngày thay cho lời giới thiệu
bài giảng mới Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ nhưng lại tạo
sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập
Trang 8- Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông
qua những câu chuyện ngắn có tính chất khôi hài, gây cười có thể xen vào bất cứ thời gian nào trong suốt tiết học Hướng này có thể góp phần tạo không khí học tập thoải mái Đó cũng là cách kích thích niềm đam mê Học hoá
- Đặt tình huống vào bài mới: Tiết dạy có gây được sự chú ý của học sinh hay
không là nhờ vào người dạy Trong đó phần mở bài là rất quan trọng, nếu ta biết
đặt ra một tình huống thực tiễn phù hợp rồi yêu cầu học sinh cùng tìm hiểu, giải
thích
- Lồng ghép tích hợp môi trường trong bài dạy: Tùy vào nội dung của bài giảng
mà lấy ví dụ sao cho gần gũi, phù hợp với thực tế tại địa phương như vấn đề khói bụi, nước thải sinh hoạt…có liên quan gì đến sự thay đổi của thời tiết, khí hậu và môi trường hay không
- Liên hệ thực tế trong bài dạy: Khi học xong vấn đề gì mà học sinh thấy được
ứng dụng trong thực tiễn thì sẽ chú ý hơn, chủ động tư duy để tìm hiểu Do đó trong mỗi bài học giáo viên nên đưa ra được một vài ứng dụng thực tiễn sẽ lôi cuốn được sự chú ý của học sinh hơn
3.2 Các giải pháp cụ thể khi thực hiện việc xây dựng câu hỏi kiến thức Hóa học gắn liền với đời sống thực tiễn vào nội dung bài học
3.2.1: Xây dựng hệ thống câu hỏi kiến thức hóa học gắn liền với đời sống thực tiễn sử dụng trong bài giảng về NITƠ – PHOTPHO
Câu 1: Tại sao khi đi gần các sông, hồ bẩn vào ngày nắng nóng, người ta ngửi thấy mùi khai ?
Giải thích: Khi nước sông, hồ bị ô nhiễm nặng bởi các chất hữu cơ giàu đạm
như nước tiểu, phân hữu cơ, rác thải hữu cơ thì lượng urê trong các chất hữu cơ này sinh ra nhiều Dưới tác dụng của men ureaza của các vi sinh vật, urê bị phân hủy tiếp thành CO2 và amoniac NH3 theo phản ứng:
(NH2)2CO + H2O CO2 + 2NH3 NH3 sinh ra hòa tan trong nước sông, hồ dưới dạng một cân bằng động Như vậy khi trời nắng (nhiệt độ cao), NH3 sinh ra do các phản ứng phân hủy urê chứa trong nước sẽ không hòa tan vào nước mà bị tách ra bay vào không khí làm cho không khí xung quanh sông, hồ có mùi khai khó chịu
Áp dụng: Đây là hiện tượng thường gặp quanh hồ, ao, nhất là vào mùa khô,
nắng nóng Giáo viên có thể nêu vấn đề trong bài giảng: PHÂN BÓN HÓA
HỌC-Hóa 11 – (tiết 19 lớp 11CB)
Câu 2: Ca dao Việt Nam có câu:
“Lúa chim lấp ló ngoài bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Trang 9Mang ý nghĩa hóa học gì?
Giải thích: Câu ca dao có nghĩa là: Khi vụ lúa chiêm đang trổ đồng mà có
trận mưa rào kèm theo sấm chớp thì rất tốt và cho năng suất cao Vì sao vậy?
Do trong không khí có khoảng 80% Nitơ và 20 % oxi Khi có sấm chớp (tia lửa điện) thì:
2N2 + O2 → 2NO
Sau đó: 2NO + O2 → 2NO2
Khí NO2 hòa tan trong nước:
4NO2 + O2 + H2O → 4HNO3
HNO3 → H + + NO3
-Nhờ có sấm chớp ở các cơn mưa giông, mỗi năm trung bình mỗi mẫu đất được cung cấp khoảng 6-7 kg nitơ
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên khi trình bày phần chu trình của
nitơ trong tự nhiên ở bài giảng “Axit HNO3” (Tiết 14-15) hoặc đề cập trong bài
“Phân bón hóa học” (Tiết 19 lớp 11 CB)
Câu 3: “Ma trơi” là gì? Ma trơi thường xuất hiện ở đâu?
Giải thích: “Ma trơi” là một hiện tượng đã gây cho con người nhiều tò mò
và cũng không ít sợ hãi từ trước đến nay, và cũng không phải ai cũng biết hiện tượng này có thể giải thích bằng hóa học
Hiện tượng “ma trơi” thường xuất hiện ở những vùng đầm lầy, nghĩa địa có nhiều xác sinh vật…(nói chung là ở hầu hết những nơi mà con người thấy “sợ”) Đó là hiện tượng xuất hiện những đốm lửa cháy sáng trong không khí gây cho con người
sự sợ hãi Bản chất của hiện tượng này được giải thích với sự tham gia của 2 chất khí đó là photphin (PH3) và điphotphin (P2H4), P2H4 là chất có khả năng tự cháy trong không khí, khi cháy nó tạo ra nhiệt lượng làm tăng nhiệt độ lên đến khoảng
1500C thì PH3 tiếp tục cháy và kết quả là xuất hiện “ngọn lửa ma trơi” Một câu hỏi đặt ra: PH3, P2H4 xuất hiện do đâu? Đáp án chính là nơi chúng ta hay thấy chúng ở đầm lầy, nghĩa địa có nhiều xác sinh vật…Đó là nguồn photpho rất lớn để hình thành PH3, P2H4 bằng hoạt động của các vi khuẩn trong đất
Áp dụng: Vấn đề này có thể được đề cập ở trong bài “Photpho” (Tiết 16 lớp
11CB) để giải thích hiện tượng “ma trơi” Đây là một hiện tượng tự nhiên chứ không phải là một hiện tượng “ thần bí ” nào đó, tránh tình trạng mê tín dị đoan, làm cho cuộc sống thêm lành mạnh
Câu 4: “Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?
Giả thích: Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong (ô tô,
xe máy) có chứa các khí SO2, NO, NO2,…Các khí này tác dụng với oxi O2 và hơi nước trong không khí nhờ xúc tác oxit kim loại (có trong khói, bụi nhà máy) hoặc ozon tạo ra axit sunfuric H2SO4 và axit nitric HNO3
2SO2 + O2 + 2H2O → 2H2SO4
2NO + O2 → 2NO2
Trang 104NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3
Axit H2SO4 và HNO3 tan vào nước mưa tạo ra mưa axit Vai trò chính của mưa axit
là H2SO4 còn HNO3 đóng vai trò thứ hai Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới Mưa axit làm mùa màng thất thu và phá hủy các công trình xây dựng, các tượng đài làm từ đá cẩm thạch, đá vôi, đá phiến (các loại
đá này thành phần chính là CaCO3):
CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2↑ + H2O
CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + H2O
Áp dụng: Ngày nay hiện tượng mưa axit và những tác hại của nó đã gây nên
những hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là ở những nước công nghiệp phát triển.Vấn
đề ô nhiễm môi trường luôn được cả thế giới quan tâm Việt Nam chúng ta đang rất chú trọng đến vấn đề này Do vậy mà giáo viên phải cung cấp
cho học sinh những hiểu biết về hiện tượng mưa axit cũng như tác hại của nó nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường Cụ thể giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho học sinh trả lời sau khi dạy xong bài“Axit nitric” (tiết 14-15 lớp 11-CB)
Câu 5: Vì sao axit nitric HNO 3 đặc lại phá thủng quần áo?
Giải thích: Khi làm thí nghiệm hóa học, nếu quần áo bạn dính phải axit
nitric HNO3 đặc thường sẽ bị thủng một lỗ; khi dùng axit không đặc, nhìn bên ngoài thì không thấy gì, nhưng sau khi phơi khô bạn sẽ thấy ngay lỗ thủng Quần
áo chúng ta mặc thường ngày thường dệt bằng sợi bông, thành phần hóa học của sợi bông là xenlulozơ Xenlulozơ không tan trong nước và đa số các dung môi khác nhưng dễ tan trong axit HNO3 đặc nên làm thủng quần áo Khi bị axit HNO3 loãng dính vào quần áo, tuy quần áo không bị thủng cùng sẽ làm thủng quần áo Ngoài ra, axit HNO3 loãng có thể có tác dụng hóa học với xenlulozơ
Áp dụng: Giáo viên có thể nêu vấn đề trên khi nói về tính chất hóa học của
axit nitric trong bài “Axit nitric”( Tiết 15-16 lớp 11CB) để nhắc nhở học sinh
thật cẩn thận khi tiếp xúc với axit HNO3 đặc
3.2.2: Xây dựng hệ thống câu hỏi kiến thức hóa học gắn liền với đời sống thực tiễn sử dụng trong bài giảng về CACBON – SILIC
Câu 1: Tại sao khi cơm bị khê, ông bà ta thường cho vào nồi cơm một mẫu than củi ?
Giải thích: Do than củi xốp, có tính hấp phụ nên hấp phụ hơi khét của cơm
làm cho cơm đỡ mùi khê
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong bài
Cacbon – (Tiết 23 lớp1 1CB)
Câu 2: Vì sao khi mở bình nước ngọt có ga lại có nhiều bọt khí thoát ra?
Giải thích: Nước ngọt không khác nước đường mấy chỉ có khác là có thêm
khí cacbonic CO2 Ở các nhà máy sản xuất nước ngọt, người ta dùng áp lực lớn để
ép CO2 hòa tan vào nước Sau đó nạp vào bình và đóng kín lại thì thu được nước ngọt Khi bạn mở nắp bình, áp suất bên ngoài thấp nên CO2 lập tức bay vào không