Giáo dục hướng nghiệp GDHN là một trong những hoạt động giáo dụcnhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của giáo dục phổ thông Việt Nam.GDHN giúp cho HS hiểu về bản thân, hiểu về thế
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH I
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÍCH HỢP GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP VÀO BÀI “NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ”
Người thực hiện: Lê Thị Hương Giang Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ Văn
Trang 2THANH HÓA, NĂM 2020
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC SKKN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG NHẬN
PHỤ LỤC
Trang 3DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG SKKN
GDHN: Giáo dục hướng nghiệp
CNH-HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 41 Mở đầu1.1 Lí do chọn đề tài
Sự nghiệp CNH- HĐH ở nước ta hiện nay đã, đang đặt ra hàng loạt yêucầu đối với giáo dục phổ thông(GDPT) Trong đó, đặc biệt quan trọng là đào tạonguồn nhân lực cho các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân, đáp ứngnhu cầu đa dạng của hệ thống ngành, nghề trong xã hội Nhà trường phổ thông
có nhiệm vụ cung cấp kiến thức và giúp các em học sinh(HS) có lựa chọn đúngkhi đi vào các ngành nghề trong xã hội thông qua hệ thống giáo dục sau trunghọc Hiện nay, cơ cấu nguồn nhân lực của chúng ta khá bất hợp lý, chất lượngthấp, trình độ thực hành thường không đáp ứng nhu cầu của người sử dụng laođộng Sự thiếu hụt lao động kỹ thuật có năng lực phù hợp với công việc đang làmối quan tâm không chỉ của các nhà sử dụng lao động mà của toàn xã hội.Những bất cập này có liên quan chặt chẽ đến hoạt động giáo dục cho thanh niênnói chung, cho HS trong các trường phổ thông nói riêng Để giải quyết tìnhtrạng này, giáo dục hướng nghiệp cần được tổ chức như thế nào để đạt đượcmục tiêu đề ra? Cần có các giải pháp khả thi áp dụng trong thực tế
Giáo dục hướng nghiệp (GDHN) là một trong những hoạt động giáo dụcnhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của giáo dục phổ thông Việt Nam.GDHN giúp cho HS hiểu về bản thân, hiểu về thế giới nghề nghiệp, hiểu nhucầu lao động , …Qua đó, giúp cho HS có những quyết định lựa chọn nghề phùhợp với bản thân, với gia đình và với sự phát triển của xã hội; góp phần tăngnăng suất lao động, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế -xã hội; rút ngắn khoảngcách về kinh tế - xã hội giữa Việt Nam và các nước trên thế giới
Trước vấn đề đặt ra nêu trên, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Tích hợp
giáo dục hướng nghiệp vào bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trong
chương trình Ngữ văn 12 Đối với HS bậc THPT, đặc biệt là HS lớp 12,GDHN nhằm mục đích giúp HS có được ý thức là chủ thể trong sự lựa chọn vềnghề nghiệp, có định hướng khi chọn nghề dựa trên cơ sở hiểu biết khoa học vềnghề nghiệp, về nhu cầu thị trường lao động cũng như năng lực, sở trường, sứckhỏe của bản thân
1.2 Mục đích nghiên cứu
Thông qua hoạt động dạy học trên lớp, vừa giúp học sinh tiếp thu kiếnthức nền tảng, vừa kết hợp định hướng nghề nghiệp Từ đó, học sinh có nhậnthức đúng đắn về nghề nghiệp, có cơ sở lập kế hoạch và quyết định lựa chọnnghề nghiệp cho tương lai sao cho vừa phù hợp với khả năng của bản thân, vừaphù hợp với nhu cầu lao động của xã hội
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Khả năng hướng nghiệp của học sinh lớp 12 trường THPT Yên Định 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu sử dụng 2phương pháp:
1.4.1 Về nghiên cứu lý luận
1
Trang 5Làm việc trong phòng, tham khảo và đọc tài liệu có liên quan đến đề tài.
1.4.2 Về nghiên cứu thực tiễn
Soạn giáo án, tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp
2 Nội dung
2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề
Ngày 17/8/1981, Bộ GD&ĐT ra thông tư 31/TT hướng dẫn thực hiệnquyết định 126/CP Mục 2 Thông tư đã quy định các hình thức GDHN trong nhà
trường phổ thông: Hướng nghiệp qua các môn học; Hướng nghiệp qua hoạt
động lao động sản xuất; Hướng nghiệp qua việc giới thiệu các ngành nghề; Hướng nghiệp qua các hoạt động ngoại khóa.
Xuyên suốt quá trình dạy học, để hoàn thành nhiệm vụ “nâng cao dân trí,bồi dưỡng nhân tài và đào tạo nguồn nhân lực” cho đất nước, ngành Giáo dục đãkhông ngừng đổi mới nội dung, phương thức giáo dục; tăng cường ứng dụngcông nghệ thông tin; tăng cường các hoạt động hướng nghiệp, trải nghiệm sángtạo; dạy học gắn với thực tiễn đời sống sản xuất, kinh doanh tại địa phương; dạyhọc gắn với các di tích lịch sử… với nhiều hình thức dạy học sáng tạo, thiết thựcphù hợp điều kiện thực tiễn địa phương và thay đổi linh hoạt theo xu thế pháttriển của nền kinh tế trong nước cũng như thế giới Trong các mô hình giáo dụctích cực ấy, giáo viên xây dựng kế hoạch giảng dạy chi tiết, cụ thể theo cácchuỗi hoạt động; học sinh được chủ động làm việc, quan sát, trao đổi và lĩnh hộikiến thức, phát triển tư duy và năng lực cũng như bộc lộ năng khiếu, sở thíchcủa bản thân
Đến chương trình GDPT mới, dạy học phân hóa là xu thế tất yếu, kèmtheo đó là việc tích hợp nội dung GDHN qua môn học sẽ được chú trọng hơnvới những giải pháp đồng bộ, có tính hệ thống hơn trong định hướng dạy học bộmôn Rất nhiều các bài học Ngữ Văn ở cấp THPT có khả năng hướng nghiệp,điều quan trọng là giáo viên phải kết nối được nội dung giảng dạy với ngànhnghề cụ thể, cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, tổng quát nhất vềcác ngành nghề trong xã hội, hình thành sở thích, đam mê và ham muốn nghềnghiệp trong tương lai của học sinh Thông qua quá trình học tập, dưới sự địnhhướng và cung cấp kiến thức của giáo viên, học sinh có ý thức đúng đắn về nghềnghiệp,có thể phát huy được năng khiếu, sở trường của bản thân cũng như nhucầu lao động của xã hội để đưa ra quyết định lựa chọn ngành nghề phù hợp, đặcbiệt là HS lớp 12
2.2 Thực trạng của vấn đề
So với các môn học khác trong trường THPT thì môn Ngữ Văn là mộtmôn học có nhiều thế mạnh về hướng nghiệp cho học sinh Việc tích hợp nộidung hướng nghiệp qua môn học là một hoạt động giáo dục trong nhà trườngphổ thông nhằm giúp học sinh có những hiểu biết thông thường về hướngnghiệp để có thể định hướng phát triển, lựa chọn nghề phù hợp với hứng thú cánhân, năng lực bản thân và nhu cầu nhân lực của xã hội Trên cơ sở đó, các emtiếp tục học tập, rèn luyện để có thể phát triển hoạt động nghề nghiệp trong
Trang 6tương lai Tích hợp nội dung GDHN trong quá trình dạy học được tổ chức tốt sẽgóp phần trang bị cho HS những kiến thức cơ bản về ngành nghề, nhu cầu laođộng của xã hội, yêu cầu của việc làm đối với nguồn lao động, thị trường laođộng…Từ đó,HS có định hướng tương lai, luôn nỗ lực trong quá trình học tập
để đưa ra những lựa chọn đúng, hướng đến cuộc sống tốt đẹp, môi trường laođộng lành mạnh; không đưa ra lựa chọn ngành nghề theo phong trào; đảm bảo
có đủ thông tin, có định hướng cụ thể trong quyết định lựa chọn ngành nghề.Như vậy, tích hợp nội dung giáo dục còn hướng đến hoàn thành mục tiêu giáodục toàn diện; góp phần vào việc phân luồng HS cấp THPT, là bước khởi đầuquan trọng của quá trình phát triển nguồn nhân lực xã hội
Thực tế giảng dạy ở trường THPT Yên Định 1 nhiều năm qua, tôi nhậnthấy, hiện nay một bộ phận không nhỏ HS chưa có ước mơ, lí tưởng, chưa biếtđịnh hướng nghề nghiệp cho tương lai; hoặc còn có những quan niệm sai lầm vềnghề nghiệp và cách lựa chọn nghề nghiệp; hoặc không có lí tưởng nghề nghiệp,chỉ thực hiện theo sự định hướng của gia đình, theo trào lưu, vì sĩ diện Một bộphận HS chọn sai trường, sai nghề dẫn tới chán nản với việc học; bỏ dở giữachừng hoặc ra trường không có đủ năng lực lao động trong ngành nghề đã học…
Thực tế trên đã đặt ra yêu cầu cần thiết cho hoạt động GDHN trong nhàtrường, trong đó có môn Ngữ văn Vì lí do trên, tôi đã có ý thức và hành động cụthể tích hợp định hướng GDHN vào những tiết dạy và những hoạt động giáo dụckhác một cách phù hợp Trong phạm vi nghiên cứu của bài viết, tôi xin trình bày
cụ thể cách thức định hướng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 qua bài
Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Ở phần phụ lục, tôi xin cung cấp thêm một
số hình ảnh của hoạt động GDHN trải nghiệm sáng tạo đã được thực hiện tạitrường THPT Yên Định 1
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện
Dưới đây là tiến trình dạy học định hướng GDHN trong nội dung của bài: Nghị
luận về một tư tưởng, đạo lí trong chương trình Ngữ văn lớp 12.
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ
Trang 7- Biết làm: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
- Thông thạo: Cấu trúc bài nghị luận xã hội
1.3 Thái độ:
- Hình thành thói quen: Phân tích đề, lập dàn ý
- Hình thành tính cách: Tự tin khi trình bày vấn đề về tư tưởng, đạo lí
- Hình thành nhân cách: Nhận thức và hành động đúng đắn
-Có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
1.4 Những năng lực cụ thể học sinh cần phát triển:
- Năng lực viết văn bản nghị luận xã hội
- Năng lực đọc – hiểu một văn bản nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
- Các năng lực chung như: thu thập kiến thức xã hội có liên quan; nănglực giải quyết vấn đề; năng lực sáng tạo; năng lực giao tiếp,…
1.5 Tích hợp nội dung giáo dục hướng nghiệp:
- Trang bị cho HS những nhận thức đúng đắn về nghành nghề trong xãhội; có ước mơ, lí tưởng cho nghành nghề yêu thích; có khả năng lựa chọnnghề phù hợp với bản thân; quyết tâm học tập, rèn luyện để có thể đáp ứngđược yêu cầu của nghề nghiệp trong tương lai,…
- Mức độ tích hợp: Tích hợp từng phần trong bài
2 Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:
2.1 Chuẩn bị của giáo viên:
- Phương pháp phân tích, thuyết trình kết hợp trao đổi thảo luận
- SGK, Giáo án, đọc tài liệu tham khảo
2.2 Chuẩn bị của học sinh:
- Chủ động tìm hiểu kiến thức; chuẩn bị kiến thức, bài học được giáo viênyêu cầu; soạn bài học qua các câu hỏi SGK,…
Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
-Bước 1: GV tổ chức hoạt động khởi động
bằngtrò chơi “Khám phá chiếc hộp bí ẩn”
Trong hộp, chuẩn bị những câu hỏi trả lời
nhanh liên quan đến vấn đề nghị luận xã
hội, những câu có nội dung định hướng
nghề nghiệp
Câu trả lời:
- Câu 1: C
- Câu 2: A
Trang 8Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
Câu 1: Đề văn nào dưới đây không thuộc
loại văn nghị luận xã hội?
A Anh/ chị suy nghĩ như thế nào về câu
tục ngữ: Cái nết đánh chết cái đẹp?
B Anh/ chị suy nghĩ như thế nào về câu
khẩu hiệu của UNESCO: Học để biết, học
để làm, học để chung sống, học để tự
khẳng định mình.
C Anh/ chị suy nghĩ như thế nào về câu
nói của Viên Mai: Làm người thì không
nên có cái tôi nhưng làm thơ thì không
thể không có cái tôi?
D Qua bài thơ Vội vàng, anh(chị) hãy trình
bày suy nghĩ của mình về quan niệm sống
của nhà thơ Xuân Diệu
Câu 2: Bài văn nghị luận về một tư tưởng,
đạo lí có yêu cầu gì về mặt nội dung?
A Nghị luận làm sáng tỏ các vấn đề tư
tưởng, đạo lí bằng cách giải thích, chứng
minh, so sánh, đối chiếu, phân tích,…để
chỉ ra chỗ đúng, sai của tư tưởng nào đó
Câu 3: Đọc những câu tục ngữ thể hiện
quan điểm của người xưa về nghề nghiệp,
công việc
Câu 4: Anh/ chị hiểu như thế nào về câu
nói: “ Lao động là vinh quang” (C Mac)
- Bước 2:HS lên bốc thăm (làm việc cá
Trang 9Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
- Bước 4: GV nhận xét và dẫn vào bài mới:
Văn nghị luận nói chung, nghị luận về một
tư tưởng, đạo lí nói riêng là kiểu bài chúng
ta thường gặp trong đời sống hằng ngày,
trên báo chí và các phương tiện truyền
thông đại chúng khác Hơn nữa, ở bậc
THCS, chúng ta cũng đã nghiên cứu khá kĩ
kiểu bài này Trong tiết học hôm nay, cô và
các em sẽ cùng rèn luyện kỹ năng tìm hiểu
đề; lập dàn ý cho bài nghị luận về một tư
tưởng, đạo lí Qua đó, giúp các em có định
hướng đúng đắn nghề nghiệp cho tương
lai,…
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức (15 phút)
1 Mục đích: HS biết cách tìm hiểu đề; cách lập dàn ý; cách làm bài nghị luận
về một tư tưởng, đạo lí; hình thành các năng lực chung như: thu thập kiến thức
xã hội có liên quan; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực sáng tạo; năng lực sửdụng, giao tiếp bằng tiếng Việt,…
2 Phương pháp:Làm việc cá nhân/ nhóm, thảo luận, phát vấn, thuyết trình
3 Hình thức tổ chức hoạt động:
Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
Thao tác 1: GV hướng dẫn HS tìm hiểu
đề
- Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ:
H:Đọc kĩ đề bài và câu hỏiSGK, trao đổi
thảo luận, ghi kết quả vào phiếu học tập(ý
khái quát, ngắn gọn) và đại diện nhóm trình
bày
- Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ (HS làm
việc theo nhóm-4 nhóm thực hiện yêu cầu)
- Bước 3:Đại diện của từng nhóm HS báo
cáo sản phẩm, các nhóm khác bổ sung,
phản biện
- Bước 4:GV cho các nhóm nhận xét kết
I Tìm hiểu đề và lập dàn ý
Đề bài: Em hãy trả lời câu hỏi sau
của nhà thơ Tố Hữu: Ôi! Sống đẹp
là thế nào, hỡi bạn ?
1 Tìm hiểu đề
- Câu thơ viết dưới dạng câu hỏi,
nêu lên vấn đềsống đẹptrong đời
sống của mỗi người; muốn xứngđáng là “con người” cần nhận thứcđúng và rèn luyện tích cực
- Để sống đẹp, mỗi người cần xác định: lí tưởng (mục đích sống) đúng đắn, cao đẹp;tâm hồn, tình
cảm lành mạnh, nhân hậu; trí tuệ
Trang 10Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
quả của nhau sau đó bổ sung và chốt kiến
thức
GV bổ sung:
- Như vậy, bài làm có thể hình thành 4 nội
dung để trả lời câu hỏi của Tố Hữu: lí tưởng
đúng đắn; tâm hồn lành mạnh; trí tuệ sáng
suốt; hành động tích cực
- Với đề văn này, có thể sử dụng các thao
tác lập luận như: giải thích (sống đẹp); phân
tích (các khía cạnh biểu hiện của sống đẹp);
chứng minh, bình luận (nêu những tấm
gương người tốt, bàn cách thức rèn luyện để
sống đẹp; phê phán lối sống ích kỉ, vô trách
nhiệm, thiếu ý chí, nghị lực,…)
Thao tác 2: GV hướng dẫn HS lập dàn ý
- Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ (Yêu
cầu HS làm việc nhóm)
H: HS dựa vào phần tìm hiểu đề lập dàn ý
- Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ(HS làm
Trang 11Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
từng bước hoàn thiện nhân cách
c Kết bài:
- Khẳng định ý nghĩa của sốngđẹp
Thao tác 1: GV hướng dẫn HS cách nhận
diện đề tài nghị luận về tư tưởng, đạo lí
- Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ (Yêu
cầu HS làm việc cá nhân)
H: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí thường
Thao tác 2:GV hướng dẫn HS khái quát
lại phương pháp làm bài
- Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ
H: Bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
thường có những nội dung nào?
- Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ(HS làm
việc cá nhân)
- Bước 3: HS báo cáo sản phẩm
- Bước 4: GV nhận xét, chốt kiến thức
GV bổ sung: Từ nội dung cần có của bài
II Cách làm bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
1 Đề tài nghị luận về tư tưởng, đạo lí
Đề tài nghị luận về tư tưởng đạo lí
vô cùng phong phú, bao gồm cácvấn đề:
- Về nhận thức (lí tưởng, mục đíchsống)
- Về tâm hồn, tính cách (lòng yêunước, lòng nhân ái, vị tha, baodung, độ lượng; tính trung thực,dũng cảm, chăm chỉ, cần cù, thái
độ hoà nhã, khiêm tốn; thói ích kỉ,
ba hoa, vụ lợi,…)
- Về các quan hệ gia đình (tìnhmẫu tử, tình anh em,…); về quan
hệ xã hội(tình đồng bào, tình thầytrò, tình bạn,…)
- Về cách ứng xử, những hànhđộng của mỗi người trong cuộcsống,…
2.Nội dung của bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
a Mở bài: Giới thiệu tư tưởng,đạo lí cần bàn luận, trích dẫn (nếu
đề đưa ý kiến, nhận định)
b Thân bài:
- Giải thích: nêu nội dung vấn đề
Trang 12Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, ta có
thể vận dụng để viết đoạn văn, đáp ứng yêu
cầu đổi mới của kỳ thi THPT
+ Về hình thức đoạn: Chữ đầu đoạn viết
hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm
xuống dòng
+ Về nội dung đoạn: Diễn đạt một ý tương
đối trọn vẹn.(Với đoạn nghị luận về một tư
tưởng, đạo lí, yêu cầu làm rõ tư tưởng, đạo
lí; sử dụng linh hoạt nhiều thao tác lập
luận.)
cần bàn luận Trong trường hợpcần thiết, người viết chú ý giảithích các khái niệm, các vế và rút
ra ý khái quát của vấn đề
(Lưu ý:Cần giới thiệu vấn đề mộtcách ngắn gọn, rõ ràng, tránh trìnhbày chung chung Khâu này rấtquan trọng, có ý nghĩa định hướngcho toàn bài.)
- Phân tích:phân tích vấn đề trênnhiều khía cạnh, chỉ ra biểu hiện
cụ thể
- Chứng minh:Dùng dẫn chứng đểlàm sáng tỏ vấn đề
- Bàn bạc: bàn bạc vấn đề trên các
phương diện, khía cạnh: đúng sai, tốt - xấu, tích cực - tiêu cực, đóng góp - hạn chế,…
Khẳng định ý nghĩa của vấn đềtrong lí luận và thực tiễn đời sống
2 Phương pháp: Làm việc cá nhân/nhóm, thảo luận, phát vấn, thuyết trình
Trang 133 Hình thức tổ chức hoạt động:
Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
Thao tác 1: GV hướng dẫn HS luyện tập
bài tập 1.
-Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ: GV yêu
cầu HS đọc kĩ bài tập 1 trong SGK(trang
21- 22) và thực hành theo các câu hỏi
(Yêu cầu HS làm việc cá nhân)
- Bước 2: Cá nhân HS thực hiện nhiệm vụ
- Bước 3: HS báo cáo sản phẩm
- Bước 4: GV kiểm tra, nhận xét
Thao tác 2: GV hướng dẫn HS luyện tập
bài tập 2
-Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ:
+ GV yêu cầu HS lập dàn ý cho đề: Hãy
viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200
chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý
kiến của Giản Tư Trung: Khi làm công
việc mà mình giỏi nhất, mê nhất và phù
hợp với “cái chất” con người của mình
nhất thì khi đó làm việc cũng là làm người,
khi đó mình làm việc nhưng cũng là sống
với con người của mình
+ GV chia nhóm HS theo bàn để thảo luận
dàn ý, sau đó định hướng để HS về nhà
viết thành đoạn văn hoàn chỉnh(phần viết
đoạn văn, GV sẽ kiểm tra, chấm điểm một
số HS ở tiết học sau)
- Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ(thảo
1 Bài tập 1(SGK trang 21- 22) -Vấn đề mà Nê-ru bàn luận là phẩm
chất văn hoá trong nhân cách củamỗi con người
- Có thể đặt tiêu đề cho văn bản là:
Thế nào là con người có văn hoá?;
hay:Một trí tuệ có văn hoá.
- Tác giả đã sử dụng các thao tác
lập luận: Giải thích (đoạn 1), phântích (đoạn 2),bình luận (đoạn 3)
- Cách diễn đạt rất sinh động: (giải
thích: Đưa ra câu hỏi và tự trả lời.Phân tích: Trực tiếp đối thoại vớingười đọc tạo sự gần gũi thân mật.Bình luận: Viện dẫn đoạn thơ củamột nhà thơ Hi Lạp vừa tóm lượccác luận điểm vừa tạo ấn tượng nhẹnhàng, dễ nhớ, hấp dẫn)
2 Bài tập 2
- Giải thích: Điều quan trọng nhất ở
khía cạnh con người chuyên môn là
làm việc gì mình giỏi nhất(đúng sở
trường, phát huy được năng lực),
mê nhất (thực sự đam mê, yêu quý
nghề nghiệp ấy), phù hợp với mình
nhất và khi đó con người sẽ tìm ra
chính mình
- Bàn luận:
+ Con người sẽ không tìm đượcchính mình, không tạo được giá trịsống nếu không làm việc Làm việc
mà không có lí tưởng nghề nghiệp,không đam mê cũng giống nhưsống mà không có mục đích Bởi
vì, sự lựa chọn của mỗi người trongtừng công việc/nghề nghiệp sẽ làm