Vậy làm thế nào để mỗi tiết dạy Ngữ văn, đặc biệt là tiết đọc- hiểu vănbản nghị luận nói chung, bài “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ... - Nghiên cứu đề tà
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT LÊ HOÀN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đơn vị công tác: Trường THPT Lê Hoàn SKKN thuộc môn: Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2020
MỤC LỤC:
Trang 21 Mở đầu. Trang 11.1 Lí do chọn đề tài Trang 11.2 Mục đích nghiên cứu Trang 21.3 Đối tượng nghiên cứu Trang 21.4 Phương pháp nghiên cứu Trang 21.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm Trang 3
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm Trang 3
2.1.1 Khái niệm năng lực và dạy học định hướng phát triển năng
lực
Trang 3
2.1.2 Dạy học đọc hiểu nhằm phát triển năng lực cho học sinh Trang 32.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm Trang 42.2.1 Thực trạng đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng
phát triển năng lực cho học sinh trong môn Ngữ văn ở trường
THPT
Trang 4
2.2.2 Thực trạng dạy bài "Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng
trong văn nghệ của dân tộc"
học tích cực chủ yếu nhằm phát triển năng lực học sinh vào từng
địa chỉ cụ thể của bài học
Trang 5
2.3.2 Giáo án thực nghiệm: “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng
trong văn nghệ của dân tộc” - Phạm Văn Đồng( tiết 10, 11
PPCT) Hình thức dạy học: Dạy học trên lớp
Trang 6
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm Trang 18
3 Kết luận và kiến nghị Trang 19
Trang 31 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài.
Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộngsản Việt Nam lần thứ 8, khóa XI đã xác định mục tiêu tổng quát của giáo dụcvà đào tạo là “tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáodục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốcvà nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triểntoàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân;yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả”.Đồng thời Nghị quyết cũng xác định mục tiêu cụ thể: “Đối với giáo dục phổthông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lựccông dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp chohọc sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lýtưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹnăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”
Phương pháp giáo dục có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện ở trường trung học phổ thông (THPT) Luật giáo dụcsửa đổi năm 2010, điều 28.2 đã nêu rõ “Phương pháp giáo dục phổ thông phảiphát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặcđiểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹnăng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,hứng thú học tập cho học sinh” Định hướng trên đã trở thành tinh thần cơ bảncủa đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường
Có thể nói, cốt lõi của đổi mới dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nóiriêng là hướng hoạt động học tập tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh (HS)trong nhận thức, cảm thụ và ứng dụng các kiến thức kĩ năng văn học Giáo viên(GV) dạy Ngữ văn không chỉ truyền thụ kiến thức, kĩ năng văn học tới học sinhmà có cả vai trò của người tổ chức, hướng dẫn cho học sinh chủ động tiếp nhận,cảm thụ, tìm tòi, khám phá để cảm cái hay, cái đẹp của các vấn đề văn học
Trong chuyên ngành Ngữ văn, tiếp nhận có kết quả một tác phẩm văn học đãkhó nhưng tiếp nhận có kết quả một văn bản nghị luận còn khó hơn nhiều Học sinhthường có định kiến văn bản nghị luận là khó, khô khan nên thường có tâm lí ngạiđọc, ngại suy nghĩ tìm tòi, khám phá Vì vậy, giáo viên phải lựa chọn được phươngpháp dạy học phù hợp nhất để phá vỡ các định kiến trên, tác động đến tình cảm,đem lại niềm hứng thú, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
Văn bản nghị luận là một trong những loại văn bản được học trongchương trình Ngữ văn Tiếp nhận những văn bản này học sinh như đang được
“chinh phục” những cách nghị luận mẫu mực của các tác giả Và qua đó sẽ giúpcác em hiểu sâu sắc hơn về các yếu tố cơ bản của văn nghị luận, nhất là về cáchlập luận, diễn đạt trong văn nghị luận
Vậy làm thế nào để mỗi tiết dạy Ngữ văn, đặc biệt là tiết đọc- hiểu vănbản nghị luận nói chung, bài “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ
Trang 4của dân tộc” nói riêng trở thành sự đam mê, thích thú được tìm hiểu, khám phá
để phát huy được tính tích cực, chủ động của mỗi học sinh Điều này khiến tôitrăn trở rất nhiều Trong những năm tháng giảng dạy, tôi luôn có ý thức suynghĩ, tìm tòi cách dạy như thế nào để nâng cao hiệu quả tìm hiểu cái hay, cái đặcsắc của nghệ thuật lập luận trong văn nghị luận Tôi luôn tự đặt câu hỏi: Làm thếnào để học sinh chiếm lĩnh văn bản một cách hiệu quả nhất? Làm sao để các emkhông còn định kiến văn bản nghị luận là khó và khô khan? Và đặc biệt làm thếnào để gây được sự hứng thú, lòng say mê văn bản nghị luận trong các em đểcác em tích cực, chủ động chiếm lĩnh nó…
Đó là những lí do để tôi lựa chọn đề tài “ Tổ chức hoạt động học bài
“Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” - Phạm Văn Đồng cho học sinh lớp 12 theo hướng phát triển năng lực”( tiết 10, 11- Ngữ văn 12- Ban cơ bản).
1.2 Mục đích nghiên cứu.
- Nghiên cứu đề tài này tôi mong muốn sẽ góp phần nâng cao chất lượngdạy đọc hiểu văn bản nghị luận nói chung và văn bản "Nguyễn Đình Chiểu,ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc" nói riêng
- Giúp học sinh nâng cao hứng thú học tập văn bản nghị luận và pháttriển năng lực Người viết mong muốn qua bài học, học sinh rút ra được nhữngnét nghệ thuật nghị luận đặc sắc của Phạm Văn Đồng, phương pháp học theođặc trưng thể văn nghị luận, một số kinh nghiệm khi làm văn nghị luận
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ những tài liệu liên quan đếnbài "Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc"
- Biện pháp tổ chức hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản “Nguyễn Đình
Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” - Phạm Văn Đồng cho họcsinh lớp 12 theo định hướng năng lực”
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài này sẽ kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, từ nhiều góc độ vàcấp độ khác nhau để phát hiện rõ vấn đề Sau đây là các phương pháp tiêu biểu :
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp nghiên cứu tài
liệu được sử dụng để xác định cơ sở lí luận chung cho đề tài, thiết kế giáo ánthực nghiệm Các tài liệu nghiên cứu bao gồm các công trình nghiên cứu của cácnhà khoa học về “năng lực” và “dạy học đọc hiểu văn bản theo định hướngnăng lực” Phương pháp này được thực hiện thông qua các thao tác tổng hợp,phân tích, thống kê
1.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát: Sử dụng phương pháp này với 2
mục đích: khảo sát thực trang thiết kế giáo án dạy đọc hiểu văn bản, thực trạngdạy và đọc hiểu văn bản nghị luận “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trongvăn nghệ của dân tộc”
1.4.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp phân tích tổng
hợp nhằm soi sáng cho những nhận định chung Nhờ phương pháp này mà quá
Trang 5trình tổ chức bài học theo đúng đặc trưng thể loại và phát huy được tính tích cựcchủ động của học sinh trong quá trình chiếm lĩnh bài học.
1.4.4 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp này được thể
hiện thông qua hoạt động thế kế giáo án thực nghiệm dạy học đọc hiểu văn bản
"Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc" theo hướngphát triển năng lực học sinh
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm (SKKN):
So với các SKKN trước đây, sáng kiến kinh nghiệm này tôi chú trọngthiết kế giáo án sử dụng các phương pháp/ kĩ thuật dạy học (PP/KTDH) tích cực
để tổ chức dạy đọc hiểu giúp học sinh biết cách đọc, cách tiếp cận, khám phá nộidung và nghệ thuật của văn bản theo các mức độ khác nhau từ đọc đúng, đọcthông đến đọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo, khơi dậy cho học sinhphát huy năng lực đọc hiểu các văn bản theo đặc trưng thể loại, đặc biệt là nănglực viết sáng tạo Tức là học sinh có khả năng trình bày, thể hiện suy nghĩ, cảmnhận của bản thân trước đối tượng, vấn đề đặt ra
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1 Khái niệm năng lực và dạy học định hướng phát triển năng lực
Năng lực là khả năng làm chủ và vận dụng hợp lí các kiến thức, kinhnghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách hiệu quả trong các
tình huống đa dạng của cuộc sống
Năng lực gồm năng lực chung như: Hợp tác (cùng tìm hiểu, cắt nghĩa, thảo
luận về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm; cùng giải quyết những vấn đề thựctiễn đặt ra từ tác phẩm; tương tác trong quá trình tạo lập văn bản, chỉnh sửa vănbản và đánh giá chéo; hỗ trợ nhau về kinh nghiệm, tri thức đọc hiểu, tạo lập văn
bản); Tự quản bản thân (điều chỉnh thái độ, cách ứng xử, hành vi của bản thân
trong và sau khi học tác phẩm; độc lập, chủ động khám phá giá trị của tác phẩm;
thích ứng với các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau) và các năng lực đặc thù như:
Giao tiếp tiếng Việt (sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt phù hợp, hiệu quả trong quá
trình đọc hiểu; qua các bài học tiếng Việt và qua các bài học tạo lập văn bản…);
Cảm thụ thẩm mĩ (cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn ngữ, hình tượng văn học;
đánh giá được ý nghĩa, giá trị thẩm mĩ của tác phẩm văn học; có quan điểm sống
và hành động hướng theo cái đẹp, cái thiện)
Dạy học phát triển năng lực chính là việc phát huy mạnh mẽ tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh; học sinh là bạn đọc – sáng tạo; thực hiện “học
đi đôi với hành” (vận dụng kiến thức vào thực tiễn); tăng cường dạy cách đọc,cách viết, cách giải quyết vấn đề; tổ chức các hoạt động học tập ở học sinh theo
lý thuyết kiến tạo và thuyết đa trí thông minh
2.1.2 Dạy học đọc hiểu nhằm phát triển năng lực cho học sinh
Dạy học đọc hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mớiphương pháp dạy học Ngữ văn trong việc tiếp nhận văn bản Dạy học đọc hiểutheo định hướng phát triển năng lực học sinh được hiểu là một quan điểm dạyhọc, tập trung vào “kết quả đầu ra” của người học Giáo viên tiến hành tổ chức
Trang 6các hoạt động học tập nhằm giúp HS không chỉ biết, hiểu những kiến thức củabài học, mà còn phải biết vận dụng những kiến thức, kĩ năng ấy vào những hoạtđộng cụ thể, giải quyết tình huống trong học tập và cuộc sống.
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1.Thực trạng đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh trong môn Ngữ văn ở trường THPT.
Trên tinh thần đổi mới toàn diện về giáo dục, phương pháp dạy học nóichung và phương pháp dạy học Ngữ văn nói riêng đã có nhiều đổi mới Từ cáchthuyết giảng một chiều, giáo viên làm việc là chính, học sinh thụ động nghe nhưmột cái máy sang vai trò và mối quan hệ giữa người dạy và người học đã khác.Vai trò của người thầy trong mỗi tiết dạy đã rõ nét hơn Nhiều giờ dạy Ngữ văn
đã được sử dụng những phương tiện và kĩ thuật dạy học hiện đại, việc áp dụngcông nghệ thông tin trong dạy học cũng diễn ra rộng rãi Mối quan tâm hàng đầuđối với những người trực tiếp giảng dạy văn ở nhà trường phổ thông là làm thếnào để phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, nâng cao hiệu quả giáo dụcthẩm mỹ, khơi gợi niềm say mê hứng thú học tập bộ môn Ngữ văn, định hướngphát triển năng lực học sinh
Tuy nhiên, trên thực tế chúng ta thấy không ít giáo viên lựa chọn phươngpháp chưa phù hợp, hoặc sự phối hợp giữa các phương pháp chưa nhịp nhàngnên hiệu quả và chất lượng của một giờ Ngữ văn chưa cao Lại có những giờdạy Ngữ văn được đánh giá cao về đổi mới phương pháp nhưng tính tích cực,chủ động của các em chưa đồng đều, chỉ một bộ phận (nhóm trưởng, thư ký)làm việc các thành viên khác ngồi chơi, xem hoặc quan sát bạn làm Các em vẫnchưa thật sự sôi nổi, hăng hái phát biểu và tranh luận Vẫn còn tình trạng đọcchép, diễn giải hoặc thuyết trình một chiều Nhiều giờ dạy còn gượng gạo, gòbó, áp đặt Việc đối thoại trong giờ học thực tế chưa hiệu quả, phần lớn là hỏiđáp chứ chưa phải là đối thoại đích thực Nhất là văn nghị luận, nhiều giờ dạydiễn ra khô khan Người dạy thì dạy theo “lộ trình” đã định sẵn nhằm cung cấpkiến thức cơ bản cho học sinh Người học thì thụ động chỉ biết ghi chép theo lời,
ý giáo viên, không chủ động trong việc tiếp nhận kiến thức, không chủ động đặt
ra câu hỏi để cùng giải quyết Rất ít học sinh ý thức được rằng, học văn là đượcthưởng thức văn chương, để bồi đắp thẩm mĩ, hoàn thiện nhân cách nên các emchưa tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức Đó là một thực tế mà mỗi giáo viên
dạy Ngữ văn suy ngẫm và trăn trở.
2.2.2 Thực trạng dạy bài "Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc".
Dù có nhiều đổi mới trong giảng dạy môn Ngữ văn nhưng trên thực tế khidạy bài “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” vẫn làmột trăn trở lớn đối với giáo viên Đây là bài nghị luận đặc sắc của Phạm VănĐồng cũng là áng văn nghị luận tiêu biểu của văn nghị luận Việt Nam hiện đại.Bài này vẫn chưa nhận được sự hào hứng, say mê của người học Vì học sinhkhông thích đọc những luận điểm, luận cứ mà theo các em là dài dòng, khôkhan Và các em cũng không thích tìm hiểu cách lập luận, hành văn của người
Trang 7nghị luận Nên tổ chức cho học sinh chiếm lĩnh bài này giáo viên rất vất vả Bàihọc thì khó, dài, học sinh thì thờ ơ, thụ động Trong giờ học các em rất ít phátbiểu, ít tranh luận, không thắc mắc, Vì thế mà giờ học diễn ra đơn điệu, tẻnhạt Nhiều em còn lúng túng, hiểu bài một cách hời hợt, chiếu lệ.
Qua khảo sát giáo viên dạy Ngữ văn cùng học sinh lớp 12 trong trườngTHPT tôi đang công tác thì đa số giáo viên và học sinh đều thấy văn bản
“Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc" hay nhưng
khó Phần lớn học sinh ngại học văn nghị luận và chưa biết cách đọc hiểu bàinghị luận sao cho hiệu quả
Từ thực trạng trên, để học sinh có hứng thú với những tiết dạy văn bảnnghị luận, tôi đã không ngừng tìm tòi, nghiên cứu, đổi mới phương pháp giảngdạy nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Và tôi đã mạnh dạn
thực hiện đề tài “Tổ chức hoạt động học bài “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao
sáng trong văn nghệ của dân tộc” - Phạm Văn Đồng cho học sinh lớp 12 theo hướng phát triển năng lực”.
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1 Giáo viên đọc, nghiên cứu tài liệu và vận dụng vào thiết kế tổ chức giờ dạy:
2.3.1.1 Giáo viên đọc kĩ các tài liệu có liên quan đến bài học, xác địnhmục tiêu cần đạt
- Đọc kĩ văn bản “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ củadân tộc” trong sách giáo khoa
- Tài liệu về bài học trong Sách giáo viên Ngữ văn 12, tập 1 của Nhà xuất
bản Giáo dục, Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môm Ngữ văn
lớp 12 của Bộ giáo dục và đào tạo, NXB Giáo dục, 2010- Nhóm tác giả Thiết
kế bài học Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục, 2008, Phan Trọng Luận (Tổng
“Trình bày một phút” (HS nêu những nhận xét, ấn tượng sắc của cá nhân về giátrị nội dung và nghệ thuật của văn bản)
- Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lí
hỗ trợ dạy học Để phát huy tối đa hiệu quả của các PP/KT dạy học tích cựcnhằm phát huy tính tích cực của học sinh khi dạy bài “Nguyễn Đình Chiểu, ngôisao sáng trong văn nghệ của dân tộc” chúng tôi đã lựa chọn phương tiện dạy họcvà tìm kiếm các hình ảnh sau: máy tính, máy chiếu đa năng với màn hình khổlớn được xây dựng trên công cụ Powerpoint GV lựa chọn và tìm kiếm các hình
Trang 8ảnh, thông tin: về Phạm Văn Đồng, về Nguyễn Đình Chiểu và tác phẩm của ông,về phong trào kháng Pháp cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
- Kết hợp đa dạng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Thiết kếgiáo án đọc hiểu văn bản “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ củadân tộc” gắn liền với hình thức dạy học trên lớp Các PP/KTDH trên kết hợp với sự
đa dạng của hình thức dạy học chung cả lớp, dạy học nhóm, dạy học cá thể
2.3.2 Giáo án thực nghiệm (kiểm định qua bài dạy cụ thể):
“Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc”
-Phạm Văn Đồng.
Thời gian: 2 tiết ( tiết 10, 11)
Hình thức dạy học: Dạy học trên lớp
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT: Giúp học sinh:
1 Về kiến thức:
- Nắm được cách nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, sâu sắc và mới mẻ củaPhạm Văn Đồng về con người Đồ Chiểu và những giá trị lớn lao của thơ văn; từđó thấy rõ rằng trong bầu trời văn nghệ của Việt Nam, NĐC đúng là một vì sao
“càng nhìn thì càng thấy sáng”
- Đồng thời thấy được phong cách nghị luận của Phạm Văn Đồng: Cáchnêu vấn đề nghị luận độc đáo, giọng văn hùng hồn, giàu sức biểu cảm
2 Về kĩ năng: Hoàn thiện và nâng cao kĩ năng đọc - hiểu văn bản nghịluận theo đặc trưng thể loại Vận dụng cách nghị luận giàu sức thuyết phục củatác giả để phát triển các kĩ năng làm văn nghị luận
3 Về thái độ: Thêm yêu quý, trân trọng con người và tác phẩm củaNguyễn Đình Chiểu
4 Các năng lực cần hướng tới: Từ đó có thể hình thành, rèn luyện cho HSnhững năng lực sau: Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sángtạo, năng lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân, năng lực sử dụng ngôn ngữ
B PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN:
1 GV: SGK, SGV, giáo án, máy chiếu, các tình huống dạy học
2 HS: SGK, bài soạn, tư liệu học tập
C PHƯƠNG PHÁP:
- Giáo viên tổ chức giờ dạy học theo cách đọc, hiểu kết hợp với các PP/KT:trò chơi, động não, vấn đáp, thảo luận nhóm, trình bày một phút
- Vận dụng kĩ năng đọc- hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại nghị luận
D.TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC :
* Ổn định lớp, kiểm tra sự chuẩn bị bài của học sinh
* Tổ chức hoạt động dạy bài mới
Hoạt động của GV & HS Yêu cầu cần đạt
Tiết 10
Bước1: Hoạt động trải nghiệm:
GV tổ chức trò chơi “Ai
nhanh hơn” theo các bước
Trang 9Bước 1 Giới thiệu trò chơi
với học sinh - trò chơi
mang tên “Ai nhanh hơn”
Bước 2: Giới thiệu luật
chơi: GV dùng máy chiếu ,
lần lượt trình chiếu câu hỏi
với các các đáp án A, B, C,
D và yêu cầu các em trả lời
(chọn đáp án đúng)
HS nào giơ tay trước sẽ
được gọi trả lời Kết quả sẽ
được công bố ngay sau mỗi
câu hỏi
Bước 3: Tổ chức trò chơi
=> Sau khi nhận xét ngắn
gọn về cuộc chơi, GV dẫn
dắt học sinh vào bài học:
Chúng ta vừa được kết nối
về hai nhân vật tiêu biểu
trong lục sử và văn hóa
nghệ thuật đân tộc Hôm
nay, chúng ta tiếp tục tìm
hiểu một vài nội dung quan
trọng qua đọc- hiểu văn bản
nghị luận đặc sắc của Phạm
Văn Đồng “Nguyễn Đình
Chiểu, ngôi sao sáng trong
nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh
tên thân mật là chú Tô
A Nhà lí luận văn nghệ uyên bác của nước ta
B Nhà cách mạng lớn của dân tộc, nhà lí luận vănnghệ uyên bác của nước ta
C Một nhà giáo dục tâm huyết của dân tộc; mộtnhà cách mạng lớn của dân tộc
D Một nhà cách mạng lớn của dân tộc; nhà lí luậnvăn nghệ và cũng là một nhà giáo dục tâm huyếtcủa nước ta
Đáp án: D Câu 3: Hai câu thơ sau là của nhà thơ nào?
" Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà"
ối với câu hỏi này GV chiếu 4 đáp án cùng mộtlúc
A Sóng Hồng B Hồ Chí Minh
C Nguyễn Đình Chiểu D Nguyễn Khuyến
Đáp án: C Câu 4: Những câu thơ sau được Nguyễn Đình
Chiểu viết trong tác phẩm nào?
Thà cho trước mắt mù mù, Chẳng thà ngôi thấy kẻ thù quân thân.
Thà cho trước mắt vô nhân, Chẳng thà ngôi ngỏ sinh dân nghiêng nghèo Thà cho trước mắt vẳng hiu,
Chằng thà thấy cảnh trời chiều phân xâm.
Thà cho trước mặt tối hầm, Chẳng thà thấy đất lục trầm can qua.
Dù đui mà giữ đạo nhà Còn hơn có mắt ông cha không thờ.
Đối với câu hỏi này GV chiếu 4 đáp án cùng một lúc
A Truyện "Lục Vân Tiên"
B "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc"
C Thơ điếu Trương Định
Trang 10văn nghệ của dân tộc” D "Ngư Tiều vấn đáp"
Đáp án: Ngư Tiều vấn đáp.
Bước 2: Hoạt động hình thành kiến thức mới:
Hoạt động 1: I Tìm hiểu chung:
GV: sử dụng kĩ thuật động
não
GV gọi 1 HS tóm lược
những kiến thức cơ bản về
tác giả, tác phẩm trong sách
giáo khoa
Sau đó GV tiếp tục mời HS
trình bày những hiểu biết
về tác giả mà các em biết
được từ các nguồn tài liệu
tham khảo khác?
HS: suy nghĩ, trả lời
GV nhấn mạnh một số nội
dung cơ bản; chiếu nội
dung, hình ảnh Phạm Văn
Đồng, Nguyễn Đình Chiểu,
một vài đánh giá ca ngợi
Nguyễn Đình Chiểu
1 Tác giả :
+ Phạm Văn Đồng (1906-2000) là một nhà cáchmạng lớn của nước ta trong thế kỉ XX; có nhiềucống hiến to lớn trong việc xây dưng và quản línhà nước Việt Nam
+ Phạm Văn Đồng còn là nhà giáo dục tâm huyếtvà một nhà lí luận văn hoá nghệ thuật lớn Trongvai trò người lãnh đạo Đảng và Nhà nước, ôngluôn dành mối quan tâm đặc biệt đến mặt trận vănhoá văn nghệ nước ta Không chỉ đưa ra những ýkiến có ý nghĩa chỉ đạo đường lối ông còn cónhững bài viết sâu sắc, mới mẻ, đầy hào hứng vềtiếng Việt và các danh nhân văn hoá Việt Nam
2 Bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong
văn nghệ của dân tộc.
Trên cơ sở HS đã trình bày, GV nhấn mạnh thêmcho HS về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm và vị trícủa nó
- Hoàn cảnh ra đời: Nhân kỉ niệm 75 năm ngàymất của Nguyễn Đình Chiểu (3/7/1888 -3/7/1963), Phạm Văn Đồng đã viết bài văn nghịluận này Bài văn ra đời giữa thời điểm cuộckháng chiến chống Mĩ của dân tộc ta diễn ra rấtquyết liệt, nhất là ở quê hương của Đồ Chiểu
- Vị trí: Là bài tiểu luận văn chương đặc sắc củaPhạm Văn Đồng cũng là một áng văn được xếpvào hàng tiêu biểu trong văn xuôi nghị luận nửacuối thế kỉ XX ở nước ta
Hoạt động 2 : II Đọc, hiểu văn bản:
1 Đọc, tìm bố cục- mạch lập luận:
* Đọc: GV sử dụng kĩ thuật
động não (đọc và tìm hiểu
cách nêu vấn đề, hệ thống
lập luận của văn bản)
GV lưu ý giọng đọc: vừa hùng hồn, dứt khoát, vừachân thành, tha thiết Một mặt, GV dặn học sinhđọc kĩ văn bản ở nhà nhưng mặt khác để tạokhông khí và hứng thú cho HS, GV gọi HS đọcdiễn cảm 3 đoạn văn đầu
* Tìm bố cục, mạch lập
luận :
GV chuẩn bị phiếu học tập
theo mẫu và lưu ý bảng
Mở bài Luận điểm bao trùm (vấn đề nghị luận)
là gì ?Phần nội
dung
Gồm 3 luận điểm triển khaiLuận điểm 1 Luận điểm Luận điểm
Trang 11biểu với HS khi soạn bài.
Tại lớp, GV phóng chiếu
bảng biểu trên máy chiếu,
yêu cầu
HS hoàn thành theo từng ô
Kết luận Đánh giá, kết luận như thế nào?
GV gọi HS trình bày
Trên cơ sở phiếu học tập
mà HS đã hoàn thành, GV
nhận xét, sửa chữa, bổ sung
và hướng dẫn HS tìm hiểu
cụ thể từng khía cạnh trong
bố cục- mạch lập luận của
văn bản
Mở
bài
Luận điểm bao trùm (vấn đề nghị luận)
"Trên trời có những vì sao có ánh sángkhác thường, nhưng con mắt của chúng taphải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càngnhìn thì càng thấy sáng Văn thơ NguyễnĐình Chiểu cũng vậy"
Phầ
nnộidung
Gồm 3 luận điểm triển khaiLuận điểm 1
"Ánh sángkhác thường"
trong cuộcđời và quanniệm vănchương của
Đồ Chiểu
Luận điểm 2Ánh sángkhác
thường"
trong thơvăn yêunước củaNguyễnĐình Chiểu
Luận điểm 3 "Ánh sángkhác
thường"trong truyệnthơ Lục Vân Tiên
Kếtbài
"Tóm lại, Nguyễn Đình Chiểu là một ngườichí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn ở nước ta.Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn ĐìnhChiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa
vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêucao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặttrận văn hóa và tư tưởng"
* GV: Hãy nhận xét sự sắp
xếp các luận điểm đó có gì
khác so với trật tự thông
thường?
HS suy nghĩ, trả lời;
GV hướng học sinh lên
bảng sơ đồ và nhấn mạnh
(máy chiếu)
- Ba luận điểm chính ở phần thân bài quy tụ lạixung quanh để làm sáng tỏ một nhận định baotrùm toàn bộ bài viết được Phạm Văn Đồng nêu ra
ở phần đầu bài viết: Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng
ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn càng thấy sáng Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy.
- Bài viết không kết cấu theo trình tự thời gian Vàtrong hai luận điểm 2 và 3, Phạm Văn Đồng tậptrung sâu rộng, kĩ càng về thơ văn yêu nước Bởi
lẽ mục đích nghị luận đã quyết định tới việc sắpxếp và mức độ nặng nhẹ của mỗi luận điểm
* GV gợi dẫn, vấn đáp
tiếp:
- Đặt bài viết trong hoàn cảnh ra đời của nó(những năm tháng chiến đấu ác liệt chống Mĩ của