Trong các năm qua, Đảng và Nhà nước đã dành nhiều quan tới công tác phòng, chống thiên tai với việc phê duyệt nhiều chiến lược, đề án, dự án về phòng, chống thiên tai, đồng thời huy động
Trang 1Sau những cố gắng của bản thân cùng với sự giúp đỡ của thầy cô và đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý xây dựng với đề tài: “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý đầu tư xây dựng công trình phòng, chống thiên tai quy mô nhỏ khu vực miền núi phía Bắc” Đây là kết quả đánh giá
kiến thức của mình trong thời gian được học tại Trường Đại học Thuỷ Lợi
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Công trình và Trường Đại học Thuỷ lợi đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành khoá học
Xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành đến TS Nguyễn Trung Anh đã
hướng dẫn tận tình, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đồng nghiệp tại nơi công tác đã khích lệ và động viên, là động lực rất lớn giúp tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Do thời gian có hạn và năng lực bản thân còn hạn chế, chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy cô chỉ bảo, mong các đồng nghiệp đóng góp ý kiến để tôi có thể hoàn thiện, tiếp tục nghiên cứu và phát triển đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 2Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận văn
Đào Văn Minh
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI 3
1.1 Định nghĩa thiên tai 3
1.2 Tình hình thiên tại tại Việt Nam 3
1.2.1 Điều kiện tự nhiên và khí hậu 3
1.2.2 Một số loại hình thiên tai chính 4
1.2.3 Một số thiên tai lịch sử tại Việt Nam 11
1.3 Giới thiệu về hệ thống quản lý phòng, chống thiên tai các cấp 14
1.3.1 Cấp Trung ương 14
1.3.2 Cấp Tỉnh 16
1.3.3 Cấp Huyện 17
1.3.4 Cấp Xã 18
1.4 Cơ chế chính sách về Phòng, chống thiên tai 19
1.5 Các nhóm giải pháp phòng, chống thiên tai 20
1.5.1 Nhóm giải pháp phi công trình 20
1.5.2 Nhóm giải pháp công trình 21
1.6 Một số giải pháp phòng, chống thiên cụ thể cho từng khu vực 21
Căn cứ vào loại hình thiên tai thường xảy ra với từng khu vực, một số giải pháp được đề xuất như sau: 21
1.6.1 Một số giải pháp đối với khu vực miền Bắc 21
1.6.2 Một số giải pháp đối với khu vực miền Trung 21
1.6.3 Một số giải pháp đối với khu vực miền Nam 22
Kết luận chương 1 22
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI 23
2.1 Hệ thống công trình Phòng, chống thiên tai tại Việt Nam 23
2.1.1 Đặc điểm công trình phòng chống thiên tai 23
2.1.2 Hệ thống công trình đê điều 23
Trang 42.2 Thực trạng công tác quản lý đầu tư cho công trình phòng chống thiên tai 31
2.2.1 Khâu chủ trương đầu tư 31
2.2.2 Khâu khảo sát thiết kế 32
2.2.3 Khâu đền bù, giải phóng mặt bằng xây dựng 32
2.2.4 Công tác triển khai và điều hành kế hoạch đầu tư hàng năm 32
2.2.5 Khâu lựa chọn nhà thầu 32
2.2.6 Khâu thi công xây lắp công trình 33
2.3 Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình phòng chống thiên tai quy mô nhỏ 33
2.3.1 Thực trạng công tác quy hoạch, khảo sát thiết kế, lập dự án khả thi xây dựng 34
2.3.2 Thực trạng công tác đấu thầu dự án đầu tư xây dựng 35
2.3.3 Thực trạng công tác quản lý chất lượng 39
2.3.4 Thực trạng công tác khai thác và bảo vệ công trình Phòng, chống thiên tai 40
2.3.5 Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình phòng, chống thiên tai quy mô nhỏ do UBND cấp xã là chủ đầu tư 41
Kết luận chương 2 43
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI QUY MÔ NHỎ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC 44
3.1 Giới thiệu về khu vực miền núi phía bắc 44
3.1.1 Vị trí địa lý 44
3.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 44
3.1.3 Khí hậu: 45
3.1.4 Tài nguyên nước: 46
3.2 Thực trạng hệ thống công trình phòng, chống thiên tai tại một số tỉnh khu vực miền núi phía bắc 46
Trang 53.2.3 Hệ thống công trình hồ chứa nước tỉnh Điện Biên 54
3.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý đầu tư xây dựng công trình phòng chống thiên tai nói chung, công trình PCTT quy mô nhỏ nói riêng 55
3.3.1 Tổ chức thực hiện Luật đầu tư trong công tác quản lý đầu tư công trình phòng chống thiên tai 55
3.3.2 Đẩy mạnh công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra hoạt động đầu tư xây dựng công trình PCTT 56
3.3.3 Công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư xây dựng công trình 57
3.3.4 Loại bỏ tình trạng khép kín trong đầu tư xây dựng công trình 57
3.3.5 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định, phê duyệt dự án 58
3.3.6 Nâng cao ý thức trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào hoạt động đầu tư xây dựng công trình 58
3.3.7 Nâng cao trình độ nhận thức của cán bộ về quản lý đầu tư xây dựng các công trình phòng, chống thiên tai 60
3.4 Đề xuất một số giải pháp đối với công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Phòng chống thiên tai quy mô nhỏ 61
3.4.1 Đề xuất một số giải pháp đối với công tác quy hoạch, khảo sát thiết kế, lập dự án khả thi 61
3.4.2 Đề xuất một số giải pháp đối với công tác đấu thầu 62
3.4.3 Đề xuất một số giải pháp đối với công tác quản lý chất lượng 65
3.4.4 Đề xuất một số giải pháp đối với công tác khai thác và bảo vệ công trình Phòng chống thiên tai 69
3.4.5 Khuyến nghị đối với Nhà nước trong quản lý đầu tư xây dựng công trình phòng chống thiên tai quy mô nhỏ 70
Kết luận Chương 3 81
CHƯƠNG 4 ÁP DỤNG CÁC GIẢI PHÁP CHO CÔNG TRÌNH PCTT ĐOẠN ĐÊ SÔNG THƯƠNG, HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG 82
Trang 64.1.2 Khí hậu, thủy văn 82
4.2 Hiện trạng công trình PCTT tuyến đê xã Hợp Đức 83
4.2.1 Địa hình tuyến đê 83
4.2.2 Đặc điểm khí tượng, thủy văn, sông ngòi 84
4.2.3 Hiện trạng đoạn đê 85
4.3 Thực trạng công tác quản lý đầu tư xây dựng đê huyện Tân Yên 86
4.4 Một số nguyên nhân gây mất an toàn công trình PCTT đê thuộc xã Hợp Đức 89 4.4.1 Nguyên nhân khách quan 89
4.4.2 Nguyên nhân chủ quan 90
4.5 Giải pháp nâng cao an toàn công trình đê thuộc xã Hợp Đức 90
4.5.1 Giải pháp công trình 90
4.5.2 Nhóm giải pháp phi công trình 94
4.5.3 Một số giải pháp hỗ trợ 96
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 99
TÀI KIỆU THAM KHẢO 101
Trang 7Hình 1-1: Hình ảnh về bão 4
Hình 1-2: Thiệt hại do Lũ lụt gây ra 5
Hình 1-3: Hạn hán gây nứt nẻ đồng ruộng 7
Hình 1-4: Thiệt hại do Sạt lở đất 8
Hình 1-5: Hình ảnh thiệt hại do Động đất gây ra 9
Hình 1-6: Quá trình hình thành sóng thần 11
Hình 1-7: Lũ trên sông Hồng 12
Hình 1-8: Bão Linda 11/1997 12
Hình 1-9: Lũ lụt tại miền Trung 13
Hình 1-10: Bão Ketsana 2009 13
Hình 1-11: Lũ đồng bằng sông Cửu Long 14
Hình 2-1: Hồ thủy lợi Pe Luông bị lún phần thân đập 29
Hình 2-2: Cần đề xuất thứ tự ưu tiên đập cần sửa chữa cấp bách 30
Hình 3-1: Hồ thủy lợi cho thấy hiệu quả trong việc điều tiết và cung cấp nước tưới tiêu cho phần hạ du 54
Trang 8CTXD : Công trình xây dựng CLCTXD : Chất lượng công trình xây dựng
QLCL CTXD : Quản lý chất lượng công trình xây dựng CLCT : Chất lượng công trình
CQQLNN : Cơ quan quản lý Nhà nước
NN và PTNN : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PCTT : Phòng chống thiên tai QLCL : Quản lý chất lượng QPPL : Qui phạm pháp luật PCLB : Phòng chống lụt bão
TVGS : Tư vấn giám sát KTKT : Kinh tế kỹ thuật
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong các năm gần đây, diễn biến thiên tai và thời tiết tại Việt Nam có nhiều biểu hiện bất thường và phức tạp hơn Các loại hình thiên tai liên quan đến nước cũng trở nên cực đoan hơn và ngày càng khó dự báo Trong những ngày cuối tháng
7 đầu tháng 8, mưa lớn xảy ra trên diện rộng, lũ ở Bắc Bộ Nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất ở tất cả các tỉnh vùng núi phía Bắc (đặc biệt là: Quảng Ninh, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình) và ngập úng ở các vùng trũng, thấp, ven sông suối; ngập lụt đô thị ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Bắc Giang, Yên Bái Cấp độ rủi ro thiên tai được đánh giá là cấp 2
Trong các năm qua, Đảng và Nhà nước đã dành nhiều quan tới công tác phòng, chống thiên tai với việc phê duyệt nhiều chiến lược, đề án, dự án về phòng, chống thiên tai, đồng thời huy động nguồn hỗ trợ để đầu tư xây dựng các công trình phòng, chống thiên tai Kết quả là nhiều công trình phục vụ công tác phòng, chống thiên tai được đầu tư xây mới, củng cố, nâng cấp trên phạm vi cả nước đảm bảo an toàn cho cộng đồng, tính mạng và tài sản của nhân dân, an ninh của quốc gia Các công trình phòng, chống thiên tai được xây dựng trong thời gian qua đã phát huy hiệu quả và thực sự đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
Tuy nhiên, việc quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình phòng chống thiên tai còn một số tồn tại, hạn chế, dẫn đến chất lượng công trình chưa cao, vấn đề an toàn một số công trình vẫn cần phải quan tâm, lãng phí vốn đầu tư, hiệu quả đầu tư
chưa cao Xuất phát từ những vấn đề nêu trên đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp
quản lý đầu tư xây dựng công trình phòng chống thiên tai quy mô nhỏ ở các tỉnh miền núi phía Bắc” là đề tài mang tính thực tế và có khả năng ứng dụng thực tiễn
cao cho khu vực miền núi phía Bắc, khu vực hàng năm chịu tác động mạnh của thiên tai và ảnh hưởng bất lợi của trạng cực đoan do biến đổi khí hậu Đây cũng
chính là lý do Tác giả lựa chọn đề tài để nghiên cứu, thực hiện
Trang 103 Cách tiếp cận và phương pháp
a) Cách tiếp cận
- Tiếp cận thông qua chiến lược, các chương trình dự án đầu tư xây dựng công trình phòng chống thiên tai quy mô nhỏ
- Tiếp cận thông qua văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đầu tư, quản lý
dự án đầu tư xây dựng công trình hiện hành
- Tiếp cận thông qua quy hoạch, chương trình, dự án tại địa phương liên quan đến công tác phòng chống thiên tai
b) P hương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, đánh giá
- Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu
- Phương pháp chuyên gia
- Kết hợp một số phương pháp nghiên cứu khác
4 P hạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, ưu tiên
cho tỉnh Lào Cai
5 Kết quả dự kiến
- Đề xuất một số giải pháp cho quản lý đầu tư và quản lý dự án đầu tư xây
dựng công trình phòng chống thiên tai
- Đề xuất một số khuyến nghị đối với Nhà nước trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình phòng chống thiên tai quy mô nhỏ, áp dụng cho các tỉnh
miền núi phía Bắc
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI 1.1 Định nghĩa thiên tai
Thiên tai là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm: bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác
1.2 Tình hình thiên tại tại Việt Nam
Việt Nam có diện tích tự nhiên là 320.000 km2với đường bờ biển dài 3.260 km Ba phần tư lãnh thổ được che phủ bởi đồi, núi với độ cao từ 100 m đến 3.400 m, trong khi các vùng đồng bằng chủ yếu nằm ở hai châu thổ sông lớn là đồng bằng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc và đồng bằng châu thổ sông Cửu Long ở miền Nam Đây là các vùng đồng bằng đặc biệt màu mỡ và là nơi tập trung đông dân cư Hầu hết các diện tích nông nghiệp và các khu công nghiệp đều tập trung ở các khu vực này Khu vực miền Trung hẹp và dốc, đồi núi và đồng bằng đều tiến sát ra biển Diện tích tự nhiên của khu vực bị chia cắt bởi các sông bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn
ở phía tây và đổ ra biển ở phía đông Dọc bờ biển là các đồng bằng nhỏ hẹp Giữa các sườn núi là các thung lũng hẹp và sâu
Việt Nam nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, nơi hội tụ của nhiều khối không khí, do vậy khí hậu nhiệt đới của Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độ gió mùa châu Á, mà chủ yếu là gió mùa đông bắc và gió mùa tây nam Lãnh thổ Việt Nam
có nhiều vùng khí hậu khác biệt rõ rệt do các đặc điểm về địa hình và vị trí địa lý Nhiệt độ trung bình năm dao động từ 18°C đến 29°C, trong khi nhiệt độ trung bình trong các tháng lạnh nhất dao động từ 13°C đến 20°C ở vùng núi phía bắc và từ 20°C đến 28°C ở miền nam Hầu hết các vùng trên lãnh thổ Việt Nam có lượng mưa trung bình năm dao động từ 1.400 mm đến 2.400 mm, nhưng lượng mưa trung bình năm cũng có thể lên tới giá trị lớn nhất là 5.000 mm/năm hoặc nhỏ nhất là 600 mm/năm ở một số khu vực
Trang 12Lượng mưa phân phối rất không đều trong năm, với khoảng 80-90% lượng mưa tập trung vào mùa mưa, gây nên lũ lụt và thường xuyên gây ra sạt lở đất Số ngày mưa trong năm cũng rất khác nhau giữa các vùng và dao động từ 60 tới 200 ngày
Trong phần này, nguyên nhân, đặc điểm và thiệt hại chính của một số loại hình thiên tai chính ở Việt Nam sẽ được trình bày lần lượt dưới đây
1.2.2.1 Bão
• Nguyên nhân xảy ra Bão
Khi nhiệt độ nước biển vượt quá 26°C, một hỗn hợp nhiệt và hơi ẩm hình thành nên một vùng áp thấp trên biển Hướng gió xoay xung quanh vùng áp thấp sâu, áp suất giảm nhanh theo hướng vào tâm Áp thấp này bị gió mậu dịch đẩy đi dọc theo các rãnh Một vùng áp thấp sẽ trở thành bão khi vận tốc gió đạt tới cấp 11 theo thang gió Beaufort hoặc từ 103 đến 119 km/h
Hình 1-1: Hình ảnh về bão
• Thiệt hại do Bão
Bão có thể gây ra những tác hại sau:
Thiệt hại về người (gây thương tích và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng) – Các mảnh vỡ bị thổi bay trong bão, nhà bị sập đổ hoặc bị nước lũ cuốn trôi có thể gây thương tích về người Rủi ro thiên tai có thể tăng do mưa lũ xảy ra cùng với bão gây ngập úng nhiều vùng không có đủ lương thực dự trữ hoặc không được tiếp tế lương thực;
Trang 13Thiệt hại về vật chất – Các công trình (nhà cửa, bệnh viện, trường học…) bị hư hỏng, hoặc bị phá hủy do gió bão; tàu thuyền có thể bị lật hoặc hư hại;
Hệ thống cấp nước - nước ngầm hoặc các vật dụng chứa, trữ nước có thể bị nước lũ gây ô nhiễm;
Cây trồng, vật nuôi và nguồn cung cấp lương thực – Gió mạnh trong bão và mưa có thể làm hỏng hoa màu, cây trồng và lương thực dự trữ, đất nông nghiệp bị ô nhiễm bởi nước mặn khi xảy ra hiện tượng nước dâng trong bão, gia súc bị chết, thiệt hại thủy sản và cây bị bật rễ;
Năng lượng, thông tin và hậu cần – gió bão làm gãy, đổ cột, đường dây điện, đường dây thông tin liên lạc, gây gián đoạn thông tin và điện Giao thông có thể bị gián đoạn, thị trấn hoặc thành phố có thể bị cô lập;
Các hiểm họa gián tiếp do bão gây ra là nước dâng do bão khu vực ven biển và sạt
lở đất ở vùng đồi núi
1.2.2.2 Lũ lụt
• Nguyên nhân xảy ra Lũ lụt
Lũ quét, lũ sông hình thành do mưa có cường độ lớn trong thời gian ngắn hoặc có
sự kết hợp với các hình thái thời tiết theo mùa;
Các tác động của con người dẫn tới sự thay đổi bề mặt lưu vực (ví dụ như phá rừng), làm giảm khả năng thoát nước của lưu vực và vùng bãi ngập lũ cũng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra lũ;
Đê biển bị vỡ và nước biển dâng trong bão gây ra lũ từ phía biển
Hình 1-2: Thiệt hại do Lũ lụt gây ra
Trang 14• Thiệt hại do Lũ lụt
Thiệt hại về người (gây thương tích và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng) – Thiệt hại về người chủ yếu do chết đuối; người bị thương do lũ khá phổ biến Lũ có khả năng làm tăng mức độ lây nhiễm dịch bệnh (ví dụ sốt rét, tiêu chảy, bệnh truyền nhiễm do virus);
Thiệt hại về vật chất – Nhà cửa, cơ sở hạ tầng có thể bị lũ cuốn trôi, làm sập, đổ do
bị ngâm nước hoặc bị hư hỏng do các vật trôi nổi trong nước lũ va đập vào Ở những nơi đất bị bão hòa có thể xảy ra hiện tượng sạt lở đất Thiệt hại ở các vùng thung lũng sông thường lớn hơn so với những vùng đất trống Tài sản của các hộ gia đình có thể bị hư hỏng, thất lạc;
Đối với hệ thống cấp nước – Lũ có thể gây ô nhiễm nước mặt hoặc ô nhiễm các giếng khơi và tầng chứa nước ngầm dẫn đến không có nước sạch phục vụ sinh hoạt
Về việc cung cấp lương thực, thực phẩm: Thu hoạch mùa vụ, kho trữ lương thực, thực phẩm dự trữ có thể bị thiệt hại do bị ngập nước Vật nuôi, các công cụ sản xuất
và hạt giống có thể bị cuốn trôi;
Hiểm họa thứ cấp –dịch bệnh, lan truyền dịch bệnh theo nguồn nước, gây sạt lở đất
1.2.2.3 Hạn hán
• Nguyên nhân phát sinh
Nguyên nhân trực tiếp là do biến đổi khí hậu, thiếu mưa hoặc không có mưa trong một thời gian dài trên diện rộng (hiện tượng này diễn ra nhiều năm gần đây ở một
số tỉnh nước ta như Ninh Thuận, Bình Thuận…); do khai khác và sử dụng nguồn nước không hợp lý, do lượng nước bốc hơi nước từ các sông, hồ lớn hơn lượng mưa; do hoạt động của con người gây nên các thay đổi trên lớp phủ bề mặt và tầng thổ nhưỡng (ví dụ như khai thác quá mức nước ngầm, phá rừng)
Trang 15Hình 1-3: Hạn hán gây nứt nẻ đồng ruộng
• Thiệt hại do Hạn hán gây ra
Không có đủ nước uống, nước sinh hoạt và sử dụng hàng ngày;
Giảm sản lượng của hoa màu và cây trồng, do cây trồng bị chết hoặc không thể canh tác lại được nữa, có thể dẫn tới tình trạng thiếu lương thực;
Khu vực nuôi trồng thủy sản bị thu hẹp, giảm sản lượng, tôm cá trong các ao, hồ sẽ chết khi ao hồ bị khô cạn;
Gia súc như trâu, bò, lợn có thể sẽ chết khát hoặc bị bệnh hoặc nếu hạn hán diễn ra trong thời gian dài;
Các tác động về kinh tế: làm giảm thu nhập của nông dân, giảm chi phí dành cho các hoạt động nông nghiệp; làm tăng giá lương thực nguyên liệu (ví dụ như thóc gạo), tăng lạm phát, tăng dịch bệnh do suy dinh dưỡng hoặc bệnh tật do thiếu nước sạch, đặc biệt là đối với trẻ em và người già;
Khi lưu lượng nước trong sông bị giảm, những vùng đất gần biển có thể bị ảnh hưởng của xâm nhập mặn và nhiễm mặn
1.2.2.4 Sạt lở đất
• Nguyên nhân xảy ra sạt lở đất
Sạt lở đất là sự dịch chuyển của đất đá xuống bên dưới sườn dốc Hiện tượng sạt lở đất có thể là hậu quả hoặc là sự kết hợp của: sự xuất hiện các chấn động địa chất tự
Trang 16nhiên (ví dụ như động đất), do hiện tượng phong hóa, hoặc do sự thay đổi độ ẩm trong đất, hoặc do sự dịch chuyển của kết cấu bảo vệ ở phần chân của mái dốc, hoặc
do xây
Hình 1-4: Thiệt hại do Sạt lở đất dựng công trình trên sườn dốc, hoặc do hiện tượng phong hóa bề mặt sườn dốc và
do các tác động của con người làm thay đổi hướng dòng chảy hoặc kết cấu của sườn dốc
• Thiệt hại do Sạt lở đất gây ra
Thiệt hại về người (gây thương tích và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng) – trượt
lở sườn dốc thường gây ra chết người Thiên tai do trượt lở, lũ bùn đã từng giết chết hàng nghìn người ở nhiều nơi trên thế giới;
Thiệt hại về vật chất – Bất kỳ thứ gì nằm trên đường trượt lở sẽ bị phá hủy Đất đá
có thể vùi lấp đường giao thông, cắt đứt đường dây thông tin, đường thủy Các tác động không trực tiếp có thể bao gồm thiệt hại về năng suất nông nghiệp, đất rừng và
lũ lụt
1.2.2.5 Lốc xoáy
• Nguyên nhân xảy ra Lốc xoáy
Lốc xoáy là một hiện tượng thời tiết cục bộ trong đó gió xoáy (là luồng không khí chuyển động xoay xung quanh 1 trục theo phương thẳng đứng) được hình thành do
Trang 17sự mất ổn định và nhiễu động gây ra bởi sự biến thiên nhiệt và dòng không khí Lốc
có thể xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới và vào bất kỳ thời gian nào trong năm
• Thiệt hại do Lốc gây ra
Thiệt hại về người (gây thương tích và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng) –Các mảnh vỡ bị thổi bay trong lốc xoáy hoặc nhà bị sập đổ có thể gây thương tích về người;
Thiệt hại về vật chất – các công trình (nhà cửa, bệnh viện, trường học, vv) bị hư hỏng hoặc bị phá hủy do gió trong lốc xoáy;
Cây trồng, vật nuôi và nguồn cung cấp lương thực – Gió mạnh và mưa trong lốc xoáy có thể làm hư hỏng cây trồng, hoa màu, lương thực dự trữ, làm chết vật nuôi, gây thiệt hại cho thủy sản, làm bật rễ cây;
Năng lượng, thông tin và hậu cần –Gió trong lốc xoáy có thể làm gãy, đổ cột, đường dây điện, đường dây thông tin, gây gián đoạn thông tin liên lạc và điện Giao thông có thể bị gián đoạn
1.2.2.6 Động đất
• Nguyên nhân xảy ra động đất
Động đất xảy ra khi có hiện tượng dịch chuyển, trượt của lớp vỏ trái đất dọc theo một đứt gãy, hoặc một khu vực của vỏ trái đất bị dồn nén và trồi lên tới một vị trí mới
Hình 1-5: Hình ảnh thiệt hại do Động đất gây ra
Trang 18• Thiệt hại do Động đất gây ra
Thiệt hại về người (gây thương tích) – Bị chết và bị thương rất nhiều , đặc biệt ở gần khu vực tâm chấn, ở những vùng tập trung đông dân cư hoặc nơi các công trình xây dựng không có khả năng chống động đất thường gây ra những biến động lớn cho xã hội;
Với sức khỏe cộng đồng – Nhiều người bị thương do va đập Mối đe dọa thứ cấp đối với sức khỏe là do không còn nguồn nước sạch hoặc do các điều kiện về sinh môi trường bị phá vỡ;
Thiệt hại về vật chất – Thiệt hại hoặc hư hỏng về cơ sở hạ tầng, đường dây điện, đường dây thông tin Hỏa hoạn, vỡ đê/đập, lũ lụt và sạt lở đất có thể xảy ra sau động đất;
Cung cấp nước sạch –hệ thống cấp nước bị hư hỏng, các giếng nước bị ô nhiễm và mực nước ngầm bị thay đổi có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc cấp nước sạch
1.2.2.7 Sóng thần
• Nguyên nhân xảy ra sóng thần
Sóng thần thường là kết quả của sự nâng hạ đột ngột của một phần vỏ trái đất nằm dưới đại dương Nó gây nên sự dịch chuyển đột ngột của cả cột nước bên trên, và sự nâng hoặc hạ của mực nước biển ở trên bề mặt Sự nâng, hạ mực nước biển này là bước đầu tiên hình thành nên sóng thần;
Sóng thần cũng có thể được hình thành do sự dịch chuyển với thể tích lớn của nước biển bắt nguồn từ hiện tượng sạt lở đất, phun trào của núi lửa ngầm dưới đáy biển Sóng thần chuyển động rất nhanh ở vùng nước sâu ngoài đại dương, nhưng lực phá hoại của sóng thần xuất hiện do sự dâng cao chiều cao sóng thần khi nó chuyển động tới sát bờ
Trang 19Nguồn tài liệu : USGS (Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ)
Hình 1-6: Quá trình hình thành sóng thần
• Thiệt hại do Sóng thần gây ra
Thiệt hại về người (gây thương tích và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng) – người chết chủ yếu do chết đuối, và bị thương do va đập do sóng xô và sóng rút ra biển Thiệt hại về vật chất – áp lực nước trong sóng thần khi chuyển động vào bờ có thể phá hủy bất cứ thứ gì trên đường đi của nó nhưng thiệt hại chủ yếu tới các công trình và cơ sở hạ tầng là do ngập nước Khi sóng thần rút ra biển, nó cuốn theo bùn đất, và có thể làm sập nhà cửa, bến cảng và đánh vỡ tàu thuyền;
Cung cấp nước- nước bị nhiễm mặn, ô nhiễm do rác, mảnh vỡ hoặc nước thải, nguồn cấp nước sinh hoạt không sử dụng được;
Cây trồng và nguồn cung cấp lương thực – Thu hoạch mùa vụ, kho trữ lương thực, thực phẩm dự trữ, gia súc, trang trại và tàu thuyền đánh cá có thể bị thiệt hại Ruộng đất có thể bị bạc màu, bỏ hoang do bị nhiễm mặn;
Năng lượng, thông tin liên lạc và hậu cần – Sóng, dòng chảy trong sóng thần có thể làm đổ gãy cột điện, cột thông tin gây nên sự gián đoạn nghiêm trọng hệ thống thông tin và đường điện Giao thông có thể bị gián đoạn
1.2.3.1 Lũ lịch sử trên hệ thống sông Hồng năm 1971
Trận lũ lịch sử trên hệ thống sông Hồng xuất hiện vào tháng 8 năm 1971 đã gây ngập lụt 250.139 ha, ảnh hưởng đến 2,71 triệu người
Trang 20Hình 1-7: Lũ trên sông Hồng
1.2.3.2 Cơn bão Linda (tháng 11 năm 1997)
Vào ngày 2/11/1997 tâm bão Linda đi vào phía nam của Việt Nam (khu vực từ Bạc Liêu đến Cà Mau) với vận tốc gió tại tâm bão từ 75 đến 102 km/h
Vào ngày 3/11/1997, Bão LinDa di chuyển theo hướng Tây Tây bắc, đi từ Việt Nam hướng tới Vịnh Thái Lan với vận tốc di chuyển 20km/h
Hình 1-8: Bão Linda 11/1997 1.2.3.3 Lũ tại khu vực miền Trung
Vào tháng 11 năm 1999, một số trận lũ đã xuất hiện tại khu vực miền Trung từ Quảng Bình đến Ninh Thuận Hơn 600 người chết và mất tích với tổng thiệt hại khoảng 270 triệu USD
Trang 21Hình 1-9: Lũ lụt tại miền Trung
1.2.3.4 Cơn bão Ketsana 2009
Cấp gió: 140 km/h, giật 160 km/h; Thiệt hại về người: 174 người chết và mất tích; Thiệt hại về kinh tế ước tính 14.000 tỷ đồng
Hình 1-10: Bão Ketsana 2009 1.2.3.5 Lũ tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Vào tháng 11 năm 2000, tại hệ thống sông Mêkông xuất hiện một đợt lũ lớn nhất trong vòng 40 năm Số người chết: 481(trong đó 335 là trẻ em); Các hộ bị ảnh hưởng: 891.000 hộ; Thiệt hại: 280 triệu USD
Trang 22Hình 1-11: Lũ đồng bằng sông Cửu Long
1.3 Giới thiệu về hệ thống quản lý phòng, chống thiên tai các cấp
1.3.1.1 Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai:
Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai do Thủ tướng Chính phủ thành lập, làm nhiệm vụ điều phối liên ngành giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai trên phạm vi cả nước Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai được sử dụng dấu quốc huy để thực hiện các nhiệm vụ của Ban Các thành viên của Ban hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm
1.3.1.2 Nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai:
Hướng dẫn việc xây dựng, đôn đốc thực hiện chiến lược, kế hoạch quốc gia, chính sách, pháp luật về phòng, chống thiên tai;
Hướng dẫn xây dựng phương án ứng phó thiên tai;
Chỉ đạo, điều phối ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai trên phạm vi toàn quốc: Chỉ đạo ứng phó thiên tai cấp độ 3, 4; điều phối và hỗ trợ các địa phương ứng phó thiên tai cấp độ 1, 2;
Trang 23Quyết định các biện pháp cấp bách, huy động các nguồn lực của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, của tổ chức, cá nhân để ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai theo quy định của Luật Phòng, chống thiên tai và Nghị định này; Chỉ đạo thống kê số liệu thiệt hại, nhu cầu cứu trợ của các địa phương, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định các biện pháp và nguồn lực khắc phục hậu quả thiên tai trong phạm vi cả nước;
Kiểm tra, đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương thực hiện các hoạt động phòng, chống thiên tai
1.3.1.3 Cơ cấu tổ chức của Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống thiên tai
Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai gồm các thành viên:
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm Trưởng ban;
Một Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm Phó Trưởng ban thường trực;
Một Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ làm Phó Trưởng ban;
Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm cứu nạn làm Phó Trưởng ban; Các ủy viên của Ban gồm đại diện là lãnh đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Quốc phòng, Công an, Thông tin và Truyền thông, Công Thương, Giao thông vận tải, Xây dựng, Giáo dục và Đào tạo, Y tế, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ngoại giao, Lao động - Thương binh và Xã hội, Khoa học và Công nghệ, Kế hoạch và Đầu
tư, Tài chính, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, đại diện lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Quốc phòng, Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm cứu nạn, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam;
Căn cứ yêu cầu công tác, Trưởng ban Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai mời đại diện lãnh đạo các tổ chức: Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và các tổ chức liên quan khác tham gia Ban Chỉ đạo trung ương về phòng, chống thiên tai
Trang 24Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về phòng, chống thiên tai Bộ thành lập bộ phận chuyên trách làm nhiệm vụ Văn phòng thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai có con dấu, được cấp kinh phí và mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để hoạt động Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai
1.3.2.1 Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn cấp tỉnh:
Do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập, tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý hoạt động phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, chỉ huy, điều hành trong phạm vi địa phương Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn có con dấu, được cấp kinh phí, mở tài khoản để hoạt động
1.3.2.2 Nhiệm vụ của Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn cấp
tỉnh:
Tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai theo quy định tại Khoản 1 Điều 43 của Luật Phòng, chống thiên tai;
Xây dựng và phê duyệt kế hoạch, phương án ứng phó thiên tai;
Chỉ huy ứng phó thiên tai, tìm kiếm cứu nạn trong thiên tai trong phạm vi địa phương;
Kiểm tra, đôn đốc các sở, cơ quan tại địa phương thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai
1.3.2.3 Cơ cấu tổ chức của Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn
cấp tỉnh:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm Trưởng ban;
Một Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm Phó Trưởng ban thường trực; Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm Phó Trưởng ban phụ trách công tác phòng, chống thiên tai;
Trang 25Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh làm Phó Trưởng ban phụ trách công tác cứu hộ, cứu nạn thiên tai;
Các ủy viên là Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng cấp tỉnh; lãnh đạo các
sở và các cơ quan có liên quan đến công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn của địa phương; Trưởng ban Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn cấp tỉnh mời lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và Hội chữ thập đỏ cấp tỉnh tham gia thành viên Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và
và tìm kiếm cứu nạn
1.3.3.1 Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn cấp Huyện:
Do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thành lập, có chức năng tham mưu giúp
Ủy ban nhân dân cấp huyện trong việc kiểm tra, đôn đốc, chỉ huy điều hành công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trong phạm vi địa phương Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn cấp huyện có con dấu, tài khoản và được cấp kinh phí để hoạt động
1.3.3.2 Nhiệm vụ của Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn cấp
Trang 261.3.3.3 Cơ cấu tổ chức của Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn
cấp Huyện
Thành viên của Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn cấp huyện gồm:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện làm Trưởng ban;
Một Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện làm Phó Trưởng ban thường trực; Trưởng Công an huyện và Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp huyện làm Phó Trưởng ban;
Các ủy viên là lãnh đạo các phòng và cơ quan, đơn vị có liên quan đến công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn của địa phương; căn cứ yêu cầu cụ thể của cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện mời lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và Chữ thập đỏ cấp huyện tham gia Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn
Căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao trách nhiệm cho một phòng chức năng thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện làm Văn phòng thường trực
1.3.4.1 Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn cấp Xã:
Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn cấp xã do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thành lập, tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc kiểm tra, đôn đốc, chỉ huy, điều hành công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trong phạm vi địa phương
1.3.4.2 Nhiệm vụ của Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn cấp
Trang 27Xây dựng và phê duyệt kế hoạch, phương án ứng phó thiên tai của địa phương; Kiểm tra, đôn đốc tổ chức, cá nhân tại địa phương thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai
1.3.4.3 Cơ cấu tổ chức của Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn
cấp Xã:
Thành viên của Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn cấp Xã gồm:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã làm Trưởng ban;
Một Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã làm Phó Trưởng ban thường trực;
Trưởng Công an xã và Xã đội trưởng làm Phó Trưởng ban;
Các ủy viên là cán bộ thủy lợi, nông nghiệp, trưởng các tổ chức chính trị và đoàn thể của xã
Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn cấp xã đặt tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã Ban được sử dụng con dấu của Ủy ban nhân dân xã, sử dụng một số cán bộ chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp xã làm bộ phận thường trực và được cấp kinh phí để hoạt động
1.4 Cơ chế chính sách về Phòng, chống thiên tai
Khung pháp lý cơ bản về Phòng, chống thiên tai bao gồm các Luật, Chiến lược quốc gia, Nghị định, Quyết định, Đề án do Quốc hội và Chính phủ Việt Nam ban hành, cụ thể như sau:
• Luật Phòng, chống thiên tai số 33/2013/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 19 tháng 6 năm 2013;
• Luật Đê điều số 79/2006/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006;
• Luật Tài nguyên nước 17/2012/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 21 tháng 6 năm 2012;
• Chiến lược quốc gia về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai tới năm 2020 đã được Thủ tướng phê duyệt vào năm 2007;
Trang 28• Nghị định số 66/2014/NĐ-CP ngày 4/7/2014 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai;
• Nghị định số 94/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 quy định về thành lập và quản lý quỹ phòng, chổng thiên tai;
• Quyết định 44/2014 của Thủ tướng Chính phủ về quy định chi tiết cấp độ rủi
1.5 Các nhóm giải pháp phòng, chống thiên tai
- Phát triển thể chế (khung pháp lý, xây dựng chính sách);
- Xây dựng, củng cố bộ máy và nâng cao năng lực cán bộ;
- Quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch dân cư và phân vùng rủi ro thiên tai;
- Nâng cao nhận thức cộng đồng, các cấp, các ngành và Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng;
- Xây dựng kế hoạch Phòng chống thiên tai và lồng ghép vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội;
- Thông tin, truyền thông và giáo dục về phòng chống thiên tai;
- Chuẩn bị nguồn lực theo phương châm 4 tại chỗ;
- Theo dõi, giám sát, đánh giá, giải trình các hoạt động về phòng chống thiên tai;
- Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin cảnh báo sớm;
- Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ và kết hợp sử dụng kinh nghiệm truyền thống;
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, bố trí mùa vụ thích hợp;
- Hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm;
- Trồng rừng và bảo vệ rừng;
Trang 291.5.2 Nhóm giải pháp công trình
- Các công trình phòng chống thiên tai như hệ thống hồ, đập, đê sông, đê biển, bờ bao, kè chống sạt lở, hệ thống trạm bơm, cống, kênh, mương tưới, tiêu, các công trình ngăn xâm nhập mặn…;
- Các công trình phân chậm lũ, hệ thống đường tràn cứu hộ;
- Các trạm đo đạc, quan trắc, dự báo khí tượng và các hệ thống cảnh báo thiên tai;
- Các khu vực neo đậu tàu thuyền và tránh trú bão;
- Xây dựng cụm tuyến dân cư vượt lũ và tránh trú bão, trạm y tế, nhà cộng đồng phòng tránh thiên tai;
- Các công trình kết hợp làm nơi tránh trú bão, sơ tán người dân;
- Công trình phục vụ thông tin liên lạc trước, trong và sau thiên tai;
- Kho bãi chứa nguyên, vật liệu;
- Các trang thiết bị cứu trợ, cứu nạn
- Xây dựng cơ sở dữ liệu về thiên tai
1.6 Một số giải pháp phòng, chống thiên cụ thể cho từng khu vực
Căn cứ vào loại hình thiên tai thường xảy ra với từng khu vực, một số giải pháp được đề xuất như sau:
• Tổ chức thực hiện công tác phòng, chống lũ, lũ quét triệt để;
• Tăng cường khả năng chống lũ của hệ thống đê;
• Tiếp tục xây dựng mới các hồ chứa nước, lập quy trình vận hành các hồ chứa lớn đã xây dựng tham gia điều tiết cắt giảm lũ;
• Tăng cường khả năng thoát lũ của lòng sông;
• Thực hiện chương trình nâng cấp đê biển, trồng cây chống sóng và rừng phòng hộ
• Quy hoạch khu dân cư, khu công nghiệp, khu du lịch tính đến yếu tố Phòng, chống thiên tai;
Trang 30• Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên, loại hình thiên tai và thời điểm xảy ra thiên tai;
• Tăng cường nghiên cứu chống bồi lấp các cửa sông, nạo vét lòng dẫn kết hợp giao thông thuỷ;
• Củng cố, nâng cấp đê điều, bảo tồn các cồn cát tự nhiên, xây dựng hồ chứa, trồng rừng và xây dựng khu neo đậu tàu thuyền
• Lập quy hoạch kiểm soát lũ;
• Xây dựng cụm tuyến dân cư, cơ sở hạ tầng vượt lũ;
• Chủ động khai thác mặt lợi của lũ;
• Tăng cường hợp tác quốc tế với các nước trong lưu vực sông Mê Kông
Kết luận chương 1
Trong chương đầu tiên của Đề tài, Tác giả đã đưa ra các thông tin cơ bản về các loại hình thiên tai, đặc điểm khí hậu và tình hình thiên tai tại các khu vực của Việt Nam Tình hình thiên tai vài năm gần đây và đặc biệt trong những tháng đầu năm 2015 đến nay cho chúng ta thấy diễn biến thiên tai và thời tiết tại Việt ngày càng trở nên cực đoan hơn và khó dự báo, kéo theo đó là những thiệt hại to lớn về người và của
Vì vậy, Chính phủ đã dành nhiều quan tâm đối với công tác phòng, chống và giảm nhẹ rủi ro thiên tai, thông qua nhóm giải pháp phi công trình và công trình, theo đó nhiều dự án đầu tư xây dựng công trình công tác phòng, chống thiên tai đã được phê duyệt và triển khai xây dựng Tuy nhiên, các dự án xây dựng công trình phòng chống thiên tai gồm nhiều loại công trình quy mô khác nhau lại phân bổ rộng rãi trên các địa phương, công tác quản lý do vậy còn nhiều tồn tại Chương 2 của Luận văn đề cấp đến hiện trạng công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình phòng, chống thiên tai ở nước ta
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY
DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI
2.1 Hệ thống công trình Phòng, chống thiên tai tại Việt Nam
Công trình phòng, chống thiên tai là công trình cơ sở hạ tầng gắn với nhiệm vụ ứng phó với thiên tai nhằm giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản của người dân trong trong khu vực bảo vệ của công trình
Các công trình phòng, chống thiên tai được quy hoạch và xây dựng mang tính hệ thống Nhiều công trình tuy loại hình khác nhau nhưng hỗ trợ nhau và đòi hỏi sự quản lý liên ngành, liên cấp để cùng ứng phó với một loại hình thiên tai (Hồ chứa tại thượng lưu kết hợp hệ thống đê điều, cống, kênh để phòng chống lũ…)
Với điều kiện tự nhiên, tình hình thiên tai phức tạp, diễn ra thường xuyên và trên diện rộng nên các công trình phòng, chống thiên tai phải thường xuyên được duy tu bảo dưỡng để kịp thời ứng phó khi thiên tai xảy ra Do đó việc giám sát, bảo vệ, bảo trì cần có sự tham gia của cộng đồng người dân và các cấp chính quyền
Hệ thống đê điều là công trình PCTT điển hình của nước ta được cha ông ta xây dựng từ nhiều thế kỷ trước đây Công trình đê điều (bao gồm đê, các công trình dưới đê, công trình kè chống sạt lở bờ bảo vệ đê) là loại công trình phòng chống thiên tai đặc thù và là loại công trình hạ tầng xã hội, đê điều có vị trí đặc biệt trong việc đảm bảo an ninh quốc gia, nếu vỡ đê là mất tất cả những gì đã có trong vùng được đê bảo vệ Đê điều có nhiệm vụ chính là phòng chống lũ, bão, bảo vệ hàng chục triệu người, hàng triệu héc ta canh tác cùng các khu công nghiệp và trung tâm kinh tế, chính trị của đất nước
Hiện nay tại 19 tỉnh, thành phố có đê: Hà Nội, Hà Tây, Hòa Bình, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đang quản lý một hệ thống công trình đê điều phục vụ phòng, chống lũ, ngăn mặn với chiều dài tổng cộng 5.700 km đê sông, 3.000 km đê biển, trên 1.000 hệ
Trang 32thống kè chống sạt lở và hàng ngàn cống qua đê với nhiệm vụ tiêu úng và cấp nước phục vụ sản suất
Đê điều là loại công trình đặc biệt vì các công trình nói chung đều được xây dựng trên cơ sở quy hoạch, khảo sát và thiết kế theo quy định bắt buộc Riêng hệ thống đê điều được hình thành cách đây trên 1000 năm với kỹ thuật thô sơ dùng vật liệu tại chỗ, không có sự lựa chọn theo tiêu chuẩn kỹ thuật Các nền đê được bồi trúc dần trên nền đất tự nhiên, không khảo sát đánh giá và gia cố nền trước khi xây dựng Được sự quan tâm của lãnh đạo Đảng và Chính phủ hệ thống đê điều đã được đầu
tư tu bổ, nâng cấp các hệ thống đê, các cống qua đê và kè bảo vệ chống xói lở bờ, đến nay chúng ta có hệ thống đê sông, đê biển được đánh giá là một trong ba quốc gia có hệ thống đê lớn nhất thế giới
Trong chương 4 của Luận văn, tác giải áp dụng kết quả nghiên cứu cho công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình PCTT điển hình: hệ thống đê sông Thương, tỉnh Bắc Giang, một tỉnh trong khu vực miền núi phía bắc có điều kiện địa hình tương đối điển hình, những năm gần đây chịu khá nhiều tác động của thiên tai
Hồ chứa nước là công trình có nhiệm vụ điều tiết dòng chảy, trữ nước vào mùa mưa
để dùng vào mùa khô, xả lũ theo thiết kế Do có nhiều ưu điểm trong khai thác tổng hợp (cấp nước tưới, phát điện, nuôi cá, du lịch…), hồ chứa được xây dựng nhiều trên thế giới Hồ chứa nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh
tế -xã hội của đất nước Với điều kiện địa lý tự nhiên thuận lợi, nhiều hồ chứa nước được Nhà nước và nhân dân xây dựng góp phần rất lớn vào thành công trong phát triển kinh tế nông nghiệp của đất nước Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 16/01/2012 về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, đặt ra nhiệm vụ cho
hồ chứa nước không chỉ phục vụ sản xuất nông nghiệp mà cần phải phục vụ đa mục tiêu cho các ngành kinh tế quốc dân, ổn định phát triển bền vững tài nguyên nước
Trang 33Ở nước ta, mùa khô thường kéo dài từ 6 ÷ 7 tháng, lượng mưa trong thời kỳ này chỉ chiếm 15÷20% tổng lượng mưa cả năm, còn lại 80÷85% tập trung trong 5÷6 tháng mùa mưa Về địa hình địa mạo, ba phần tư diện tích nước ta là vùng đồi núi Điều kiện tự nhiên này tạo nước ta nhiều thuận lợi trong xây dựng và khai thác các hồ chứa nước, đáp ứng các nhu cầu về nước cho dân sinh và các ngành kinh tế quốc dân, hay nói cách khác: Nước ta có nhu cầu và điều kiện tự nhiên thuận lợi để xây dựng và khai thác các hồ chứa nước
Theo số liệu thống kê, cả nước đã đầu tư xây dựng được 6.886 hồ chứa nước trong
đó có 6.648 hồ chứa thủy lợi (chiếm 96,5%) và 238 hồ chứa thủy điện (chiếm 3,5%) với tổng dung tích khoảng 62 tỷ m3nước, trong đó:
- 26 hồ chứa thuỷ điện có tổng dung tích trữ thiết kế là 27,12 tỷ m3
lũ 500 năm xuất hiện một lần Tổng năng lực của các hệ thống đã bảo đảm tưới trực tiếp 3,45 triệu ha, tạo nguồn cho 1,13 triệu ha, tiêu 1,4 triệu ha, ngăn mặn 0,87 triệu
ha và cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha; cấp và tạo nguồn cấp nước 5-6 tỷ m3/năm cho sinh hoạt, công nghiệp, du lịch, dịch vụ ; Cấp nước sinh hoạt nông thôn đạt 70-75% tổng số dân
Bên cạnh mặt ưu điểm và lợi ích, hồ chứa nước luôn tiềm ẩn nguy cơ sự cố, có khi dẫn đến thảm hoạ như đã từng xảy ra ở một số nước trên thế giới Nước ta cũng có một số hồ quy mô vừa (4÷5 triệu m3) và nhỏ bị vỡ gây thiệt hại đáng kể tới người
và tài sản Để phát huy mặt lợi và đề phòng các diễn biến bất lợi, công tác quản lý vận hành hồ chứa nước phải được quan tâm đúng từ giai đoạn quy hoạch thiết kế, thi công và quản lý khai thác
Trang 34Trong những năm gần đây, các yếu tố tác động gây mất an toàn cho hồ chứa có mức
độ ngày càng gia tăng, sự phân bố lại lượng mưa có nhiều thay đổi so với thiết kế ban đầu của hồ chứa theo chiều hướng bất lợi, dòng chảy kiệt giảm, dòng chảy lũ đến hồ tăng lên đột biến làm táng lưu lượng đỉnh lũ Sự thay đổi thảm phủ thượng nguồn do các hoạt động của con người, sự phát triến dân sinh kinh tế ở hạ du hồ chứa có xu hướng làm phức tạp khó khăn hơn trong việc bảo đảm an toàn công trình và hạ du hồ chứa Trước thực trạng này, việc rà soát hoàn thiện Chương trình bảo đảm an toàn hồ chứa nước là hết sức cần thiết
Sau khi rà soát, hiện cả nước còn khoảng 1.150 hồ chứa cần phải sửa chữa nâng cấp trong giai đoạn 2015-2020 Trong số này, hồ có dung tích trên 10 triệu m3 có 21 hồ
hư hỏng, 10 hồ thiếu khả năng xả; hồ có dung tích từ 3 đến 10 triệu m3hoặc đập cao trên 15m (theo quy định tại Nghị định 72/NĐ-CP hồ có dung tích trên 3 triệu m3
hoặc chiều cao trên 15m thuộc nhóm hồ lớn) có 160 hồ hư hỏng, 35 hồ thiếu khả năng xả; hồ có dung tích từ 1 đến 3 triệu m3 có 134 hồ hư hỏng; hồ có dung tích từ 0,2 đến 1 triệu m3 có 580 hồ hư hỏng; hồ có dung tích dưới 0,2 triệu m3 có 210 hồ
hư hỏng nặng Ngoài ra, cả nước còn khoảng hơn 2.500 hồ chứa nhỏ có dung tích dưới 200.000 m3 khác nằm phân tán do thôn, xã quản lý không có đủ tài liệu để đánh giá
Các hư hỏng ở các hạng mục của công trình đầu mối hồ chứa được đánh giá, phân loại cụ thể như sau:
a) Tràn xả lũ: Các tồn tại chủ yếu là công trình xây dựng lâu đến nay đã xuống câp, thiếu khả năng xả theo tiêu chuấn mới Theo số liệu điều tra, số lượng tràn xả lũ bị hư hỏng xuống cấp hoặc không đủ năng lực xả lũ theo QCVN 04- 05:2012/BNNPTNT là 900/1150 hồ (chiếm 78%) được phân loại như sau:
- Hồ có dung tích trên 10 triệu m3: 23 hồ
- Hồ có dung tích từ 3 đến dưới 10 triệu m3hoặc H> 15m: 180 hồ
- Hồ có dung tích từ 1 đến dưới 3 triệu m3: 112 hồ
- Hồ có dung tích từ 0,2 đến dưới 1 triệu m3: 465 hồ
- Hồ có dung tích dưới 0,2 triệu m3: 120 hồ
Trang 35b) Về thấm qua thân đập: Tình trạng này xảy ra rất phổ biến ở các đập đất, nguyên nhân thấm chủ yếu do nền đập bị lún sụt, đất đắp phần xử lý tiếp giáp giữa các phân đoạn đắp không tốt, vật liệu đắp lẫn tạp chất, hoặc việc xử lý nền móng không triệt để,… trong đó một số hồ chứa lớn bị thấm cần sớm được sửa chữa như:
Hồ Đạ Tẻ (Lâm Đồng), Buôn Triết (Đắk Lắk), Phân Lân Thượng (Vĩnh Phúc) Số lượng hồ bị thấm cần sửa chữa là 600/1150 hồ (chiếm 52%) bao gồm:
- Hồ có dung tích trên 10 triệu m3 là 8 hồ;
- Hồ có dung tích từ 3 đến dưới 10 triệu m3hoặc H>15m: 85hồ;
- Hồ có dung tích từ 1 đến dưới 3 triệu m3: 70 hồ;
- Hồ có dung tích từ 0.2 đến dưới 1 triệu m3 : 372 hồ;
- Hồ có dung tích dưới 0,2 triệu m3: 65 hồ
c) Hư hỏng mái đập: Các hư hỏng mái thường xảy ra với các dạng hư hỏng sạt lở, trượt mái đập, lún sụt mái Nguyên nhân do bão lớn sóng to kéo dài, nước
hồ rút đột ngột ngoài dự kiến thiết kế; sức bền của đất đắp đập không đảm bảo, địa chất nền đập xấu không được xử lý tốt Tĩnh trạng lớp gia cố mái thượng lưu bị xô tụt cả với những hồ được gia cố, nhiều hồ mái hạ lưu sạt trượt do thấm gây ra như
hồ Ba Khe, (Nghệ An), Nà Vàng (Tuyên Quang), Tà Mon (Bình Thuận) Các hồ chứa có mái đập bị hư hỏng là 691/1150 hồ chiếm (60%) gồm:
- Hồ có dung tích trên 10 triệu m3 : 7 hồ
- Hồ có dung tích từ 3 đến dưới 10 triệu m3hoặc chiều cao đập >15m: 75 hồ
- Hồ có dung tích từ 1 đến dưới 3 triệu m3: 95 hồ
- Hồ có dung tích từ 0,2 đến dưới 1 triệu m3: 405 hồ
- Hồ có dung tích dưới 0,2 triệu m3: 113 hồ
d) Cống lẩy nước: Tình trạng hư hỏng cống lấy nước rất phổ biến do một số nguyên nhân chính: công trình sử dụng lâu ngày nên bê tông hoặc kết cấu xây đã bị mục; do chất lượng thi công kém; do kết cấu bất hợp lý như sử dụng ống bê tông lắp ghép ở các hồ nhỏ Một số hồ chứa nước có cống bị hư hỏng nặng thân cống như Hồ Ban, Bãi Bông (Hòa Bình); Bản Cưởm, Kỳ Nà (Lạng Sơn); Liệt Sơn (Quảng Ngãi); Đạ Tẻh (Lâm Đồng); Ea Uy (Đắk Lắk) Các hồ chứa nước có cống
Trang 36bị rò rì cửa van: Khe Chè (Quảng Ninh); Chúc Bài Sơn, Kỳ Nà (Lạng Sơn); Khuôn Thần (Bắc Giang); Xạ Hương (Vĩnh Phúc); Thọ Sơn (Thừa Thiên Huế), số lượng các hồ chứa phải sửa chữa cống lấy nước 850/1150 hồ (chiếm 74%) gồm:
- Hồ có dung tích trên 10 triệu m3: 5 hồ
- Hồ có dung tích từ 3 đến dưới 10 triệu m3hoặc chiều cao đập >15 m: 90 hồ
- Hồ có dung tích từ 1 đến dưới 3 triệu m3: 120 hồ
- Hồ có dung tích từ 0,2 đến dưới 1 triệu m3: 526 hồ
- Hồ có dung tích dưới 0,2 triệu m3: 110 hồ
e) Thân đập bị phá hoại do mối: Đập đất các hồ chứa thường bị mối phá hoại Vì vậy, công tác kiểm tra, tìm diệt và xử lý tổ mối cần được thực hiện thường xuyên
Đánh giá theo năng lực vận hành tích nước, các hồ chứa có dung tích từ 3 triệu m3 trở lên không có hồ nào phải tích nước hạn chế (do yêu cầu nước phục vụ sản xuất mà một số hồ hư hỏng vẫn duy trì tích nước bình thường, tuy nhiên các hồ này luôn được theo dõi giám sát chặt chẽ trong quá trình tích nước và vận hành hồ) Các hồ có dung tích dưới 3 triệu m3 tùy theo mưc độ hư hỏng, các đơn vị quản lý khai thác vận hành tích nước đảm bảo an toàn được đánh giá như sau:
- Số đập an toàn, vận hành theo mực nước thiết kế tuy nhiên có một số tồn tại
về chất lượng cần khắc phục là 1.200 hồ
- Số đập vẫn an toàn, cho phép vận hành nhưng phải hạ thấp mực nước hồ chứa dưới mức thiết kế là 1.127 hồ Một số địa phương có số lượng lớn hồ loại này như: Thanh Hóa có 90 hồ tích nước hạn chế, Hòa Bình có 40 hồ
- Số đập không an toàn, không cho vận hành, phải hạ xuống mực nước hồ tối thiểu để sửa chữa là 23 hồ: Thanh Hóa 16 hồ, Hòa Bình 7 hồ
Công tác phòng chống lũ cho hệ thống các sông như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Đáy đòi hỏi kết hợp cả 2 nhóm giải pháp công trình và phi công trình Trong
đó, giải pháp công trình cần phải kết hợp các loại công trình khác nhau cùng tham gia phòng, chống lũ tại thượng lưu và hạ lưu, ví dụ như:
Trang 37Tại thượng lưu: Có các công trình hồ chứa nước tham gia phòng chống lũ, cụ thể
cho hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình như: Hồ Hòa Bình (cao trình mực nước dâng bình thường: 117.0 m; mực nước dâng gia cường: 122.0 m; mực nước trước lũ thấp nhất: 88.0 m; dung tích cắt, giảm lũ cho hạ du: 4,9 tỷ m3); Hồ Tuyên Quang (cao trình mực nước dâng bình thường:120,0 m; mực nước dâng gia cường: 122,55 m; mực nước trước lũ thấp nhất: 90,0 m; dung tích cắt, giảm lũ cho hạ du: 1,0 tỷ
m3); Hồ Thác Bà (cao trình mực nước dâng bình thường: 58,0 m; mực nước dâng gia cường: 61,0 m; mực nước trước lũ thấp nhất: 56,0 m; dung tích cắt, giảm lũ cho
hạ du: 0,45 tỷ m3); Hồ Sơn La( cao trình mực nước dâng bình thường: 215,0 m; mực nước dâng gia cường: 217,83 m; dung tích cắt, giảm lũ cho hạ du (kết hợp với
hồ Hòa Bình): 7,0 tỷ m3
)
Tại hạ lưu: Có hệ thống đê điều tham gia phòng, chống lũ, cụ thể như các tuyến đê
tham gia phòng chống lũ sông Đáy: Các tuyến đê Ngọc Tảo phía bờ hữu, đê Lạ Thạch phía bờ tả và đê Vân Cốc (hữu sông Hồng); Đê tả Đáy; Đê hữu Đáy; Các tuyến đê tả, hữu sông Bùi và đê tả Mỹ Hà
Ngoài ra còn có các công trình dẫn dòng phụ trợ như tràn xã lũ, cống, kênh tiêu nội đồng…
Hình 2-1: Hồ thủy lợi Pe Luông bị lún phần thân đập
Trang 38Cần ưu tiên các hạng mục sửa chữa sớm
Hiện, với những hạng mục công trình hồ chứa đang bị xuống cấp hư hỏng, Cty TNHH quản lý thủy nông Điện Biên – đơn vị quản lý 11/13 hồ thủy lợi ở Điện Biên cho biết, Cty đã dự có báo cáo về nội dung sửa chữa và dự toán kinh phí
Theo đó, sẽ có 5 công trình hồ cần được nâng cấp theo Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016-2020 Đó là, hồ Hồng Sạt, Bản Ban, Bồ Hóng,
Pe Luông, Sái Lương Các hạng mục nâng cấp chủ yếu là tràn, đập đất, cống lấy nước, nạo vét lòng hồ, đường vào hồ… với kinh phí ước tính từ 8-35 tỷ đồng
Hình 2-2: Cần đề xuất thứ tự ưu tiên đập cần sửa chữa cấp bách
Thực tế, các công trình hồ thủy lợi ở Điện Biên đã cho thấy hiệu quả trong việc điều tiết và cung cấp nước tưới tiêu cho phần hạ du Nhưng, trong quá trình vận hành,
Trang 39cần phải đánh giá hiện trạng hư hỏng, xuống cấp để kịp thời sửa chữa, nâng cấp nhằm đảm bảo an toàn cho hạ du và phát huy hiệu quả dự án
Do nguồn kinh phí có hạn vì vậy cần có đánh giá - khung sàng lọc nhằm đề xuất thứ
tự ưu tiên đập cần sửa chữa cấp bách Và việc thiết kế sửa chữa này cũng cần phải
có tổ chức tư vấn có năng lực, kinh nghiệm để đưa ra các giải pháp tối ưu, đảm bảo kinh tế và kỹ thuật, tránh lãng phí
2.2 Thực trạng công tác quản lý đầu tư cho công trình phòng chống thiên tai
Trong những năm qua, vốn đầu tư của Nhà nước liên tục gia tăng và chiếm tỷ lệ khoảng 30% GDP, qua đó đã tạo nên sự chuyển biến quan trọng về cơ sở vật chất
kỹ thuật, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực sản xuất, cải thiện văn minh đô thị, đóng góp quyết định vào phát triển kinh tế xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việc đầu tư xây dựng các công trình phòng, chống thiên tai chiếm một phần không nhỏ vốn đầu tư của Nhà nước Tuy nhiên, việc quản lý và triển khai thực hiện các dự án trong những năm quan còn nhiều hạn chế không tránh khỏi thất thoát, lãng phí vốn đầu tư, giảm hiệu quả đầu
tư, làm giảm chất lượng tăng trưởng kinh tế Thực trạng này trong đầu tư xây dựng công trình đã được đăng tải nhiều trên các phương tiện truyền thông, tại nhiều diễn đàn xã hội và đã được Đảng, Quốc hội, Chính phủ đặc biệt quan tâm chỉ đạo ngăn ngừa
Mặc dù chưa có một cơ quan, tổ chức nào đưa ra được tỷ lệ và số liệu chính xác về lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản nói chung và xây dựng công trình phòng chống thiên tai nói riêng là bao nhiêu (10, 20 hay 30% như nhiều chuyên gia nhận định) nhưng có thể xẩy ra ở tất cả các khâu, giai đoạn của quá trình đầu tư, từ chủ trương đầu tư, chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, cấp phát vốn đầu tư, đến khâu nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng và quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình Có thể khái quát một số hạn chế dẫn đến lãng phí và chưa hiệu quả trong đầu tư xây dựng công trình như sau:
Chủ trương đầu tư ở một số dự án chưa được cân nhắc kỹ lưỡng (về nhiệm vụ, quy
mô, vị trí…) dẫn đến hiệu quả đầu tư chưa cao gây lãng phí, vốn đầu tư, cả về lãng phí trực tiếp và lãng phí về gián tiếp
Trang 402.2.2 K hâu khảo sát thiết kế
Khảo sát chưa đảm bảo chất lượng, chưa đủ mẫu, chưa sát với thực tế hoặc chưa phù hợp với những tiêu chuẩn, quy chuẩn dẫn đến việc phải khảo sát lại hoặc phải phải thay đổi, bổ sung, điều chỉnh thiết kế, phương án thi công nhiều lần, kéo theo
là làm thay đổi dự toán, làm chậm tiến độ xây dựng, gây lãng phí thời gian, tiền của của dự án; một số trường hợp biện pháp xử lý nền chưa hợp lý gây lún, nứt phải phá đi làm lại; phương án thiết kế không hợp lý, sử dụng vật tư, vật liệu không phù hợp với loại công trình (sử dụng vật liệu quá đắt tiền cho công trình cấp thấp); việc chọn hệ số an toàn quá cao, tính toán không chặt chẽ gây lãng phí vật liệu xây dựng,
Đền bù chưa thoả đáng, chưa đúng đối tượng; chi trả tiền đền bù chưa bám sát định mức, khung giá Nhà nước và địa phương ban hành; khai sai diện tích, khối lượng tài sản được đền bù; có trường hợp làm giả hồ sơ đền bù từ đó làm tăng thêm vốn đầu
tư xây dựng công trình và chính việc đền bù không thoả đáng, hợp lý, chưa tuân theo quy định làm cho việc bàn giao mặt bằng xây dựng chậm so với thời hạn quy định, dẫn đến chậm tiến độ thi công công trình, gây lãng phí vốn đầu tư
Bố trí danh mục các dự án đầu tư đôi khi còn phân tán, dàn trải, chưa sát với tiến độ thi công của dự án đã được phê duyệt, bố trí kế hoạch đầu tư cho dự án không đủ điều kiện dẫn đến kéo dài thời gian thi công, chậm đưa vào sử dụng làm giảm hiệu quả đồng vốn đầu tư; trường hợp bố trí kế hoạch đầu tư chỉ chú trọng kế hoạch khối lượng, không xây dựng kế hoạch vốn dẫn đến phát sinh mất cân đối giữa kế hoạch khối lượng và kế hoạch vốn dẫn đến hiện tượng thừa thiếu vốn giả tạo cho các dự án; hoặc việc bố trí kế hoạch đầu tư hàng năm cho các dự án không theo sát tiến độ đầu tư thực hiện dự án đã được cấp thẩm quyền phê duyệt trong quyết định đầu tư
Có trường hợp chưa thực hiện đúng trình tự đấu thầu; việc xét thầu, đánh giá để xếp loại nhà thầu khi lựa chọn nhà thầu không chính xác chưa bám sát tiêu chuẩn theo