1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số kinh nghiệm thiết kế và sử dụng trò chơi trong môn Tiếng Việt lớp 3

15 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 107 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trò chơi học tập là nhằm phát huy tính tích cực, tính chủ động, tính sáng tạo của học sinh trong học tập. Trò chơi nói chung và trò chơi học tập nói riêng giúp học sinh phát triển toàn diện về: đức trí thể mĩBởi vậy, trong từng tiết dạy nếu chúng ta biết cách xây dựng trò chơi mang tính hấp dẫn, sát với nội dung bài dạy, đưa đúng lúc sẽ góp phần đáng kể vào việc khắc sâu củng cố kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt cho các em, đồng thời giúp các em phát huy trí tuệ, óc phân tích và tư duy cũng như lôi kéo tất cả các đối tượng học sinh say mê học môn Tiếng Việt.

Trang 1

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng sáng kiến cơ sở huyện Phú Ninh

Tên sáng kiến: Một số kinh nghiệm thiết kế và sử dụng trò chơi trong môn Tiếng Việt lớp 3.

1 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng Việt lớp 3

3 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Năm học 2019-2020

4 Mô tả bản chất của sáng kiến:

4.1 Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết.

Hiện nay, trên truyền hình xuất hiện những sân chơi như: Những người bạn nhỏ, Trẻ em luôn đúng, Ai thông minh hơn học sinh lớp 5, Đồ rê mí,…đã thu hút sự chú ý và hưởng ứng nhiệt tình của đông đảo học sinh Cho nên tôi nghĩ trong dạy học, nhất là đối với học sinh tiểu học, việc tạo ra những sân chơi

là rất cần thiết góp phần thay đổi cách dạy cách học đem lại những giờ học vui

vẻ, lí thú, lôi cuốn sự chú ý của các em với bài học Việc sử dụng trò chơi trong tiết học là vấn đề không mới nhưng đôi lúc giáo viên ít chú trọng vì ngại thiết kế

và tổ chức Chính vì thế, học sinh không có kĩ năng tham gia trò chơi, không dạn dĩ, thiếu tự giác Nếu có sử dụng cũng chỉ nhằm vào những tiết thao giảng,

dự giờ báo trước và cũng chỉ phục vụ cho một số học sinh khá, giỏi, dạn dĩ thường xung phong chứ chưa có tác dụng gì đến học sinh yếu kém Vì vậy đa số học sinh ít ham thích khi học môn Tiếng Việt vì cảm thấy mệt mỏi, nặng nề do suy nghĩ nhiều, ít hoạt động Qua khảo sát chất lượng môn Tiếng Việt đầu năm của lớp tôi chủ nhiệm với tổng số 33 em, trong đó: Hoàn thành tốt: 10 em (30.3%), hoàn thành: 18 em (54.5 %), chưa hoàn thành: 5 em (15,2 %)

Từ một số vấn đề trên cùng với quá trình giảng dạy nhiều năm ở lớp 3, tôi nhận thấy để làm cho môn Tiếng Việt sinh động, học sinh học tập có hứng thú,

Trang 2

rồi phù hợp với tâm lý “chơi mà học, vui mà học” thì cần kết hợp sử dụng hình

thức trò chơi trong học tập môn Tiếng Việt để mang lại hiệu quả cao

Trò chơi học tập là nhằm phát huy tính tích cực, tính chủ động, tính sáng tạo của học sinh trong học tập Trò chơi nói chung và trò chơi học tập nói riêng

giúp học sinh phát triển toàn diện về: đức - trí - thể - mĩ

Bởi vậy, trong từng tiết dạy nếu chúng ta biết cách xây dựng trò chơi mang tính hấp dẫn, sát với nội dung bài dạy, đưa đúng lúc sẽ góp phần đáng kể vào việc khắc sâu củng cố kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt cho các em, đồng thời giúp các em phát huy trí tuệ, óc phân tích và tư duy cũng như lôi kéo tất cả các đối tượng học sinh say mê học môn Tiếng Việt Chính vì thế, tôi đã tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Một số kinh nghiệm thiết kế và sử dụng trò chơi trong môn Tiếng Việt lớp 3”.

4.2 Nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm của giải pháp đã biết:

Dạy học phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh là một vấn đề đã được khẳng định và là một yêu cầu bức thiết nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường hiện nay, nhất là đối với môn Tiếng Việt Với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học, tiết học từ 35 phút - 40 phút với những thao tác nghe, làm theo là chủ yếu thì thật là nặng nề với các em Cần phải cho các em

được “chơi mà học, học mà chơi” thông qua các trò chơi, học sinh được rèn

luyện tập làm việc cá nhân, làm việc theo đơn vị nhóm, đơn vị lớp là những cách làm việc thuộc phương pháp học tập mới mà nhà trường tiểu học cần hình thành cho các em Dạy học được tổ chức bằng các trò chơi sẽ làm cho học sinh tự tin hơn trong học tập, tạo cho các em cơ hội đánh giá lẫn nhau, đem lại cho các em niềm tin về sự thành công trong học tập

Qua thống kê trong các sách: Tiếng Việt 3 (SGV), tập san giáo dục, tạp chí giáo dục, tôi nhận thấy trò chơi hướng dẫn sẵn rất ít, cụ thể như sau:

Trang 3

Phân môn TS tiết/năm Số trò chơi đã soạn sẵn trong

các loại sách

Tỉ lệ tiết dạy

có trò chơi (%) Tập đọc

Chính tả

LTVC

Tập làm văn

Kể chuyện

70 70 35 35 35

16 2 3

-22.9 2.9 8.6

Như vậy, ta thấy trò chơi soạn sẵn rất ít chỉ tập trung trong phân môn tập đọc mà lại lặp nhau rất nhiều Trong thực tế giảng dạy, số giáo viên bám sát sách chiếm tỉ lệ cao Hơn nữa, chưa chắc giáo viên đã sử dụng các trò chơi đó trên lớp Do vậy tỉ lệ tiết dạy có sử dụng trò chơi chiếm tỉ lệ rất nhỏ

Môn Tiếng Việt là môn học có tầm quan trọng bậc nhất trong các môn học

ở tiểu học (được xem là môn học công cụ) Bởi lẽ Tiếng Việt không những dạy cho các em biết kiến thức về ngôn ngữ trong giao tiếp mà còn giúp các em gìn giữ tiếng mẹ đẻ, Tiếng Việt có nhiệm vụ làm giàu vốn từ cho học sinh và trang

bị cho các em một số kiến thức về từ, câu, cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp Tiếng Việt là một thứ tiếng giàu đẹp và trong sáng mà lịch sử đã chứng

minh rằng “Tiếng Việt trở thành vũ khí của dân tộc Việt Nam”.

Đối với học sinh tiểu học, vui chơi vẫn là nhân tố quan trọng trong hoạt động của học sinh Với nhiều cách chơi khác nhau sẽ giúp học sinh thêm hứng thú và tiếp thu bài tốt hơn Vì thế cùng với phương pháp khác, thiết kế và sử dụng trò chơi học tập là phương pháp nhằm tích cực hóa đối tượng học sinh Vậy giải pháp thiết kế và sử dụng trò chơi trong môn Tiếng Việt lớp 3 là tổ chức hoạt động dạy - học ở đó có sự tác động qua lại, hỗ trợ về kiến thức giữa thầy-trò, trò - thầy-trò, trò - thầy

Để khắc phục tình trạng đó, đồng thời đáp ứng yêu cầu cần thiết trong hoạt động giảng dạy ở tiểu học hiện nay Bản thân tôi thường tổ chức vận dụng một

số trò chơi học tập như sau: Dựng cảnh phân vai, thi đối thoại theo lời nhân vật, tìm từ trong thơ văn, xếp từ theo nhóm, ghép chữ, ai nhanh - ai đúng, thi tìm và

Trang 4

kể chuyện hay, chọn ô số, dựng hoạt cảnh…trong tất cả các phân môn của môn Tiếng Việt lớp 3

a Tập đọc:

*Trò chơi: “Hái hoa”

- Mục đích: Giúp HS ôn lại các bài tập đọc và học thuộc lòng đã học trong

chương trình Trả lời được các câu hỏi có liên quan đến bài đọc

- Chuẩn bị: Chuẩn bị các bông hoa giấy để làm phiếu Trên mỗi bông

hoa ghi tên 1 bài hoặc 1 đoạn của bài tập đọc đã học trong chương trình

- Cách tổ chức: Số lượng học sinh: từng nhóm tham gia chơi (khoảng từ

10- 12 em chơi) Thời gian chơi: 20- 25 phút.

- Cách chơi: Giáo viên treo phiếu hoa lên cây để hái Từng em lên bốc

hoa nhận yêu cầu của mình, thực hiện các yêu cầu ghi trên phiếu Học sinh khác nghe và nhận xét về giọng đọc của bạn và câu trả lời của bạn Giáo viên nhận xét đánh giá, bình chọn bạn đọc hay và trả lời đúng, tuyên dương trước lớp

* Trò chơi “ Tìm từ trong thơ văn”

Trò chơi này lồng ghép vào bước tìm hiểu bài

Tìm các từ chỉ tính nết của trẻ em và cho biết cái hay của các từ đó trong

bài “Cô giáo tí hon” của Nguyễn Thi

Trong câu “Không biết dế khóc hay dế cười”, nhưng chưa bao giờ tôi

nghe được tiếng kêu dữ dội đến thế”

Tìm từ chỉ sự so sánh trong khổ thơ cuối ở bài “Mẹ vắng nhà ngày bão”.

Tìm từ được lặp lại nhiều lần trong khổ thơ đầu và cho biết lặp lại nhiều lần như vậy nói lên ý gì? (Bài Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa)

Tìm từ chỉ đặc điểm trong đoạn 1 của bài “Hũ bạc của người cha”.

Trò chơi này có nhiều tác dụng, qua việc hiểu từ, các em sẽ hiểu ý, đồng thời lồng ghép củng cố về từ-câu qua môn Tập đọc

b Luyện từ và câu:

*Trò chơi: “Xếp từ theo nhóm”

Trò chơi này, tôi thường áp dụng ở các bài học mở rộng vốn từ để các em

có kĩ năng hiểu từ và xếp đúng theo nhóm

Trang 5

+ Bài: Mở rộng vốn từ: Gia đình.

- Ở bài tập 1, tôi tổ chức cho các em chơi như sau:

Chơi theo nhóm (4 em), xếp đúng các thành ngữ, tục ngữ vào 3 nhóm (theo yêu cầu của bài tập) trên bảng nhóm Chọn 2 nhóm nhanh nhất

- Kết quả: Nhóm 2 nhanh nhất và có đáp án chính xác

+ Bài: Mở rộng vốn từ: Thành thị - nông thôn.

Tôi cho một số từ như sau: xe buýt, tắc-xi, xích-lô, xe lam, cái cào cỏ, cây

đa, rạp chiếu bóng, cái bừa, cung văn hóa, máy cày, liềm, giếng nước, rạp xiếc, mái đình,

Yêu cầu: Xếp các từ trên thành 4 nhóm

- Công trình văn hóa phục vụ đời sống tinh thần của người dân thành phố

- Phương tiện giao thông chủ yếu ở thành phố

- Cảnh vật quen thuộc ở nông thôn

- Công cụ sản xuất của người nông dân

Cách chơi: 4 nhóm, mỗi nhóm 4 em Trong thời gian nhất định, lần lượt

từng em lên ghi 1 từ (theo đúng nhóm của mình) Nhóm nào ghi được nhiều từ

và chính xác thì nhóm đó thắng Nhóm nào hoàn thành nhanh nhất chọn từ chính xác (Cảnh vật quen thuộc ở nông thôn: cây đa, mái đình, bờ tre, giếng nước)

*Trò chơi: “ Nhân hóa”:

+ Mục đích: Luyện phát hiện nhanh biện pháp nhân hoá và tạo nhanh cụm

từ có dùng biện pháp nhân hoá, luyện khả năng tưởng tượng, rèn phản ứng nhanh

+ Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị một số từ ngữ gọi tên các đối tượng có

thể nhân hóa và một số cách nhân hóa các đối tượng này (gọi tên như người, có hành động, đặc điểm như người, được gọi tên để chuyện trò như người)

+ Cách tổ chức: Chia lớp thành hai đội (A,B), giáo viên (hoặc mời 2 HS)

làm trọng tài, 1 học sinh đội A hô, 1 học sinh đội B đáp và ngược lại

Lưu ý mỗi đội chỉ được một lần hô hoặc đáp Mỗi lần hô và đáp đúng sẽ nhận được một bông hoa( hoặc cờ) Hết giờ chơi quy định, đội nào có nhiều hoa(cờ) hơn, đội đó tài hơn và thắng cuộc

Trang 6

c Tập làm văn:

*Trò chơi: “Chọn ô số”

- Mục đích: Để luyện tập thực hành Vận dụng vào phân môn tập làm văn:

Bài: Nói, viết về cảnh đẹp quê hương (Tiếng Việt tập I trang 63)

Để thực hiện trò chơi này giáo viên chuẩn bị một bộ ảnh (5 ảnh) tranh vẽ hoặc ảnh chụp về cảnh đẹp quê hương có ghi số thứ tự từ 1 đến 5 Năm bức ảnh

mà giáo viên đã chuẩn bị được đính thành 5 ô số như sau: 1 2 3 4 5

Giáo viên ghi sẵn bảng phụ ngắn gọn phần gợi ý a, b, c, d trong SGK: Gợi ý:

a) Tranh (ảnh) vẽ (chụp) cảnh gì ? Cảnh đó ở nơi nào ?

b) Màu sắc của tranh ảnh như thế nào ?

c) Cảnh trong tranh (ảnh) có gì đẹp ?

d) Cảnh trong tranh (ảnh) gợi cho em những suy nghĩ gì ?

HS không cần mở sách, giáo viên thay phần gợi ý trong SGK bằng trò chơi

- Cách tiến hành: Giáo viên khuyến khích học sinh tham gia trò chơi, HS

đầu tiên sẽ chọn 1 ô số bất kì, giáo viên lật ô số lên cho học sinh nhận biết tranh

vẽ (ảnh) về cảnh đẹp nào ở đất nước ta Học sinh có nhiệm vụ quan sát và miêu

tả tranh (ảnh) theo gợi ý ở bảng phụ (5-7 câu) Sau khi bạn nói và viết những điều mình biết xong, giáo viên mời các bạn khác dưới lớp xem có cách nói và viết những điều mình biết khác không để cho cả lớp nghe (1 đến 2 học sinh) Sau mỗi tranh vẽ (ảnh chụp) được 2 đến 3 học sinh trình bày giáo viên yêu cầu

cả lớp nhận xét (theo 4 gợi ý), xem bạn cách sử dụng vốn từ, nói viết thành câu trọn vẹn ý, bình chọn xem bạn nói, viết hay nhất Học sinh sẽ chọn lần lượt hết các ô số Kết thúc trò chơi những bạn được bình chọn sẽ được tuyên dương trước lớp Thời gian còn lại các em sẽ hoàn thiện đoạn văn vào vở Thông qua trò chơi, các em sẽ rèn được kĩ năng giao tiếp, biết nói thành câu, mạnh dạn tham gia trò chơi (kể cả HS yếu) Trong quá trình tham gia trò chơi như thế, giáo viên kiểm soát được chặt chẽ hoạt động của từng em, có điều kiện giúp đỡ được học sinh, nắm bắt được khả năng nói thành câu của từng em Từ trò chơi chuyển qua viết đoạn văn vào vở giúp các em tự tin hơn, viết tốt hơn

Trang 7

Chương trình Tập làm văn lớp 3 chưa yêu cầu các em viết những bài văn miêu tả trọn vẹn mà cho các em bước đầu làm quen với kiểu loại văn miêu tả bằng những đoạn văn có yếu tố tả như nói, giới thiệu về quê hương, về thành thị, nông thôn Trong chương trình lại không có tiết sửa bài tập cho các em có kĩ năng viết văn, dùng từ chính xác thì tôi thường tổ chức cho các em trò chơi này Qua trò chơi trên, tôi nhận thấy không những gây được hứng thú học tập

và tạo nên phong trào thi đua sôi nổi mà còn giúp các em rèn luyện kĩ năng nghe, nhớ, phát hiện và sửa sai kịp thời Kĩ năng đó hỗ trợ rất lớn cho việc nhận xét bài bạn trong các tiết học của môn Tiếng Việt

d Chính tả.

*Trò chơi: “Ai nhanh - Ai đúng”

- Mục đích: Tìm từ có chứa các tiếng cần phân biệt âm cuối c/ t, n/ ng, âm

đầu s/ x, ng/ngh, g/gh, vần am/âm, iu/iêu…

- Cách chơi: Trên bảng có 4 cột (như phần mục đích).

Cho 4 em xung phong lên ghi, mỗi em một cột (mỗi cột 4 từ) Em nào nhanh nhất và đúng hoàn toàn thì thắng cuộc

Ví dụ: Khi dạy bài tập 2 (trang 56/TV tập II)

Trò chơi này được sử dụng ở nhiều tiết dạy Qua trò chơi, rèn cho các em tính nhanh nhẹn, chính xác

* Trò chơi: Ghép chữ:

+ Mục đích: Tìm tiếng có thể ghép với mỗi tiếng để tạo thành từ ngữ:

Luyện trí thông minh nhanh tay, nhanh mắt

+ Chuẩn bị: Bảng nhóm và thẻ trống

- Ví dụ: Tìm tiếng có thể ghép với mỗi tiếng sau để tạo từ ngữ:

sét, sét xào, sào xinh, sinh

- Số đội chơi: 4 đội Mỗi đội 3 em tham gia (HS cả lớp cổ vụ và làm trọng tài)

- Thời gian chơi từ 3-5 phút

Trang 8

- Cách chơi: Mỗi đội chơi có bảng nhóm và thẻ trống.

+ Giáo viên yêu cầu các nhóm thảo luận nhanh và tìm tiếng ghép thích hợp để tạo từ ngữ Sau đó mỗi đội cử 3 em lên chơi Em đầu tiên lên viết từ theo dòng một rồi đi xuống đứng vào cuối hàng của đội mình, sau đó em thứ hai lên

và cứ tiếp nối cho đến em cuối cùng Trong thời gian như nhau, đội nào xác định nhiều từ nhất thì đội đó thắng cuộc Căn cứ vào số lượng từ ghép để phân loại thắng hay thua, các đội phải tìm được các từ Chẳng hạn (xem xét - sấm sét, cây sào – xào rau, xinh xắn – sinh sôi) Đội nào được nhiều hơn thì đội đó thắng cuộc

Với trò chơi này vận dụng vào các bài chính tả ghép với tiếng cho sẵn

e Kể chuyện:

*Trò chơi: “Xếp đúng tranh”.

- Mục đích: HS xếp được đúng các tranh theo thứ tự đúng với trình tự câu

chuyện

- Chuẩn bị : Các bộ tranh rời ứng với mỗi câu chuyện.

- Cách tổ chức:

Số đội chơi: Chơi theo vị trí nhóm Thời gian chơi: 3-5 phút

- Cách chơi: Nhóm trưởng nhận bảng nhóm và bộ tranh rời từ góc học tập Cho các bạn trong nhóm quan sát nhanh và nêu được tranh đó ứng với nội dung của đoạn nào trong câu chuyện đã học Xếp tranh và đoạn ứng với nội dung câu chuyện

+ Báo cáo kết quả nhóm thực hiện với thầy cô

+ Cách đánh giá hoàn thành: nhóm nào dán nhanh và đúng với thứ tự nội dung câu chuyện nhóm đó sẽ nhận được 3 tràn pháo tay khen ngợi

*Trò chơi “ Dựng hoạt cảnh”

Trong chương trình lớp 3, nội dung chuyện kể chính là những câu chuyện các em vừa học trong bài tập đọc Do đó các em được nghe các em kể và kết hợp chỉ tranh minh họa Để tiết học thêm sinh động thì ở bước củng cố, tôi cho các em dựng hoạt cảnh

Trang 9

Chẳng hạn: Chuyện “Chiếc áo len”, phân công Bảo Yến vai mẹ; Yến Nhi vai Lan, Khánh vai Tuấn

Qua trò chơi này giúp các em bộc lộ khả năng diễn xuất biết đoàn kết, tương trợ, hợp tác lẫn nhau Từ đó các em sẽ trở nên tự tin, mạnh dạn hơn

4.3 Nêu các điều kiện, phương tiện cần thiết để thực hiện và áp dụng giải pháp… :

- Vở bài tập Tiếng Việt lớp 3 (tập 1, tập 2)

- Sách thiết kế bài giảng môn Tiếng việt lớp 3 (tập 1, tập 2)

- Sách giáo viên môn Tiếng việt lớp 3 (tập 1, tập 2)

- Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 (tập 1, tập 2)

- Tranh ảnh minh họa, đèn chiếu, máy tính

4.4 Nêu các bước thực hiện giải pháp, cách thức thực hiện giải pháp

* Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến

4.4.1 Các bước thực hiện giải pháp:

- Tạo hứng thú cho học sinh trong mỗi trò chơi

Để tránh sự căng thẳng thường gặp phải khi bắt đầu một tiết học giáo viên với thái độ vui vẻ, nét mặt rạng ngời, cử chỉ thân mật đối với học sinh sẽ tạo ra không khí lớp sôi nổi, việc khuyến khích học sinh lên tham gia trò chơi, nhận xét động viên khích lệ kịp thời đều là những yếu tố góp phần tạo nên không khí hào hứng chung của cả lớp, để bài học mới hiệu quả

Trong cuộc sống bất kỳ làm việc gì nếu có hứng thú thì sẽ đạt đến thành công, đặc biệt là đối với học sinh tiểu học do đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi các em Nếu thích thú thì các em sẽ làm tốt, khi hoạt động nhận thức của học sinh dựa trên cơ sở của hứng thú học sinh sẽ trở nên hào hứng, thoải mái và dễ dàng lĩnh hội kiến thức

- Thực hiện phân hóa đối tượng học sinh:

Ngay từ khâu thiết kế trò chơi mỗi giáo viên cần tính đến tính phù hợp với từng đối tượng học sinh, đặc biệt chú ý đến đối tượng học sinh yếu và học sinh giỏi nhưng vẫn đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng, biết tích hợp các nội dung

Trang 10

giáo dục kĩ năng sống, giáo dục môi trường,… qua từng nội dung cụ thể của tiết học phù hợp, thiết thực, gắn với cuộc sống hàng ngày của học sinh

- Địa điểm tổ chức trò chơi:

Các trò chơi thường diễn ra trong lớp học nên giáo viên có thể chia lớp thành tổ, nhóm học tập, sân khấu hóa, trình chiếu… tạo hứng thú cho các em

- Phương tiện tổ chức:

Khi vận dụng các trò chơi trong học tập Tiếng Việt, tôi luôn hoạch định trước việc sử dụng những phương tiện nào để nâng cao hiệu quả của trò chơi, như:

+ Phương tiện theo nội dung trò chơi quy định (ví dụ: trang phục cho các nhân vật sắm vai… dùng trong phân môn Tập đọc, Kể chuyện… giúp học sinh tái hiện lại nội dung câu chuyện hay nội dung bài đọc Các thẻ: thẻ từ, thẻ hình, thẻ màu, thẻ trống …

- Phần thưởng sau mỗi trò chơi:

+ Phần thưởng cho đội thắng cuộc như bông hoa điểm thưởng, tràn pháo tay… Đó chính là động lực để các em tham gia trò chơi nhiệt tình, năng động hơn) Sau mỗi trò chơi, tôi thường đặt những câu hỏi gợi ý để học sinh rút ra nội dung, kĩ năng mà các em đã học được qua trò chơi Đây chính là hoạt động

“chơi mà học, vui mà học” Đồng thời giao cho học sinh tự nhận xét, đánh giá

và tổng kết trò chơi để phát huy tối đa khả năng của các em (giáo viên chỉ tháo

gỡ những vướng mắc của các em), giúp các em rèn luyện óc suy luận, kĩ năng tư duy, kĩ năng giao tiếp Từ đó các em sẽ trở nên tự tin, mạnh dạn hơn

Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học, bản thân người giáo viên cần

tự học hỏi, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của mình trong đó có phương pháp, kĩ năng tổ chức các trò chơi học tập Không những thế người giáo viên cần phải tâm huyết với nghề nghiệp, không ngừng tìm tòi sáng tạo, tự nghiên cứu, khắc phục khó khăn về cơ sở vật chất Một điều quan trọng nữa là giáo viên cần có đức tính kiên trì, không nóng vội, biết ghi chép rút kinh nghiệm sau mỗi tiết dạy

4.4.2 Cách thức thực hiện giải pháp:

Ngày đăng: 11/07/2020, 16:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w