1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp dạy các dạng bài tập luyện từ và câu nâng cao lớp 5

18 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 154,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Cách dạy của một số giáo viên khi dạy các bài tập luyện từ còn đơn điệu, nặng nề, khô khan, lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáo khoa, hầu như rất ít sáng tạo, chưa sinh động, chưa

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP THANH HÓA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP DẠY CÁC DẠNG BÀI TẬP LUYỆN TỪ VÀ CÂU NÂNG CAO LỚP 5

Người thực hiện: Nguyễn Thái Bình

Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đông Vệ 1

SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng Việt

THANH HOÁ NĂM 2020

Trang 2

MỤC LỤC

1 MỞ ĐẦU……… 1

1.1 Lí do chọn đề tài……… … 1

1.2 Mục đích nghiên cứu……… ………1

1.3 Đối tượng nghiên cứu……… ……… 1

1.4 Phương pháp nghiên cứu……… … 2

2 NỘI DUNG ……… ….2

2.1 Cơ sở lí luận ……… ….2

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm………….2

2.3 Những giải pháp thực hiện dạy các dạng bài tập ………3

2.3.1 Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh giải dạng bài tập về cấu tạo từ………4

2.3.2 Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh làm bài tập về nghĩa của từ… 6

2.3.3 Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh làm bài tập mở rộng vốn từ…………7

2.3.4 Giải pháp 4: Hướng dẫn học sinh làm bài tập về tính tích cực hóa vốn từ……….8

2.3.5 Giải pháp 5: Hướng dẫn học sinh làm bài tập về các biện pháp tu từ về từ……….9

2.3.6 Giải pháp 6: Hướng dẫn học sinh làm Bài tập về từ loại………10

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm……… … 12

3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ……… …….12

3.1 Kết luận……… … 13

3.2 Kiến nghị………13

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 15

DANH MỤC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM……….……16

Trang 3

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế tri thức của thời đại, nghị quyết Đại hội

Đảng lần thứ IX đã đề ra nhiệm vụ: “Nâng cao dân trí – phát huy nguồn lực trí

tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam” Bởi vậy, giáo dục luôn được

xác định là “quốc sách hàng đầu”, mà “giáo viên là nhân tố quyết định chất

lượng giáo dục đào tạo” (Nghị quyết Hội nghị TƯ 2- khóa VIII).

Do đó, ngoài mục đích giúp các em có được những kĩ năng kiến thức, việc dạy học còn phải chú ý phát triển tư duy và bồi dưỡng vốn từ cho HS Ngay từ bậc Tiểu học lại càng phải quan tâm làm tốt điều này – nhất là môn Tiếng Việt Vốn từ là một trong những bộ phận cấu thành của ngôn ngữ, cho nên muốn dạy học sinh nắm vững tiếng mẹ đẻ, không thể không đặc biệt coi trọng đến việc dạy vốn từ cho học sinh Trong giao tiếp hàng ngày cả người nói và người nghe đều cần nắm được từ, hiểu từ và sử dụng từ một cách chuẩn xác thì việc giao tiếp mới diễn ra suôn sẻ, đạt được hiệu quả Nhất là đối với HS độ tuổi Tiểu học, khi mà vốn tiếng Việt nói chung, vốn từ ngữ nói riêng ở các em còn rất hạn chế, cần phải được phát triển để đáp ứng các nhu cầu học tập, giao tiếp việc dạy từ cho học sinh càng được coi trọng, không thể bỏ qua

Từ những suy nghĩ trên, tôi đã luôn trăn trở, nghiên cứu và rút ra được:

“Một số giải pháp dạy các dạng bài tập luyện từ và câu nâng cao lớp 5”, mà

theo tôi là cách rất tốt nhằm củng cố và mở rộng những kiến thức về từ trong môn Tiếng Việt

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Nhằm làm cho HS nắm được KT cơ bản của từ (cấu tạo, nghĩa, từ loại, )

- Giúp HS nâng cao tư duy làm bài, định hướng được các dạng bài, nắm vững phương pháp giải quyết vấn đề qua các dạng bài tập luyện từ nâng cao

- Tìm ra cách giảng dạy có hiệu quả nhất trong quá trình dạy các dạng bài tập luyện từ nâng cao ở lớp 5

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Phần kiến thức về Từ của phân môn Luyện từ và câu ở chương trình Tiếng

Việt lớp 5

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp điều tra, khảo sát: Tôi đã khảo sát nội dung và phương pháp dạy

học phân môn Luyện từ và câu trong các tài liệu dạy học ở Tiểu học và khảo sát

thực trạng học sinh lớp 5A1 trường Tiểu học Đông Vệ 1,TP Thanh Hóa Từ đó rút ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học các bài tập luyện từ nâng cao

- Phương pháp thống kê phân loại: Trên cơ sở những vấn đề đã được tìm hiểu qua quá trình điều tra, tôi tiến hành thống kê và phân loại các lỗi bài tập về từ

Trang 4

mà học sinh thường mắc phải để tìm biện pháp khắc phục.

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sau khi khảo sát, thống kê và phân loại, tôi tiến hành phân tích những lỗi học sinh thường hay mắc phải khi làm các bài

tập về từ trong phân môn Luyện từ và câu Từ đó tìm ra được nguyên nhân về cả

phía giáo viên và học sinh để tổng hợp, đưa ra các biện pháp khắc phục thiết thực nhất nhằm nâng cao hiệu quả dạy học

- Phương pháp thực nghiệm: giảng dạy để khảo sát đối chứng

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận

Phần kiến thức về Từ học sinh đã được học ở các lớp dưới Song đến lớp 4,

5 mới có những tiết học riêng để trang bị kiến thức cho HS Các em được mở rộng, hệ thống hoá vốn từ, được trang bị kiến thức sơ giản về từ, KN dùng từ đặt câu, Giai đoạn này, các em thích diễn đạt, thích vận dụng từ ngữ hay để nói, viết Thế nhưng, nhiều khi các em chưa hiểu nghĩa của từ, chưa nắm chắc ngữ

pháp tiếng Việt Thông qua phân môn Luyện từ và câu lớp 5, các em hiểu tác

dụng của cách dùng từ đặt câu để nói, viết đúng, viết hay, vận dụng một số biện pháp tu từ Từ đó, các em có thể trau dồi KN vận dụng từ ngữ đưa vào ngữ cảnh phù hợp, sinh động, có thói quen dùng từ đúng, có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp

Phần kiến thức về Từ của phân môn Luyện từ và câu ở chương trình Tiếng

Việt lớp 5 bao gồm những nội dung chính sau:

a Mở rộng và hệ thống hoá vốn từ (Thông qua các bài tập)

+ Tìm các từ ngữ theo chủ điểm

+ Tìm hiểu và nắm nghĩa của từ

+ Phân loại từ ngữ

+ Luyện cách sử dụng từ

b Nghĩa của từ

- Từ đồng nghĩa, luyện tập về từ đông nghĩa

- Từ trái nghĩa, luyện tập về từ trái nghĩa

- Từ đồng âm

- Từ nhiều nghĩa ,luyện tập về từ nhiều nghĩa

c Từ loại

- Đại từ, đại từ xưng hô

- Quan hệ từ, luyện tập về quan hệ từ

d Ôn tập

- Ôn tập về từ loại

- Tổng kết vốn từ

- Ôn tập về cấu tạo từ

Trang 5

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

* Giáo viên:

- Trong nhiều năm qua, mặc dù đã đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt nhưng một số giáo viên vẫn còn chưa nắm được (hoặc chưa chú ý tới) một

số đặc trưng của phân môn Luyện từ và câu

- Một số giáo viên vốn từ ngữ chưa phong phú, chưa đáp ứng được yêu cầu mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ cho học sinh Bên cạnh đó việc nắm nghĩa của từ của nhiều giáo viên chưa tốt, còn lúng túng khi miêu tả, giải thích nghĩa của từ Vì vậy, việc hướng dẫn HS giải nghĩa từ cũng chưa đạt hiệu quả cao

- Cách dạy của một số giáo viên khi dạy các bài tập luyện từ còn đơn điệu, nặng nề, khô khan, lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáo khoa, hầu như rất ít sáng tạo, chưa sinh động, chưa cuốn hút được học sinh

* Học sinh:

- Thực tế cho thấy, vẫn còn một số học sinh ít có hứng thú khi học các bài tập luyện từ, các em cho rằng đây là dạng bài tập khó chỉ dành cho học sinh giỏi

- Một số BT xuất hiện trùng lặp ở nhiều sách nâng cao gây tâm lí đơn điệu, nhàm chán ở HS Cách dạy của một số GV khô khan, thiên về áp đặt, HS tiếp thu thụ động bài giảng, dễ mệt mỏi, từ đó nảy sinh tâm lí ngại học các bài tập luyện từ

Trước thực trạng trên, tôi thiết nghĩ, việc dạy các bài tập luyện từ nâng cao trong phân môn Luyện từ và câu là hết sức cần thiết Vì vậy, tôi đã chọn lớp 5A1, Trường Tiểu học Đông Vệ 1 làm đối tượng nghiên cứu đề tài Tổng số học sinh trong lớp là 40 em trong đó nam 19 em, nữ 21 em Giáo viên đã tiến hành khảo sát thực trạng 40 em học sinh trong lớp thì thấy các em còn lúng túng nhiều khi làm một số dạng bài tập luyện từ Cụ thể:

Từ thực trạng trên, trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy và rút kinh nghiệm, tôi đã tìm ra giải pháp khắc phục

2.3 Những giải pháp thực hiện dạy các dạng bài tập

2.3.1 Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh giải dạng bài tập về cấu tạo từ

Trang 6

2.3.1.1 Bài tập nhận diện, phân loại:

loại chia làm 4 dạng:

+ Sắp xếp các từ cho sẵn vào cột phân loại

+ Cho sẵn một đoạn văn hoặc một câu, yêu cầu tìm từ theo cấu tạo

+ Cho sẵn một tiếng, yêu cầu tìm các từ có tiếng đó theo những kiểu cấu tạo khác nhau

+ Cho một nhóm từ, trong đó có từ khác về cấu tạo so với các từ còn lại

Một số lỗi học sinh thường mắc phải trong loại bài tập này:

- Học sinh có thể nhầm từ ghép là từ láy (như: dẻo dai, giản dị).

- Có thể xuất hiện trường hợp mới đầu tưởng là từ ghép nhưng thực sự lại là

từ láy Đó là các trường hợp cùng một phụ âm đầu được thể hiện bằng các hình

thức chữ viết khác nhau (như: ngộ nghĩnh).

* Dạng bài tập thứ nhất: Sắp xếp các từ cho sẵn vào cột phân loại:

Dạng bài tập này, để tăng độ khó, trong số các từ cho trước có những từ khó xác định (thường là từ ghép nhưng có hình thức ngữ âm giống từ láy hoặc các từ láy âm nhưng âm được láy lại có cách viết khác nhau )

Ví dụ: Xếp các từ sau đây vào các cột tương ứng:

Bạn bè, hư hỏng, san sẻ, bạn học, chăm chỉ, gắn bó, bạn đường, ngoan ngoãn, giúp đỡ, khó khăn, bạn đọc, thật thà, ngộ nghĩnh.

Giải pháp thực hiện:

Để làm tốt bài tập này, tôi cho các em:

- Nắm chắc và phân biệt được từ ghép tổng hợp,từ ghép phân loại và từ láy Căn cứ vào các đặc điểm đó mà lần lượt xếp các từ đã cho vào cột tương ứng

- Xem xét các từ có hiện tượng giống nhau về phụ âm hoặc vần Nếu các

tiếng đều có nghĩa thì đó là từ ghép chứ không phải từ láy

(VD: hư hỏng, san sẻ )

* Dạng bài tập thứ hai: Cho sẵn một đoạn văn hoặc một câu, yêu cầu tìm từ theo cấu tạo.

Ví dụ: Tìm các từ láy có trong các câu sau:

Dáng tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn Rồi tre lớn lên, cứng cáp, dẻo dai, vững chắc Tre trông thanh cao, giản dị, chí khí như người.

Giải pháp thực hiện

- Giáo viên cho học sinh vạch ranh giới giữa các từ trong câu

- Đối chiếu đặc điểm của các kiểu cấu tạo từ để xếp vào các kiểu cấu tạo

- Về trình bày: Giáo viên cho học sinh kẻ bảng có các cột theo các kiểu cấu tạo (nếu phải tìm hai loại trở lên)

Trang 7

Từ đơn Từ ghép Từ láy

… vững chắc nhũn nhặn

* Dạng bài tập thứ ba: Cho sẵn một tiếng, yêu cầu tìm các từ có tiếng đó theo những kiểu cấu tạo khác nhau.

Ví dụ: Tìm các từ có tiếng “trắng” và cho biết cấu tạo của chúng

Biện pháp thực hiện

- Tôi yêu cầu học sinh tìm trong vốn từ của mình các từ có tiếng đã cho

- Cho các em xếp các từ đó vào các kiểu cấu tạo khác nhau

- Trình bày bài: Kẻ bảng theo các cột với các kiểu cấu tạo Bảng có thể theo cột dọc, cũng có thể lần lượt theo cột ngang

trắng tinh trăng trắng trắng ngần trắng trẻo trắng phau ……

* Dạng bài tập thứ tư: Cho một nhóm từ, trong đó có từ khác về cấu tạo

so với các từ còn lại.

Ví dụ: Trong các nhóm từ sau, từ nào bị xếp không đúng:

(1) mộc mạc, nhũn nhặn, cứng cáp, dẻo dai.

(2) gắn bó, hư hỏng, san sẻ, nghộ nghĩnh.

Biện pháp thực hiện:

- Giáo viên cho học sinh tìm và phát hiện kiểu cấu tạo chung của tất cả các trường hợp trong nhóm Sau đó tìm từ không thuôc kiểu cấu tạo với các từ còn lại

Thông thường dạng bài tập này được nâng độ khó bằng cách tạo ra từ cần nhận diện có đặc điểm bề ngoài giống các từ còn lại nhưng thực ra không phải

(Dẻo dai: giống từ láy âm nhưng lại là từ ghép; ngộ nghĩnh có phụ âm đầu viết khác nhau nhưng là từ láy, còn: hư hỏng, san sẻ lại là từ ghép giống như gắn bó)

2.3.1.2 Bài tập yêu cầu chỉ ra sự khác nhau về cấu tạo của các từ phức

có các yếu tố đồng âm với nhau:

Loại bài tập này có thể được nâng cao bằng cách yêu cầu phân biệt nghĩa và xác định từ loại

Ví dụ: Từ bàn tính trong hai câu sau đây có gì khác nhau về cấu tạo?

(1) Trước đây người ta dùng bàn tính đẻ tính toán.

(2) Cần phải bàn tính cẩn thận trước khi lên đường.

* Một số lỗi học sinh thường mắc phải trong loại bài tập này

- Học sinh có thể nhầm lẫn nghĩa của các yếu tố cấu tạo

- Nhầm lẫn giữa từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại

Trang 8

Giải pháp thực hiện

- Giáo viên yêu cầu HS tìm sự khác nhau về nghĩa của các yếu tố cấu tạo

- Phân tích quan hệ nghĩa giữa các yếu tố, nghĩa của từng từ bằng cách dựa vào các từ đứng trước và sau

- Cho các em xác định cấu tạo từ (tổng hợp và phân loại)

2.3.2 Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh làm bài tập về nghĩa của từ 2.3.2.1 Bài tập chỉ ra nghĩa của các yếu tố mang nghĩa

Đối với loại bài tập này, độ khó được tăng lên khi chọn từ Hán – Việt, thành ngữ, tục ngữ làm ngữ liệu xác định

Ví dụ 1: Xác định nghĩa của từ “trông” trong bài ca dao sau đây:

“Người ta đi cấy lấy công

Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề

Trông trời, trông đất, trông mây

Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm

Trông cho chân cứng đá mềm

Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng.”

Ví dụ 2: Em hiểu các thành ngữ dưới đây như thế nào?

- Đứng núi này trông núi nọ.

- Chân cứng đá mềm.

- Một nắng hai sương.

Ví dụ 3: Mỗi câu tục ngữ sau đây khuyên ta điều gì?

- Có chí thì nên.

- Lửa thử vàng, gian nan thử sức.

- Lá lành đùm lá rách.

* Một số lỗi học sinh thường mắc phải trong loại bài tập này

- Học sinh nhầm lẫn giữa nghĩa gốc và nghĩa chuyển

- Chưa phân biệt được sự khác nhau giữa nghĩa của thành ngữ và tục ngữ

Giải pháp thực hiện

- Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định nghĩa của từ căn cứ vào các từ đứng trước và đứng sau, phân biệt đúng nghĩa gốc và nghĩa chuyển

- Nhớ lại các trường hợp dùng thành ngữ hoặc tục ngữ để tìm ra nghĩa của chúng Nghĩa của thành ngữ tương đương với nghĩa của từ, còn nghĩa của tục ngữ thường là lời khuyên, một bài học nào đấy

2.3.2.2 Bài tập chỉ ra sự khác nhau, giống nhau về nghĩa của các yếu tố mang nghĩa

Ngữ liệu của các bài tập này thường là:

+ Các từ Hán Việt có cùng một yếu tố cấu tạo từ, như: phân biệt nghĩa của

các từ: dũng cảm, dũng khí.

Trang 9

+ Các từ nhiều nghĩa Ví dụ: Nghĩa của “quả” trong “quả na”, “quả ổi” có

gì giống nhau và có gì khác trong “quả đất”?

+ Các từ đồng nghĩa: Phân biệt nghĩa của các từ “cho”, “biếu”, “tặng”.

* Một số lỗi học sinh thường mắc phải trong loại bài tập này:

- Học sinh nhầm lẫn từ cùng yếu tố cấu tạo sang từ đồng nghĩa

- Chưa xác định đúng nghĩa chung và nghĩa riêng của các từ nhiều nghĩa

- Phân biệt nghĩa của các từ đồng nghĩa chưa chính xác

Giải pháp thực hiện

- Với trường hợp từ cùng yếu tố cấu tạo: Tôi cho học sinh tìm nghĩa của yếu tố giống nhau và nghĩa của các yếu tố còn lại

- Kết hợp nghĩa của các yếu tố cấu tạo từ để tìm hiểu nghĩa cả tổ hợp

- Cho học sinh thấy được nét giống nhau là nghĩa của yếu tố chung, nét khác nhau là nghĩa của yếu tố còn lại

2.3.3 Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh làm bài tập mở rộng vốn từ 2.3.3.1 Bài tập tìm từ:

Loại bài tập này thường yêu cầu tìm các từ cùng chủ đề, từ đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, các từ có cùng đặc điểm cấu tạo

Ví dụ: (1) Kể các từ chỉ đức tính tốt của người học sinh.

(2) Tìm các từ đồng nghĩa với từ “to lớn”.

(3) Tìm các từ có tiếng “gia” có nghĩa là “nhà”.

* Một số lỗi học sinh thường mắc phải trong loại bài tập này:

- Chưa xác định đúng nghĩa của từ đã cho

- Học sinh nhầm lẫn sang yếu tố đồng âm khác nghĩa (phân biệt “gia – nhà” với “gia – tăng” thêm: quốc gia/ tăng gia)

Giải pháp thực hiện

- Đối với dạng (1): Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm từ thường gặp và tiêu biểu cho chủ đề đó, sau đó tìm thêm các từ thuộc chủ đề đã cho

- Với dạng (2): Giáo viên yêu cầu học sinh xác định đúng nghĩa của từ đã cho rồi tìm các từ khác mang nghĩa đó

- Với dạng (3): Giáo viên yêu cầu các em xác định nghĩa của yếu tố đã cho

là gì Tìm các từ khác có yếu tố đã cho với nghĩa vừa xác định Cần phân biệt được yếu tố đồng âm khác nghĩa

2.3.3.2 Bài tập phân nhóm từ:

Bài tập phân nhóm từ tôi thấy gồm 3 kiểu sau:

- Phân nhóm theo cấu tạo

- Phân nhóm theo nghĩa

- Loại bỏ từ lạc nhóm

Ví dụ: Trong các nhóm từ sau, mõi nhóm có một từ không cùng đặc điểm với ba từ còn lại Em hãy chỉ ra từ đó và chỉ ra sự khác biệt giữa chúng:

Trang 10

(1) anh trai, chị gái, thầy giáo, em gái.

(2) yêu thương, kính trọng, cô giáo, chăm sóc.

(3) Cao lớn, lùn tịt, lênh khênh, béo phì.

* Một số lỗi học sinh thường mắc phải trong loại bài tập này

- Học sinh chưa xác định đúng nghĩa khái quát của nhóm từ đã cho

- Chưa phân biệt được nhóm từ đó có cùng cấu tạo hay cùng nhóm nghĩa

Giải pháp thực hiện

- Kiểu BT phân nhóm theo cấu tạo: (Tôi đã trình bày ở BT về cấu tạo từ)

- Kiểu phân nhóm theo nghĩa: Cho học sinh xác định các nghĩa khái quát của các từ, xếp các từ vào các nghĩa khái quát đó

- Kiểu bài tập bỏ từ lạc nhóm:

+ Tôi yêu cầu HS xác định nghĩa của đại đa số các trường hợp trong nhóm + Phát hiện từ không mang nghĩa đã xác định

+ Bỏ các từ không có nghĩa đã xác định

2.3.4 Giải pháp 4: Hướng dẫn học sinh làm bài tập về tính tích cực hóa vốn từ:

2.3.4.1 Bài tập thay thế từ

Cho từ ngữ dùng chưa hay, thay bằng từ khác hay hơn (chính xác hơn, gợi cảm hơn, giàu hình ảnh hơn)

Ví dụ: Thay các từ gạch chân dưới đây bằng từ láy để câu văn gợi tả hơn:

Gió thổi mạnh Lá cây rơi nhiều Từng đàn chim bay nhanh trong mây.

* Một số lỗi học sinh thường mắc phải trong loại bài tập này:

- Học sinh tìm sang những từ đồng nghĩa với từ đã cho nhưng chưa phù hợp

với văn cảnh

Giải pháp thực hiện

- Tìm từ khác có nghĩa tương đương với từ đã cho nhưng gợi tả, gợi cảm hơn

- Chọn trong các từ tìm được lấy từ hay nhất để thay thế

- Giáo viên yêu cầu học sinh kiểm tra lại xem từ đã cho có phù hợp với từ trước

và sau nó cũng như với cả câu hay chưa

2.3.4.2 Bài tập điền từ:

Cho câu hoặc đoạn văn có một số vị trí bỏ trống, yêu cầu điền từ phù hợp

Ví dụ: Điền từ “tự lực” hoặc “tự lập” thích hợp vào chỗ trống:

(1) Anh ấy sống từ bé.

(2) Chúng ta cần làm bài.

* Một số lỗi học sinh thường mắc phải trong loại bài tập này:

- Học sinh chưa xác định đúng nghĩa của những từ đã cho nên chọn từ cần

điền chưa phù hợp

Giải pháp thực hiện

- Căn cứ vào các từ đứng trước và sau để xác định nghĩa của từ cần điền

Ngày đăng: 11/07/2020, 16:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w