1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ ghép và từ láy

21 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 763 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năng lực hoạt động ngôn ngữ của học sinh thể hiện tốt haykhông là nhờ vốn kiến thức về Tiếng Việt dồi dào và khả năng chuyển tải kiếnthức, nội dung hợp lý, sáng tạo của giáo viên.. Do đó

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài.

Bước sang thế kỉ thứ XXI, hành trang quan trọng nhất của mỗi quốc gia làchiến lược giáo dục đào tạo con người, là tiềm năng trí tuệ con người Bởi vậy,trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã vạch ra những chủ chủ trương,đường lối, chính sách sáng suốt nhằm đưa nước ta thành một nước công nghiệphóa - hiện đại hóa Nghị quyết trung ương II, khóa 8 đã khẳng định: “Muốncông nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước thì nguồn lực con người là yếu tố hàngđầu để thực hiện mục tiêu này”

Tiểu học là cấp học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và pháttriển toàn diện nhân cách của con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dụcphổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Cùng với các môn họckhác môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạtđộng cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ của học sinh thể hiện tốt haykhông là nhờ vốn kiến thức về Tiếng Việt dồi dào và khả năng chuyển tải kiếnthức, nội dung hợp lý, sáng tạo của giáo viên

Theo tôi nghĩ là một giáo viên đứng lớp thì đều phải dạy tốt các phân mônnhư chương trình đã quy định Song muốn dạy tốt một tiết Luyện từ và câu làmột điều khó nhất bởi từ ngữ Việt Nam rất phong phú, đa dạng Đúng như ôngcha ta đã có câu: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”

Câu nói đó đã thể hiện rõ sự phức tạp của ngữ pháp Việt Nam Do đó, vấn

đề dạy Tiếng Việt ở các trường Tiểu học nói chung và phân môn Luyện từ vàcâu nói riêng là một yếu tố quan trọng giúp phát triển năng lực trí tuệ và nhữngphẩm chất đạo đức tốt đẹp cho học sinh Thông qua việc dạy và học môn TiếngViệt để góp phần rèn luyện các em những thao tác tư duy về ngôn ngữ; Cungcấp cho học sinh các kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết ban đầu

về tự nhiên - xã hội, về con người, về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài.Qua đó bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sựtrong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người

Việt Nam Vậy để học sinh học tốt phần Luyện từ và câu về từ láy, từ ghép tôi

đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ ghép và từ láy ”,

mà theo tôi là cách tốt nhất giúp học sinh có hiểu biết về quy tắc cấu tạo từ, nắmquy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp

1.2 Mục đích nghiên cứu

Qua đề tài này tôi muốn góp một phần nhỏ của mình vào việc nâng caochất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Luyện từ và câu nóiriêng Tạo cho các em học sinh chưa có kĩ năng phân biệt từ láy và từ ghép, biếtphân biệt và nhận dạng đúng từ ghép và từ láy một cách nhanh nhất có thể, giúpcác em tự tin hơn, mạnh dạn hơn trong các tiết học Tiếng Việt

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Để làm rõ được mục đích tôi đã nói rõ ở trên, tôi đã lấy đối tượng nghiêncứu là học sinh lớp 5B Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, trong năm học

2019 - 2020

Do thời gian có hạn nên tôi chỉ nghiên cứu trong các tiết dạy hàng ngày củabản thân, của đồng nghiệp và tìm hiểu học sinh khối 5 với sự giúp đỡ nhiệt tình

Trang 2

của tổ chuyên môn và của ban lãnh đạo nhà trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi,thành phố Thanh Hóa

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp điều tra

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Trong chương trình Tiếng Việt sau năm 2000, tức là chương trình đanghiện hành, hai phân môn từ ngữ và ngữ pháp trước đây được tích hợp thành mộtphân môn có tên gọi là Luyện từ và câu Phân môn này cung cấp toàn bộ kiếnthức về quy tắc cấu tạo từ, biến đổi từ, kết hợp từ thành cụm từ, câu - đơn vị nhỏnhất để thực hiện chức năng giao tiếp Luyện từ và câu cũng là một yếu tố quantrọng để phát triển năng lực trí tuệ, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của ngườihọc sinh Vì vậy ngay từ những ngày đầu đến trường, học sinh đã làm quen vớiluyện từ và câu qua việc học âm, vần, tiếng từ ở lớp 1, các kiểu câu đơn giản ởlớp 2, các từ loại cơ bản ở lớp 3, các biện pháp tu từ nghệ thuật quen thuộc hoặccấu trúc về câu, cụm từ, nghĩa của từ v v ở lớp 4, 5 Cụ thể, luyện từ và câugiúp cho học sinh tiểu học có hiểu biết về quy tắc câú tạo từ, nắm quy tắc dùng

từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp Trên cơ sở đó, học sinhnắm được các quy tắc chính tả, dấu câu, nắm chuẩn văn hoá lời nói

Trong thực tế, giáo viên tiểu học gặp nhiều khó khăn khi dạy luyện từ vàcâu, đặc biệt là giáo viên dạy lớp 5 Năm học cuối cấp tiểu học, kiến thức về

từ và câu được cung cấp khá nhiều, khá sâu, chương trình lại cấu trúc theokiểu đồng tâm mở rộng nên nếu không nắm được kiến thức ở lớp dưới, các

em sẽ khó tiếp thu được kiến thức mới ở lớp trên Sau đây, tôi xin trình bàymột số biện pháp giúp học sinh phân biệt từ láy và từ ghép qua tiết dạy tăng tiếtcho học sinh lớp 5

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.2.1 Thực trạng của việc học tập và vận dụng kiến thức về câu và từ để nghe đọc, nói, viết của học sinh lớp 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi.

Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi là một trường ở trung tâm thành phốThanh Hóa Năm học 2019-2020 trường có tổng số 37 lớp với 61 CBGV-NV

Cơ sở vật chất đầy đủ nên điều kiện dạy học rất thuận lợi

Tình hình học tập của học sinh hiện nay so với học sinh các năm trước có

nhiều tiến bộ, nhất là khả năng giao tiếp Học sinh đã tự tin hơn khi trình bày ýkiến trước đám đông, có khả năng cảm thụ cái hay cái đẹp của các tác phẩm vănhọc và được học nhiều kiến thức mới so với nội dung chương trình cũ nhưthuyết trình tranh luận, phát biểu cảm nghĩ vv Tuy nhiên, về phần từ và câu,học sinh còn mắc phải những hạn chế sau:

- Kĩ năng nhận diện từ, phân cắt các đơn vị từ trong câu còn nhiều sai lệch

Trang 3

- Kĩ năng phân loại và nhận diện từ theo cấu tạo còn nhiều lầm lẫn.

- Kĩ năng nhận diện và phân tích các thành phần câu chưa thật chính xác

- Kĩ năng phân loại và nhận diện từ theo cấu tạo còn hạn chế

Trong các hạn chế trên, mặt nào cũng cần khắc phục Tuy nhiên, trongphạm vi đề tài này, bản thân tôi muốn trình bày sâu một vấn đề Đó là kĩ năngphân loại và nhận diện từ theo cấu tạo còn nhiều hạn chế Ở đơn vị kiến thứcnày, học sinh thường mắc các lỗi như sau:

- Học sinh còn xác định sai từ ghép khi cả hai tiếng có bộ phận của tiếnggiống nhau như các từ: nhân dân, mệt mỏi, buồn bực, chèo chống v v

- Học sinh chưa nhận dạng được các từ láy đặc biệt khuyết phụ âm đầuthường là các từ tượng thanh, tượng hình

- Học sinh không phân biệt được từ ghép phân loại và từ ghép tổng hợptrong các trường hợp từ đó có tiếng gốc là một động từ hay một tính từ

- Học sinh có vốn từ ghép và từ láy có 3 hay 4 tiếng rất hạn chế, ít ỏi

Vì sao học sinh lại mắc những tồn tại trên, trước hết ta phải tìm hiểu từ nộidung sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy của giáo viên, điều kiện học tậpcủa học sinh và một số vấn đề có liên quan khác

2.2.2 Thực trạng của nội dung sách giáo khoa giảng dạy chương trình chính khóa đang hiện hành và phương pháp giảng dạy của giáo viên:

2.2.2.1 Mặt tích cực:

Sách giáo khoa đang hiện hành được biên soạn theo quan điểm tích hợp,

quan điểm giao tiếp và quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh

Sự thể hiện các quan điểm này trong sách giáo khoa được thể hiện rất rõ ràng.Các kiến thức học sinh được học đan xen, kiến thức về từ học cùng với kiếnthức về câu, học sinh vừa học miêu tả ở tiết trước, tiết sau lại được làm quen vớiđơn từ Kiến thức ở bài sau được mở rộng hơn so với bài trước Hệ thống kiếnthức được cung cấp chú ý nhiều đến việc rèn kĩ năng giao tiếp nên học sinhkhông những nghe đọc tốt hơn mà viết nói cũng tốt hơn Để giúp cho học sinhtiếp thu tốt những kiến thức đó, giáo viên phải sử dụng nhiều phương pháp dạyhọc, đặc biệt là phương pháp tích cực

2.2.2.2 Mặt hạn chế:

Tuy nhiên, sau một thời gian thực dạy, bản thân tôi cũng nhận thấy những

hạn chế của nội dung chương trình, tuy không lớn nhưng phần nào đã ảnh hưởngđến việc học tập và ghi nhớ kiến thức của học sinh Tôi có thể đưa ra một ví dụnhư sau:

Trong chương trình cũ, bài tìm hiểu về từ láy được học trong 4 tiết, bài tìmhiểu về từ ghép được học trong 4 tiết Tổng cộng là 8 tiết và được học liên tụctrong khoảng 8 tuần Trong chương trình mới, nội dung được tích hợp nên kiếnthức về từ đơn và từ phức được học trong 2 tiết, thêm 2 tiết tìm hiểu về từ ghépphân loại và từ ghép tổng hợp Tổng cộng chỉ có 4 tiết Vì thế khi lên lớp 5,nhiều em đã quên kiến thức này, khi luyện tập thực hành, học sinh đạt kết quảkhông cao Chính vì thế, tôi đã tận dụng các tiết học tăng cường Tiếng Việt, xâydựng một thiết kế bài dạy một cách khoa học nhất nhằm giúp học sinh nắm vữngkiến thức về từ

Vào đầu năm học 2019-2020 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi có phân

Trang 4

công cho tôi chủ nhiệm lớp 5B Qua khảo sát chất lượng đầu năm học tôi đã thu

số liệu cụ thể như sau:

2.3 Giải pháp của sáng kiến kinh nghiệm

- Phân biệt từ láy và từ ghép vốn rất phức tạp Bởi vì tiếng Việt có hiệntượng chuyển hóa từ từ ghép nghĩa sang từ láy âm Lại không ít trường hợp khó

phân tích rạch ròi là “ghép” hay “láy” nên đành phải xếp chúng vào các đơn vị

trung gian Cho nên không thể dùng một biện pháp để giải quyết mọi trường

hợp Tuy nhiên, ở sáng kiến kinh nghiệm này tôi cố gắng đưa ra một số cáchnhận diện, phân biệt để giúp các em nắm vững

Cách 1: Láy âm là phương thức cấu tạo riêng của từ tiếng Việt Từ Hán

Việt nói chung không có dạng láy âm (trừ trường hợp yếu tố gốc Hán đã đượcViệt hóa hoàn toàn) Cho nên, nếu biết chắc chắn một từ hai âm tiết là từ HánViệt thì hãy xác định đó là từ ghép chứ không phải là từ láy, dù nhìn bề ngoài nó

có dạng láy âm ngẫu nhiên Ví dụ: cập kê, lãng đãng, tư lự, tử tế…

Cách 2: Ranh giới để phân biệt một từ thuần Việt và một từ láy đôi thuần

Việt là: Ở từ ghép hai âm tiết, cả hai tiếng đều có nghĩa (ví dụ: trai trẻ, chechắn,máu mủ…), còn ở láy đôi thì chỉ có một tiếng gốc là có nghĩa, còn tiếngkia là tiếng láy lại, không có nghĩa hoặc mất nghĩa có trường hợp cả hai thành

yếu tố “vô nghĩa” (ví dụ: bâng khuâng, lẩm cẩm, lã chã…)

Có thể phân biệt tách riêng từng tiếng, nếu mỗi tiếng khi đứng độc lập đều

có nghĩa thì đó là từ ghép (ví dụ: đau đớn, manh mối, lãi lời, hờ hững… nếu chỉmột tiếng gốc có nghĩa thì đó là láy âm Ví dụ: lạnh lùng, làm lụng, phập phồng,lảm nhảm…chỉ có tiếng lạnh, làm, phồng, nhảm…là tiếng gốc có nghĩa

Cách 3: Đảo trật tự các tiếng trong từ Nếu đảo được thì đó là từ ghép (vì

từ láy âm nói chung không đảo được) Ví dụ: đọa đày/đày đọa, gìn giữ/giữ gìn,

mờ mịt/mịt mờ, ngơ ngẩn/ngẩn ngơ, thẫn thờ/thờ thẫn… đều có thể đảo vị trícác tiếng trong từ nên là các từ ghép Các từ: lạnh lùng, tần ngần, ngỡ ngàng, rõràng, thấm thoát, thập thò… là các từ láy âm

Cách này có mặt hạn chế là do quy luật ngữ âm hoặc do người dùng muốntạo ấn tượng mới mẻ, nên một số từ láy âm đích thực cũng đảo được trật tự, ví

Trang 5

dụ: nhớ nhung/nhung nhớ da diết/diết da, nhố nhăng/nhăng nhố…nên có thểgây ra nhầm lẫn.

Cách 4: Gặp một số từ phức trong đó có một tiếng nào đó không rõ nghĩa,

nếu thấy tiếng đó xuất hiện trong một số từ phức có tiếng gốc khác nhau, thìthường từ phức đó là từ ghép nghĩa Ví dụ: thành tố rỡ trong các từ: rạng rỡ,mững rỡ, rực rỡ…

2.3.1 Sử dụng tiết tăng tiết để củng cố kiến thức được học trong chương trình chính khoá.

* Vì sao không thể dùng tiết chính khoá để dạy củng cố cho học sinh phầnkiến thức về cấu tạo từ?

Câu hỏi này có thể được lí giải như sau: Các bài học trong nội dungchương trình đã đạt chuẩn về kiến thức cần đạt Giáo viên không được quyền cắtxén thêm bớt hay thay thế Vả lại nếu muốn mở rộng hoặc củng cố cho sâu, chovững cũng không đủ thời gian mà tiết học chính khóa sẽ trở nên nặng nề Vì thếcách giúp giáo viên xử lí tốt nhất là dạy củng cố trong tiết học tăng tiết Đó cũngchính là yêu cầu của việc dạy học 2 buổi/ngày Mặt khác, kiến thức về cấu tạo

từ, các em đã được học ở lớp 4 Việc củng cố mở rộng thêm kiến thức để họcsinh tiếp thu có thể tiếp thu tốt bài học mới là việc làm cần thiết mà giáo viênlớp 5 phải đảm nhận

Sau đây, tôi xin trình bày các thiết kế bài dạy tôi đã áp dụng để củng cốkiến thức về cấu tạo từ cho học sinh lớp 5

2.3.2 Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ láy:

I Mục tiêu:

- Giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học về từ láy.

- Nhận dạng được từ láy

- Tìm được từ láy có cùng một tiếng gốc cho trước

- Biết sử dụng từ láy để viết đoạn văn có nội dung cho trước

II Chuẩn bị:

- 4 lọ hoa trong đó có gắn các thẻ hoa ghi sẵn các kiểu từ láy

- Bảng phụ ghi đoạn văn, bảng phụ ghi kết quả bài làm

III Các hoạt động dạy học:

1 Giới thiệu bài: Giáo viên nêu mục đích yêu

cầu tiết học

2 Bài mới:

Hoạt động 1: Nhận dạng từ láy và từ ghép:

GV treo bảng phụ ghi sẵn nội dung sau:

Xếp những từ được in đậm trong đoạn văn

sau đây vào 2 nhóm: từ láy và từ ghép:

Biển luôn thay đổi theo màu sắc của mây trời.

Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh, như

dâng cao lên chắc nịch Trời âm u , mây mưa,

biển xám xịt, nặng nề Trời ầm ầm giông gió,

- HS lắng nghe

- HS đọc đề và tìm hiểu đề bài

- HS thảo luận nhóm đôi

Trang 6

biển đục ngầu giận dữ Như một con người

biết buồn vui, biển lúc tẻ nhạt, lạnh lùng, lúc

sôi nổi, hả hê, lúc đăm chiêu, gắt gỏng.

- Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm

đôi trong thời gian 2 phút

- Yêu cầu HS trình bày kết quả thảo luận

thông qua trò chơi: Ai nhanh hơn

- Giáo viên treo 2 bảng phụ kẻ sẵn 2 nhóm từ

- HS nối tiếp nhau ghi từ vào các cột cho

đúng Đội nào nhanh hơn và đúng sẽ là đội

thắng cuộc

- Giáo viên nhận xét, chấm chữa và công bố

đội thắng

- Giáo viên chốt: Từ phức được chia thành 2

loại: từ láy và từ ghép Từ láy là những từ có

bộ phận của tiếng được láy lại giống nhau Từ

ghép là từ có nhiều tiếng được ghép lại với

nhau để tạo nên một nghĩa chung Từ âm u là

từ láy đặc biệt Đây là từ láy tượng hình

khuyết phụ âm đầu (chỉ có vần)

- Giáo viên yêu cầu HS tìm thêm các từ láy

đặc biệt

Hoạt động 2: Ôn về các kiểu từ láy

- Giáo viên hỏi: Có mấy kiểu từ láy?

- Giáo viên tổ chức trò chơi : Cắm hoa

- Giáo viên xếp lên bàn một giỏ hoa lớn trong

đó có nhiều bông hoa ghi sẵn từ và 4 lọ hoa

đính sẵn các kiểu từ láy trên thành lọ Cho HS

thi cắm hoa vào lọ sao cho mỗi lọ chứa đúng

kiểu từ láy được ghi trên thành lọ hoa

- Cho HS tham gia trò chơi trong 2 phút

- Giáo viên chấm chọn đôị thắng cuộc và đặt

những câu hỏi để học sinh ghi nhớ sự khác

biệt của các kiểu từ láy

Hoạt động 3: Ôn về các dạng từ láy

- Giáo viên: Ngoài số từ láy có 2 tiếng, Tiếng

Việt còn có một số lượng từ láy có 3, 4 tiếng

rất phong phú

- Giáo viên yêu cầu học sinh nêu những từ láy

có 3, 4 tiếng mà học sinh đã biết

- Giáo viên ghi bảng và dưạ vào các từ này để

chốt ý:

Từ láy có 3 tiếng thường được cấu tạo như

sau: A (Tiếng gốc) A’ A’’

- HS tham gia trò chơi

Từ láy từ ghép

âm uxám xịtnặng nề

âm ầm

hả hêlạnh lùng

thay đổimàu sắcđục ngầuxanh thắmmây mưa đăm chiêu

- HS: ồn ào, inh ỏi, ú ớ, êm ái,

Lọ 2: Láy vần: chói lọi, lao xao,khéo léo, lanh chanh…

Lọ 3: Láy âm và vần: cuồncuộn, trăng trắng, im ỉm, timtím…

Lọ 4: Láy tiếng: xanh xanh,đùng đùng, lù lù, vui vui…

- HS nêu

- HS tìm thêm các ví dụ về từláy 3, 4 tiếng có cấu tạo nhưgiáo viên vừa nêu:

- khít khìn khịt, sát sàn sạt, khỏekhòe khoe

Trang 7

Ví dụ: xốp xồm xộp, tí tì ti, chút chùn chụt

Từ láy có 4 tiếng được cấu tạo như sau:

Dạng 1: AB’AB: Khập khà khập khiễng, lon

ta lon ton, lủng cà lủng củng

Dạng 2: A A BB: Cười cười nói nói, buồn

buồn vui vui, chi chi chành chành,

Hoạt động 4: Viết đoạn văn khoảng 4,5 câu

có sử dụng từ láy để tả giờ chơi

- Giáo viên cho HS làm bài và tổ chức cho

học sinh trình bày bài làm, sửa chữa theo quy

trình

3 Hoạt động nối tiếp:

Trò chơi: Tìm từ láy có tiếng gốc cho trước

- Giáo viên phát phiếu học tập nhóm cho HS

Yêu cầu các em tìm từ láy có tiếng gốc sau:

vui, nhanh, tròn, xa, trắng

- Nhận xét và tuyên dương nhóm giỏi nhất

- Nhận xét và dặn dò cho tiết ôn tập sau: xem

lại kiến thức về từ ghép

- bổi hổi bồi hồi, hăm hăm hở

hở, vội vội vàng vàng

- HS làm bài cá nhân

- HS tham gia trò chơi:

vui vui, vui vẻ,vui vầynhanh nhanh, nhanh nhẹn,nhanh nhảu

tròn trịa, tròn trĩnh, tròn tròn

xa xa, xa xăm, xa xôitrắng trẻo, trăng trắng

Giáo viên nêu yêu cầu các nhóm thảo luận

2.3.3 Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ ghép.

I Mục tiêu:

- Giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học về từ ghép.

- Nhận dạng được từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại

- Tìm được từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại có cùng một tiếng gốc cho trước

Trang 8

- Biết sử dụng từ ghép để viết đoạn văn có nội dung cho trước.

II Chuẩn bị:

- Bảng phụ ghi đoạn văn, bảng phụ ghi kết quả bài làm

III Các hoạt động dạy học:

1 Giới thiệu: GV nêu mục đích yêu cầu tiết

Xếp những từ được in đậm trong đoạn văn

sau đây vào 2 nhóm: từ láy và từ ghép:

Núi đồi , làng bản chìm trong biển mây mù.

Trước bản, rặng đào đã trút hết lá Trên những

cành khẳng khiu đã lấm tấm những lộc non và

lơ thơ những cánh hoa đỏ thắm Lá thông vi

vu một điệu đàn bất tuyệt Xen lẫn vào giữa

những đám lá tai mèo, những nương đỗ,

nương mạch xanh um, trông như những ô bàn

cờ Chốc chốc, một điệu hát Hmông lại vút

lên trong trẻo.

- Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm

đôi trong thời gian 2 phút

- Yêu cầu HS trình bày kết quả thảo luận

thông qua trò chơi: Tiếp sức

- Giáo viên treo 2 bảng phụ kẻ sẵn 2 nhóm từ

HS nối tiếp nhau ghi từ vào các cột cho đúng

Đội nào nhanh hơn và đúng sẽ là đội thắng

cuộc

- Giáo viên nhận xét, chấm chữa và công bố

đội thắng

- Giáo viên chốt ý: Từ láy là những từ có bộ

phận của tiếng được láy lại giống nhau Từ

ghép là từ có nhiều tiếng được ghép lại với

nhau để tạo nên nghĩa chung Trong từ ghép

đỏ thắm vi vutai mèo trong trẻoxanh um

điệu hát

- HS lắng nghe

- HS tìm từ ghép TH và PL

Từ ghép PL Từ ghép THxanh um làng bản

Trang 9

- Cho HS trình bày.

- Giáo viên cho HS thảo luận nhóm đôi, trả lời

câu hỏi sau: Tìm những tiếng có nghĩa rõ ràng

trong các từ ghép

- Cho HS trình bày

- Giáo viên hỏi: Dựa vào số lượng tiếng có

nghĩa rõ ràng cuả mỗi từ, em hãy nêu sự khác

nhau của từ ghép tổng hợp và từ ghép phân

loại?

- Cho HS trình bày

- Giáo viên chốt: Các từ ghép tổng hợp

thường có 2 tiếng đều có nghĩa rõ ràng, từ

ghép phân loại thường chỉ có 1 tiếng có nghĩa

rõ ràng, một tiếng mờ nghĩa (không rõ nghĩa),

hoặc cả 2 tiếng đều có nghĩa nhưng tiếng thứ

2 lệ thuộc vào tiếng thứ nhất và giúp cho từ đó

có nghĩa phân biệt

Ví dụ: xanh um, đỏ thắm, vàng hoe; um, hoe,

thắm là những tiếng nghĩa không rõ ràng

nhà sàn, đường phèn, hạt tiêu, tai mèo, điệu

hát: sàn, phèn, tiêu, mèo, hát là những tiếng

giúp phân biệt nghĩa với các từ khác như: nhà

lầu, đường cát, hạt mưa, tai tượng, điệu múa

- GV treo bảng phụ ghi sẵn các từ:

vui tính, cao cờ, đau lòng.

mây mưa, sướng vui, cao thấp

- Yêu cầu HS xác định từ loại của mỗi tiếng

trong từ và chỉ ra sự khác biệt giữa từ ghép

phân loại và từ ghép tổng hợp

- Cho HS trình bày

- Giáo viên chốt:

- Từ ghép tổng hợp: thường có 2 tiếng cùng

từ loại và có thể đổi vị trí cho nhau mà

nghĩa của từ không thay đổi: bản làng, làng

bản, núi đồi, đồi núi, sướng vui, vui sướng,

cao thấp, thấp cao Hai tiếng trong từ ghép

tổng hợp thường là hai từ cùng nghĩa (gần

nghĩa) như: vui sướng, đau khổ, xe cộ, xinh

đẹp hoặc trái nghĩa nhau như: xa gần, cao

thấp, lớn bé, trẻ già

- Từ ghép phân loại: Thường có 2 tiếng khác

từ loại (Trừ trường hợp từ ghép phân loại là

danh từ như: nhà sàn, nhà ngói, đất cát, đất

đỏ thắm núi đồitai mèo

điệu hát

- HS gạch chân từ có tiếng có nghĩa rõ ràng trong từ ghép

Từ ghép PL Từ ghép TH

xanh um làng bản

đỏ thắm núi đồi tai mèo

điệu hát

- HS lắng nghe

vui tính: động + danh cao cờ : tính + danhđau lòng: động + danhmây mưa: danh + danhsướng vui: động + độngcao thấp: tính + tính

Trang 10

HS trình bày và giáo viên chốt ý:

* Có thể dựa vào cấu tạo của từ để phân biệt

từ ghép tổng hợp và phân loại

Hoạt động 4: Viết đoạn văn:

- Giáo viên yêu cầu học sinh viết 1 đoạn văn

có sử dụng từ ghép phân loại và từ ghép tổng

hợp, gạch chân dưới các từ ghép đã dùng

- Giáo viên gọi 1 số em đọc bài làm của mình

và tổ chức nhận xét chấm chữa

3.Hoạt động nối tiếp:

Hỏi: Có mấy cách giúp ta phân biệt từ ghép

phân loại và từ ghép tổng hợp?

Nhận xét tiết học và dặn dò chuẩn bị bài sau

HS làm bàiTiếng gốc

Từ ghép TH

Từ ghép PL

1, Dựa vào nghĩa

2, Dựa vào cấu tạo cuả từ

Hình ảnh học sinh thảo luận nhóm

Ngày đăng: 11/07/2020, 16:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh học sinh thảo luận nhóm - Giải pháp giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ ghép và từ láy
nh ảnh học sinh thảo luận nhóm (Trang 10)
các hình thức viết khác nhau của âm c nên công kênh, cồng kềnh...là từ láy. - Giải pháp giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ ghép và từ láy
c ác hình thức viết khác nhau của âm c nên công kênh, cồng kềnh...là từ láy (Trang 12)
Hình ảnh thảo luận nhóm - Giải pháp giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ ghép và từ láy
nh ảnh thảo luận nhóm (Trang 13)
câu d. óng ả (vì óng ả là từ gợi tả hình ảnh, sửa: thánh thót, trong trẻo..)    * Tìm tiếng còn thiếu ở giữa để tạo thành 2 từ có nghĩa: - Giải pháp giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ ghép và từ láy
c âu d. óng ả (vì óng ả là từ gợi tả hình ảnh, sửa: thánh thót, trong trẻo..) * Tìm tiếng còn thiếu ở giữa để tạo thành 2 từ có nghĩa: (Trang 15)
BẢNG KHẢO SÁT Số - Giải pháp giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ ghép và từ láy
BẢNG KHẢO SÁT Số (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w