Năng lực hoạt động ngôn ngữ của học sinh thể hiện tốt haykhông là nhờ vốn kiến thức về Tiếng Việt dồi dào và khả năng chuyển tải kiếnthức, nội dung hợp lý, sáng tạo của giáo viên.. Do đó
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài.
Bước sang thế kỉ thứ XXI, hành trang quan trọng nhất của mỗi quốc gia làchiến lược giáo dục đào tạo con người, là tiềm năng trí tuệ con người Bởi vậy,trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã vạch ra những chủ chủ trương,đường lối, chính sách sáng suốt nhằm đưa nước ta thành một nước công nghiệphóa - hiện đại hóa Nghị quyết trung ương II, khóa 8 đã khẳng định: “Muốncông nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước thì nguồn lực con người là yếu tố hàngđầu để thực hiện mục tiêu này”
Tiểu học là cấp học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và pháttriển toàn diện nhân cách của con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dụcphổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Cùng với các môn họckhác môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạtđộng cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ của học sinh thể hiện tốt haykhông là nhờ vốn kiến thức về Tiếng Việt dồi dào và khả năng chuyển tải kiếnthức, nội dung hợp lý, sáng tạo của giáo viên
Theo tôi nghĩ là một giáo viên đứng lớp thì đều phải dạy tốt các phân mônnhư chương trình đã quy định Song muốn dạy tốt một tiết Luyện từ và câu làmột điều khó nhất bởi từ ngữ Việt Nam rất phong phú, đa dạng Đúng như ôngcha ta đã có câu: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”
Câu nói đó đã thể hiện rõ sự phức tạp của ngữ pháp Việt Nam Do đó, vấn
đề dạy Tiếng Việt ở các trường Tiểu học nói chung và phân môn Luyện từ vàcâu nói riêng là một yếu tố quan trọng giúp phát triển năng lực trí tuệ và nhữngphẩm chất đạo đức tốt đẹp cho học sinh Thông qua việc dạy và học môn TiếngViệt để góp phần rèn luyện các em những thao tác tư duy về ngôn ngữ; Cungcấp cho học sinh các kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết ban đầu
về tự nhiên - xã hội, về con người, về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài.Qua đó bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sựtrong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người
Việt Nam Vậy để học sinh học tốt phần Luyện từ và câu về từ láy, từ ghép tôi
đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ ghép và từ láy ”,
mà theo tôi là cách tốt nhất giúp học sinh có hiểu biết về quy tắc cấu tạo từ, nắmquy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp
1.2 Mục đích nghiên cứu
Qua đề tài này tôi muốn góp một phần nhỏ của mình vào việc nâng caochất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Luyện từ và câu nóiriêng Tạo cho các em học sinh chưa có kĩ năng phân biệt từ láy và từ ghép, biếtphân biệt và nhận dạng đúng từ ghép và từ láy một cách nhanh nhất có thể, giúpcác em tự tin hơn, mạnh dạn hơn trong các tiết học Tiếng Việt
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Để làm rõ được mục đích tôi đã nói rõ ở trên, tôi đã lấy đối tượng nghiêncứu là học sinh lớp 5B Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, trong năm học
2019 - 2020
Do thời gian có hạn nên tôi chỉ nghiên cứu trong các tiết dạy hàng ngày củabản thân, của đồng nghiệp và tìm hiểu học sinh khối 5 với sự giúp đỡ nhiệt tình
Trang 2của tổ chuyên môn và của ban lãnh đạo nhà trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi,thành phố Thanh Hóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Trong chương trình Tiếng Việt sau năm 2000, tức là chương trình đanghiện hành, hai phân môn từ ngữ và ngữ pháp trước đây được tích hợp thành mộtphân môn có tên gọi là Luyện từ và câu Phân môn này cung cấp toàn bộ kiếnthức về quy tắc cấu tạo từ, biến đổi từ, kết hợp từ thành cụm từ, câu - đơn vị nhỏnhất để thực hiện chức năng giao tiếp Luyện từ và câu cũng là một yếu tố quantrọng để phát triển năng lực trí tuệ, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của ngườihọc sinh Vì vậy ngay từ những ngày đầu đến trường, học sinh đã làm quen vớiluyện từ và câu qua việc học âm, vần, tiếng từ ở lớp 1, các kiểu câu đơn giản ởlớp 2, các từ loại cơ bản ở lớp 3, các biện pháp tu từ nghệ thuật quen thuộc hoặccấu trúc về câu, cụm từ, nghĩa của từ v v ở lớp 4, 5 Cụ thể, luyện từ và câugiúp cho học sinh tiểu học có hiểu biết về quy tắc câú tạo từ, nắm quy tắc dùng
từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp Trên cơ sở đó, học sinhnắm được các quy tắc chính tả, dấu câu, nắm chuẩn văn hoá lời nói
Trong thực tế, giáo viên tiểu học gặp nhiều khó khăn khi dạy luyện từ vàcâu, đặc biệt là giáo viên dạy lớp 5 Năm học cuối cấp tiểu học, kiến thức về
từ và câu được cung cấp khá nhiều, khá sâu, chương trình lại cấu trúc theokiểu đồng tâm mở rộng nên nếu không nắm được kiến thức ở lớp dưới, các
em sẽ khó tiếp thu được kiến thức mới ở lớp trên Sau đây, tôi xin trình bàymột số biện pháp giúp học sinh phân biệt từ láy và từ ghép qua tiết dạy tăng tiếtcho học sinh lớp 5
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1 Thực trạng của việc học tập và vận dụng kiến thức về câu và từ để nghe đọc, nói, viết của học sinh lớp 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi.
Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi là một trường ở trung tâm thành phốThanh Hóa Năm học 2019-2020 trường có tổng số 37 lớp với 61 CBGV-NV
Cơ sở vật chất đầy đủ nên điều kiện dạy học rất thuận lợi
Tình hình học tập của học sinh hiện nay so với học sinh các năm trước có
nhiều tiến bộ, nhất là khả năng giao tiếp Học sinh đã tự tin hơn khi trình bày ýkiến trước đám đông, có khả năng cảm thụ cái hay cái đẹp của các tác phẩm vănhọc và được học nhiều kiến thức mới so với nội dung chương trình cũ nhưthuyết trình tranh luận, phát biểu cảm nghĩ vv Tuy nhiên, về phần từ và câu,học sinh còn mắc phải những hạn chế sau:
- Kĩ năng nhận diện từ, phân cắt các đơn vị từ trong câu còn nhiều sai lệch
Trang 3- Kĩ năng phân loại và nhận diện từ theo cấu tạo còn nhiều lầm lẫn.
- Kĩ năng nhận diện và phân tích các thành phần câu chưa thật chính xác
- Kĩ năng phân loại và nhận diện từ theo cấu tạo còn hạn chế
Trong các hạn chế trên, mặt nào cũng cần khắc phục Tuy nhiên, trongphạm vi đề tài này, bản thân tôi muốn trình bày sâu một vấn đề Đó là kĩ năngphân loại và nhận diện từ theo cấu tạo còn nhiều hạn chế Ở đơn vị kiến thứcnày, học sinh thường mắc các lỗi như sau:
- Học sinh còn xác định sai từ ghép khi cả hai tiếng có bộ phận của tiếnggiống nhau như các từ: nhân dân, mệt mỏi, buồn bực, chèo chống v v
- Học sinh chưa nhận dạng được các từ láy đặc biệt khuyết phụ âm đầuthường là các từ tượng thanh, tượng hình
- Học sinh không phân biệt được từ ghép phân loại và từ ghép tổng hợptrong các trường hợp từ đó có tiếng gốc là một động từ hay một tính từ
- Học sinh có vốn từ ghép và từ láy có 3 hay 4 tiếng rất hạn chế, ít ỏi
Vì sao học sinh lại mắc những tồn tại trên, trước hết ta phải tìm hiểu từ nộidung sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy của giáo viên, điều kiện học tậpcủa học sinh và một số vấn đề có liên quan khác
2.2.2 Thực trạng của nội dung sách giáo khoa giảng dạy chương trình chính khóa đang hiện hành và phương pháp giảng dạy của giáo viên:
2.2.2.1 Mặt tích cực:
Sách giáo khoa đang hiện hành được biên soạn theo quan điểm tích hợp,
quan điểm giao tiếp và quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh
Sự thể hiện các quan điểm này trong sách giáo khoa được thể hiện rất rõ ràng.Các kiến thức học sinh được học đan xen, kiến thức về từ học cùng với kiếnthức về câu, học sinh vừa học miêu tả ở tiết trước, tiết sau lại được làm quen vớiđơn từ Kiến thức ở bài sau được mở rộng hơn so với bài trước Hệ thống kiếnthức được cung cấp chú ý nhiều đến việc rèn kĩ năng giao tiếp nên học sinhkhông những nghe đọc tốt hơn mà viết nói cũng tốt hơn Để giúp cho học sinhtiếp thu tốt những kiến thức đó, giáo viên phải sử dụng nhiều phương pháp dạyhọc, đặc biệt là phương pháp tích cực
2.2.2.2 Mặt hạn chế:
Tuy nhiên, sau một thời gian thực dạy, bản thân tôi cũng nhận thấy những
hạn chế của nội dung chương trình, tuy không lớn nhưng phần nào đã ảnh hưởngđến việc học tập và ghi nhớ kiến thức của học sinh Tôi có thể đưa ra một ví dụnhư sau:
Trong chương trình cũ, bài tìm hiểu về từ láy được học trong 4 tiết, bài tìmhiểu về từ ghép được học trong 4 tiết Tổng cộng là 8 tiết và được học liên tụctrong khoảng 8 tuần Trong chương trình mới, nội dung được tích hợp nên kiếnthức về từ đơn và từ phức được học trong 2 tiết, thêm 2 tiết tìm hiểu về từ ghépphân loại và từ ghép tổng hợp Tổng cộng chỉ có 4 tiết Vì thế khi lên lớp 5,nhiều em đã quên kiến thức này, khi luyện tập thực hành, học sinh đạt kết quảkhông cao Chính vì thế, tôi đã tận dụng các tiết học tăng cường Tiếng Việt, xâydựng một thiết kế bài dạy một cách khoa học nhất nhằm giúp học sinh nắm vữngkiến thức về từ
Vào đầu năm học 2019-2020 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi có phân
Trang 4công cho tôi chủ nhiệm lớp 5B Qua khảo sát chất lượng đầu năm học tôi đã thu
số liệu cụ thể như sau:
2.3 Giải pháp của sáng kiến kinh nghiệm
- Phân biệt từ láy và từ ghép vốn rất phức tạp Bởi vì tiếng Việt có hiệntượng chuyển hóa từ từ ghép nghĩa sang từ láy âm Lại không ít trường hợp khó
phân tích rạch ròi là “ghép” hay “láy” nên đành phải xếp chúng vào các đơn vị
trung gian Cho nên không thể dùng một biện pháp để giải quyết mọi trường
hợp Tuy nhiên, ở sáng kiến kinh nghiệm này tôi cố gắng đưa ra một số cáchnhận diện, phân biệt để giúp các em nắm vững
Cách 1: Láy âm là phương thức cấu tạo riêng của từ tiếng Việt Từ Hán
Việt nói chung không có dạng láy âm (trừ trường hợp yếu tố gốc Hán đã đượcViệt hóa hoàn toàn) Cho nên, nếu biết chắc chắn một từ hai âm tiết là từ HánViệt thì hãy xác định đó là từ ghép chứ không phải là từ láy, dù nhìn bề ngoài nó
có dạng láy âm ngẫu nhiên Ví dụ: cập kê, lãng đãng, tư lự, tử tế…
Cách 2: Ranh giới để phân biệt một từ thuần Việt và một từ láy đôi thuần
Việt là: Ở từ ghép hai âm tiết, cả hai tiếng đều có nghĩa (ví dụ: trai trẻ, chechắn,máu mủ…), còn ở láy đôi thì chỉ có một tiếng gốc là có nghĩa, còn tiếngkia là tiếng láy lại, không có nghĩa hoặc mất nghĩa có trường hợp cả hai thành
yếu tố “vô nghĩa” (ví dụ: bâng khuâng, lẩm cẩm, lã chã…)
Có thể phân biệt tách riêng từng tiếng, nếu mỗi tiếng khi đứng độc lập đều
có nghĩa thì đó là từ ghép (ví dụ: đau đớn, manh mối, lãi lời, hờ hững… nếu chỉmột tiếng gốc có nghĩa thì đó là láy âm Ví dụ: lạnh lùng, làm lụng, phập phồng,lảm nhảm…chỉ có tiếng lạnh, làm, phồng, nhảm…là tiếng gốc có nghĩa
Cách 3: Đảo trật tự các tiếng trong từ Nếu đảo được thì đó là từ ghép (vì
từ láy âm nói chung không đảo được) Ví dụ: đọa đày/đày đọa, gìn giữ/giữ gìn,
mờ mịt/mịt mờ, ngơ ngẩn/ngẩn ngơ, thẫn thờ/thờ thẫn… đều có thể đảo vị trícác tiếng trong từ nên là các từ ghép Các từ: lạnh lùng, tần ngần, ngỡ ngàng, rõràng, thấm thoát, thập thò… là các từ láy âm
Cách này có mặt hạn chế là do quy luật ngữ âm hoặc do người dùng muốntạo ấn tượng mới mẻ, nên một số từ láy âm đích thực cũng đảo được trật tự, ví
Trang 5dụ: nhớ nhung/nhung nhớ da diết/diết da, nhố nhăng/nhăng nhố…nên có thểgây ra nhầm lẫn.
Cách 4: Gặp một số từ phức trong đó có một tiếng nào đó không rõ nghĩa,
nếu thấy tiếng đó xuất hiện trong một số từ phức có tiếng gốc khác nhau, thìthường từ phức đó là từ ghép nghĩa Ví dụ: thành tố rỡ trong các từ: rạng rỡ,mững rỡ, rực rỡ…
2.3.1 Sử dụng tiết tăng tiết để củng cố kiến thức được học trong chương trình chính khoá.
* Vì sao không thể dùng tiết chính khoá để dạy củng cố cho học sinh phầnkiến thức về cấu tạo từ?
Câu hỏi này có thể được lí giải như sau: Các bài học trong nội dungchương trình đã đạt chuẩn về kiến thức cần đạt Giáo viên không được quyền cắtxén thêm bớt hay thay thế Vả lại nếu muốn mở rộng hoặc củng cố cho sâu, chovững cũng không đủ thời gian mà tiết học chính khóa sẽ trở nên nặng nề Vì thếcách giúp giáo viên xử lí tốt nhất là dạy củng cố trong tiết học tăng tiết Đó cũngchính là yêu cầu của việc dạy học 2 buổi/ngày Mặt khác, kiến thức về cấu tạo
từ, các em đã được học ở lớp 4 Việc củng cố mở rộng thêm kiến thức để họcsinh tiếp thu có thể tiếp thu tốt bài học mới là việc làm cần thiết mà giáo viênlớp 5 phải đảm nhận
Sau đây, tôi xin trình bày các thiết kế bài dạy tôi đã áp dụng để củng cốkiến thức về cấu tạo từ cho học sinh lớp 5
2.3.2 Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ láy:
I Mục tiêu:
- Giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học về từ láy.
- Nhận dạng được từ láy
- Tìm được từ láy có cùng một tiếng gốc cho trước
- Biết sử dụng từ láy để viết đoạn văn có nội dung cho trước
II Chuẩn bị:
- 4 lọ hoa trong đó có gắn các thẻ hoa ghi sẵn các kiểu từ láy
- Bảng phụ ghi đoạn văn, bảng phụ ghi kết quả bài làm
III Các hoạt động dạy học:
1 Giới thiệu bài: Giáo viên nêu mục đích yêu
cầu tiết học
2 Bài mới:
Hoạt động 1: Nhận dạng từ láy và từ ghép:
GV treo bảng phụ ghi sẵn nội dung sau:
Xếp những từ được in đậm trong đoạn văn
sau đây vào 2 nhóm: từ láy và từ ghép:
Biển luôn thay đổi theo màu sắc của mây trời.
Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh, như
dâng cao lên chắc nịch Trời âm u , mây mưa,
biển xám xịt, nặng nề Trời ầm ầm giông gió,
- HS lắng nghe
- HS đọc đề và tìm hiểu đề bài
- HS thảo luận nhóm đôi
Trang 6biển đục ngầu giận dữ Như một con người
biết buồn vui, biển lúc tẻ nhạt, lạnh lùng, lúc
sôi nổi, hả hê, lúc đăm chiêu, gắt gỏng.
- Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm
đôi trong thời gian 2 phút
- Yêu cầu HS trình bày kết quả thảo luận
thông qua trò chơi: Ai nhanh hơn
- Giáo viên treo 2 bảng phụ kẻ sẵn 2 nhóm từ
- HS nối tiếp nhau ghi từ vào các cột cho
đúng Đội nào nhanh hơn và đúng sẽ là đội
thắng cuộc
- Giáo viên nhận xét, chấm chữa và công bố
đội thắng
- Giáo viên chốt: Từ phức được chia thành 2
loại: từ láy và từ ghép Từ láy là những từ có
bộ phận của tiếng được láy lại giống nhau Từ
ghép là từ có nhiều tiếng được ghép lại với
nhau để tạo nên một nghĩa chung Từ âm u là
từ láy đặc biệt Đây là từ láy tượng hình
khuyết phụ âm đầu (chỉ có vần)
- Giáo viên yêu cầu HS tìm thêm các từ láy
đặc biệt
Hoạt động 2: Ôn về các kiểu từ láy
- Giáo viên hỏi: Có mấy kiểu từ láy?
- Giáo viên tổ chức trò chơi : Cắm hoa
- Giáo viên xếp lên bàn một giỏ hoa lớn trong
đó có nhiều bông hoa ghi sẵn từ và 4 lọ hoa
đính sẵn các kiểu từ láy trên thành lọ Cho HS
thi cắm hoa vào lọ sao cho mỗi lọ chứa đúng
kiểu từ láy được ghi trên thành lọ hoa
- Cho HS tham gia trò chơi trong 2 phút
- Giáo viên chấm chọn đôị thắng cuộc và đặt
những câu hỏi để học sinh ghi nhớ sự khác
biệt của các kiểu từ láy
Hoạt động 3: Ôn về các dạng từ láy
- Giáo viên: Ngoài số từ láy có 2 tiếng, Tiếng
Việt còn có một số lượng từ láy có 3, 4 tiếng
rất phong phú
- Giáo viên yêu cầu học sinh nêu những từ láy
có 3, 4 tiếng mà học sinh đã biết
- Giáo viên ghi bảng và dưạ vào các từ này để
chốt ý:
Từ láy có 3 tiếng thường được cấu tạo như
sau: A (Tiếng gốc) A’ A’’
- HS tham gia trò chơi
Từ láy từ ghép
âm uxám xịtnặng nề
âm ầm
hả hêlạnh lùng
thay đổimàu sắcđục ngầuxanh thắmmây mưa đăm chiêu
- HS: ồn ào, inh ỏi, ú ớ, êm ái,
Lọ 2: Láy vần: chói lọi, lao xao,khéo léo, lanh chanh…
Lọ 3: Láy âm và vần: cuồncuộn, trăng trắng, im ỉm, timtím…
Lọ 4: Láy tiếng: xanh xanh,đùng đùng, lù lù, vui vui…
- HS nêu
- HS tìm thêm các ví dụ về từláy 3, 4 tiếng có cấu tạo nhưgiáo viên vừa nêu:
- khít khìn khịt, sát sàn sạt, khỏekhòe khoe
Trang 7Ví dụ: xốp xồm xộp, tí tì ti, chút chùn chụt
Từ láy có 4 tiếng được cấu tạo như sau:
Dạng 1: AB’AB: Khập khà khập khiễng, lon
ta lon ton, lủng cà lủng củng
Dạng 2: A A BB: Cười cười nói nói, buồn
buồn vui vui, chi chi chành chành,
Hoạt động 4: Viết đoạn văn khoảng 4,5 câu
có sử dụng từ láy để tả giờ chơi
- Giáo viên cho HS làm bài và tổ chức cho
học sinh trình bày bài làm, sửa chữa theo quy
trình
3 Hoạt động nối tiếp:
Trò chơi: Tìm từ láy có tiếng gốc cho trước
- Giáo viên phát phiếu học tập nhóm cho HS
Yêu cầu các em tìm từ láy có tiếng gốc sau:
vui, nhanh, tròn, xa, trắng
- Nhận xét và tuyên dương nhóm giỏi nhất
- Nhận xét và dặn dò cho tiết ôn tập sau: xem
lại kiến thức về từ ghép
- bổi hổi bồi hồi, hăm hăm hở
hở, vội vội vàng vàng
- HS làm bài cá nhân
- HS tham gia trò chơi:
vui vui, vui vẻ,vui vầynhanh nhanh, nhanh nhẹn,nhanh nhảu
tròn trịa, tròn trĩnh, tròn tròn
xa xa, xa xăm, xa xôitrắng trẻo, trăng trắng
Giáo viên nêu yêu cầu các nhóm thảo luận
2.3.3 Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ ghép.
I Mục tiêu:
- Giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học về từ ghép.
- Nhận dạng được từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại
- Tìm được từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại có cùng một tiếng gốc cho trước
Trang 8- Biết sử dụng từ ghép để viết đoạn văn có nội dung cho trước.
II Chuẩn bị:
- Bảng phụ ghi đoạn văn, bảng phụ ghi kết quả bài làm
III Các hoạt động dạy học:
1 Giới thiệu: GV nêu mục đích yêu cầu tiết
Xếp những từ được in đậm trong đoạn văn
sau đây vào 2 nhóm: từ láy và từ ghép:
Núi đồi , làng bản chìm trong biển mây mù.
Trước bản, rặng đào đã trút hết lá Trên những
cành khẳng khiu đã lấm tấm những lộc non và
lơ thơ những cánh hoa đỏ thắm Lá thông vi
vu một điệu đàn bất tuyệt Xen lẫn vào giữa
những đám lá tai mèo, những nương đỗ,
nương mạch xanh um, trông như những ô bàn
cờ Chốc chốc, một điệu hát Hmông lại vút
lên trong trẻo.
- Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm
đôi trong thời gian 2 phút
- Yêu cầu HS trình bày kết quả thảo luận
thông qua trò chơi: Tiếp sức
- Giáo viên treo 2 bảng phụ kẻ sẵn 2 nhóm từ
HS nối tiếp nhau ghi từ vào các cột cho đúng
Đội nào nhanh hơn và đúng sẽ là đội thắng
cuộc
- Giáo viên nhận xét, chấm chữa và công bố
đội thắng
- Giáo viên chốt ý: Từ láy là những từ có bộ
phận của tiếng được láy lại giống nhau Từ
ghép là từ có nhiều tiếng được ghép lại với
nhau để tạo nên nghĩa chung Trong từ ghép
đỏ thắm vi vutai mèo trong trẻoxanh um
điệu hát
- HS lắng nghe
- HS tìm từ ghép TH và PL
Từ ghép PL Từ ghép THxanh um làng bản
Trang 9- Cho HS trình bày.
- Giáo viên cho HS thảo luận nhóm đôi, trả lời
câu hỏi sau: Tìm những tiếng có nghĩa rõ ràng
trong các từ ghép
- Cho HS trình bày
- Giáo viên hỏi: Dựa vào số lượng tiếng có
nghĩa rõ ràng cuả mỗi từ, em hãy nêu sự khác
nhau của từ ghép tổng hợp và từ ghép phân
loại?
- Cho HS trình bày
- Giáo viên chốt: Các từ ghép tổng hợp
thường có 2 tiếng đều có nghĩa rõ ràng, từ
ghép phân loại thường chỉ có 1 tiếng có nghĩa
rõ ràng, một tiếng mờ nghĩa (không rõ nghĩa),
hoặc cả 2 tiếng đều có nghĩa nhưng tiếng thứ
2 lệ thuộc vào tiếng thứ nhất và giúp cho từ đó
có nghĩa phân biệt
Ví dụ: xanh um, đỏ thắm, vàng hoe; um, hoe,
thắm là những tiếng nghĩa không rõ ràng
nhà sàn, đường phèn, hạt tiêu, tai mèo, điệu
hát: sàn, phèn, tiêu, mèo, hát là những tiếng
giúp phân biệt nghĩa với các từ khác như: nhà
lầu, đường cát, hạt mưa, tai tượng, điệu múa
- GV treo bảng phụ ghi sẵn các từ:
vui tính, cao cờ, đau lòng.
mây mưa, sướng vui, cao thấp
- Yêu cầu HS xác định từ loại của mỗi tiếng
trong từ và chỉ ra sự khác biệt giữa từ ghép
phân loại và từ ghép tổng hợp
- Cho HS trình bày
- Giáo viên chốt:
- Từ ghép tổng hợp: thường có 2 tiếng cùng
từ loại và có thể đổi vị trí cho nhau mà
nghĩa của từ không thay đổi: bản làng, làng
bản, núi đồi, đồi núi, sướng vui, vui sướng,
cao thấp, thấp cao Hai tiếng trong từ ghép
tổng hợp thường là hai từ cùng nghĩa (gần
nghĩa) như: vui sướng, đau khổ, xe cộ, xinh
đẹp hoặc trái nghĩa nhau như: xa gần, cao
thấp, lớn bé, trẻ già
- Từ ghép phân loại: Thường có 2 tiếng khác
từ loại (Trừ trường hợp từ ghép phân loại là
danh từ như: nhà sàn, nhà ngói, đất cát, đất
đỏ thắm núi đồitai mèo
điệu hát
- HS gạch chân từ có tiếng có nghĩa rõ ràng trong từ ghép
Từ ghép PL Từ ghép TH
xanh um làng bản
đỏ thắm núi đồi tai mèo
điệu hát
- HS lắng nghe
vui tính: động + danh cao cờ : tính + danhđau lòng: động + danhmây mưa: danh + danhsướng vui: động + độngcao thấp: tính + tính
Trang 10HS trình bày và giáo viên chốt ý:
* Có thể dựa vào cấu tạo của từ để phân biệt
từ ghép tổng hợp và phân loại
Hoạt động 4: Viết đoạn văn:
- Giáo viên yêu cầu học sinh viết 1 đoạn văn
có sử dụng từ ghép phân loại và từ ghép tổng
hợp, gạch chân dưới các từ ghép đã dùng
- Giáo viên gọi 1 số em đọc bài làm của mình
và tổ chức nhận xét chấm chữa
3.Hoạt động nối tiếp:
Hỏi: Có mấy cách giúp ta phân biệt từ ghép
phân loại và từ ghép tổng hợp?
Nhận xét tiết học và dặn dò chuẩn bị bài sau
HS làm bàiTiếng gốc
Từ ghép TH
Từ ghép PL
1, Dựa vào nghĩa
2, Dựa vào cấu tạo cuả từ
Hình ảnh học sinh thảo luận nhóm