Việc sử dụng những câu hỏi này yêu cầu học sinh phải dùng tri thức đã biết để tìm tòi phát hiện tri thức mới hoặc phải tổng hợp, bao quát tri thức trên nhiều lĩnh vực, phải trăn trở suy
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Môn Ngữ Văn ở trường THPT nói chung, ở chương trình Ngữ Văn 12 nói riêng là sự tích hợp ba phân môn: Đọc Văn, Tiếng Việt và Làm Văn Mỗi phân môn có vai trò, nhiệm vụ và vị trí khác nhau trong việc trang bị tri thức khoa học, rèn luyện kỹ năng và bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, thái độ cho học sinh Trong đó, phân môn Đọc Văn, nhất là các giờ đọc- hiểu Văn bản văn học (VBVH) có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm
và năng lực thẩm mỹ cho học sinh
Tuy thế, trong một số năm gần đây, không khí và hiệu quả dạy- học Ngữ Văn, bao gồm cả dạy- học phân môn Đọc Văn và các giờ đọc- hiểu văn bản văn học ở nhiều nhà trường thực sự không được như mong muốn của cả người dạy lẫn người học Không khí nhiều giờ đọc- hiểu trở nên tẻ nhạt, nặng nề, “thiếu lửa” Nhiều giáo viên dạy cho hoàn thành nhiệm vụ còn học sinh thì thụ động, lười đọc, lười suy nghĩ, ngại phát biểu xây dựng bài hoặc nếu bị buộc phát biểu thì trả lời cho qua chuyện Khi làm văn, học sinh viết những câu văn, bài văn nghèo nàn, ngô nghê về ý tứ, lủng củng trong diễn đạt Hiệu quả dạy học Ngữ Văn, vì thế, bị ảnh hưởng nghiêm trọng Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này có nhiều: nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan; nguyên nhân từ phía giáo viên, nguyên nhân từ phía học sinh
1.2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong tác phẩm Vợ chồng A – Phủ của
Tô Hoài ở chương trình Ngữ văn lớp 12, THPT
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Ở trường THPT Vĩnh Lộc, một số lớp chất lượng đầu vào của học sinh thấp nên dù chương trình sách giáo khoa (SGK) Ngữ Văn mới, trong đó có SGK Ngữ Văn lớp 12 chứa đựng tiềm năng to lớn cho việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề Việc sử dụng những câu hỏi yêu cầu học sinh phải dùng tri thức đã biết để tìm tòi phát hiện tri thức mới hoặc phải tổng hợp, bao quát tri thức trên nhiều lĩnh vực, phải trăn trở suy ngẫm để mở rộng, xoáy sâu vấn đề hoặc vận dụng, liên hệ văn bản văn học vào thực tế xã hội, thực tiễn đời sống lại càng khiêm tốn Nhiều đồng nghiệp của tôi vẫn không đủ kiên nhẫn để sử dụng một cách tối đa câu hỏi
đó trong các giờ đọc- hiểu Họ thường ưu tiên sử dụng những câu hỏi có tính
chất tái hiện kiến thức như: Dựa vào sách giáo khoa tóm tắt những nét cơ bản
về tác giả, tác phẩm; tìm dẫn chứng làm rõ những luận điểm do giáo viên nêu sẵn về nội dung, nghệ thuật của văn bản văn học, Nếu có dùng câu hỏi nêu vấn đề thì thường là những câu hỏi đơn giản, các dạng câu hỏi nêu vấn đề cũng không phong phú, đa dạng Thậm chí, có giáo viên chưa biết khai thác, tận dụng triệt để và linh hoạt các câu hỏi nêu vấn đề có sẵn trong SGK
Việc sử dụng những câu hỏi này yêu cầu học sinh phải dùng tri thức đã biết
để tìm tòi phát hiện tri thức mới hoặc phải tổng hợp, bao quát tri thức trên nhiều lĩnh vực, phải trăn trở suy ngẫm để mở rộng, xoáy sâu vấn đề hoặc vận dụng, liên hệ văn bản văn học vào thực tế xã hội, thực tiễn đời sống lại càng khiêm tốn Trong dạy học Ngữ Văn, đọc-hiểu văn bản văn học thực chất là tiếp nhận,
Trang 2
giải mã văn học nhìn từ phương diện con đường- hiệu quả (đọc- hiểu) Trong giờ Đọc- hiểu văn bản văn học ở trường THPT, đối tượng tiếp nhận chính là học sinh
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
1.4.1 Phương pháp điều tra
- Thu thập những thông tin về việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề
- Thu thập những thông tin ngược của học sinh về việc học tác phẩm
ở chương trình
1.4.2 Thực nghiệm sư phạm
Vận dụng câu hỏi nêu vấn đề để dạy tác phẩm
1.4.3 Phương pháp thống kê
Sử dụng một số phương pháp như lập bảng, vẽ đồ thị, kiểm định để đánh giá kết quả thực nghiệm
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
Quan niệm về đọc- hiểu VBVH Đọc- hiểu VBVH là khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu về phương pháp dạy- học Văn quan tâm như GS Phan Trọng Luận, TS Đỗ Ngọc Thống, GS-TS Đỗ Thanh Hùng,GS-TS Trần Đình Sử Theo
TS Đỗ Ngọc Thống, “ Đọc-hiểu văn bản bao gồm cả việc thông hiểu nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được vai trò, tác dụng của các hính thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, cái thông điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết và cả những giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật Đọc văn theo tinh thần đó là toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải mã văn bản(kể cả việc hiểu
và cảm thụ ” (Đỗ Ngọc Thống, 2003, “Chương trình Ngữ văn THPT và việc
hình thành năng lực văn học cho học sinh”, Tạp chí Gd số 66, trang 26-28)
Câu hỏi nêu vấn đề có tác dụng to lớn, nó phát huy tính tích cực, độc lập suy nghĩ, tính chủ động tìm tòi, sáng tạo, kích thích hứng thú, say mê, lôi cuốn các
em vào quá trình tìm hiểu sâu, khám phá các tầng nghĩa bên trong, các điểm sáng thẩm mỹ, thưởng thức cái hay, cái đẹp và trực tiếp tham gia vào quá trình biến văn bản văn học thành tác phẩm văn học với sự sáng tạo của riêng mình Quan trọng hơn, các em được hình thành và rèn luyện khả năng tự tiếp nhận, tự đánh giá, phân tích văn bản văn học theo quan điểm của riêng mình Ngoài ra,
nó còn có tác dụng thôi thúc các em tìm hiểu thêm nhiều tư liệu lên quan đến văn bản được học
2.2 Thực trạng vấn đề.
Qua hoạt động dự giờ các đồng nghiệp khá thường xuyên, tôi nhận thấy một trong rất nhiều lý do khiến học sinh không mấy hứng thú và mặn mà với các giờ đọc- hiểu văn bản văn học là khá nhiều giáo viên văn chưa sử dụng được hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài đủ sức lôi cuốn học sinh tham gia giờ học với tinh thần chủ động, tích cực và say mê Cá biệt, có giáo viên thường xuyên nêu những câu hỏi không đạt yêu cầu về tính khoa học, tính sư phạm khiến học sinh
và đôi khi cả giáo viên dự giờ cũng không biết phải trả lời như thế nào
Xuất phát từ thực tế đó, với mong muốn làm cho học sinh chủ động, tích cực hơn; làm cho giờ dạy –học đọc hiểu sôi nổi, hào hứng và phát huy tốt hơn ưu thế của loại giờ học này nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ
Trang 3
Văn, tôi đã thực nghiệm giờ đọc- hiểu văn bản" Vợ chồng A.Phủ " bằng câu hỏi nêu vấn đề và nhận thấy đây là hướng đi rất khả quan
2.3 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài.
2.3.1 Các nguồn CHNVĐ giáo viên có thể khai thác, sử dụng.
2.3.1.1 CHNVĐ Sách giáo khoa (SGK)và các tư liệu tham khảo liên quan là
những nguồn khá gần gũi với giáo viên Với nguồn là SGK, giáo viên có thể sử dụng nguyên si những câu hỏi sẵn có trong phần hướng dẫn học bài hoặc xử lý những câu hỏi nêu vấn đề của phần hướng dẫn học bài bằng cách cụ thể hóa và điều chỉnh yêu cầu của các câu hỏi theo hướng vừa bán sát mục tiêu dạy học vừa phù hợp với đối tượng học sinh của mình để đưa vào sử dụng
Với nhiều văn bản văn học khác (Văn học Việt Nam), câu hỏi nêu vấn đề của
phần hướng dẫn học bài trong SGK thường đặt ra những vấn đề quá lớn, có tính khái quát, tổng hợp cao mà hầu hết các học sinh không dễ tìm ra câu trả lời
Trong trường hợp này, giáo viên phải sử dụng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề có tính dẫn dắt, gợi mở để các em tìm hiểu từng khía cạnh cụ thể của vấn đề được nêu, sau đó tổng hợp lại dưới dạng câu trả lời khái quát
Ví dụ - để học sinh trả lời được câu hỏi “Số phận và tính cách nhân vật Mỵ qua cảnh ngộ bị bắt về làm dâu gạt nợ, cuộc sống bị đọa đày tủi cực ở nhà thống lý Pá Tra; diễn biến tâm trạng và hành động” (Hướng dẫn học bài- văn
bản "Vợ chồng A Phủ", tác giả Tô Hoài), giáo viên nên thiết kế các CHNVĐ
nhỏ hơn, cụ thể hơn, hướng các em đến việc phân tích nhân vật trên những
phương diện khác nhau (Trước khi bị bắt về làm dâu nhà Thống lý Pá Tra, Mị
là cô gái như thế nào? Vì sao Mị phải làm con dâu gạt nợ? Khi trở thành con dâu gạt nợ, Mị bị đày đọa như thế nào về thể xác và tinh thần? Phản ứng của
Mỵ trước cuộc sống tủi nhục đó? Trong đêm tình mùa xuân, tâm trạng Mị có sự thay đổi như thế nào? Những yếu tố nào đã tác động và làm nên sự thay đổi đó? Qua đó, em cảm nhận thêm được điều gì về nhân vật Mỵ? Trong đêm cởi trói cho A Phủ, tâm lý Mị diễn biến như thế nào? Vì sao Mỵ cởi trói và chạy theo A Phủ? Qua đó hãy đưa ra nhận xét của riêng em về cuộc đời, số phận và những đặc điểm nổi bật về con người Mỵ?) ,…
2.3.1.2 Ngoài những câu hỏi nêu vấn đề có sẵn trong SGK Ngữ Văn, giáo viên có thể sử dụng những câu hỏi nêu vấn đề do bản thân thiết kế, tự xây dựng bằng kinh nghiệm giảng dạy, vốn kiến thức văn học, đời sống, xã hội hoặc dựa vào tư liệu tham khảo các loại.
Ví dụ trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, nhân vật Mị khi bị bắt về làm dâu nhà thống lí Pá Tra đã có ý định tự tử vì quá uất ức Vì thương cha nên Mị không nỡ chết Nhưng sau một thời gian, khi cha Mị chết rồi, Mị không còn nghĩ đến cái chết nữa mà chấp nhận thân phận làm dâu gạt nợ
Giáo viên có thể đặt câu hỏi: Tại sao lúc này Mị không nghĩ đến cái chết nữa?
Khi đứng trước câu hỏi như vậy, học sinh sẽ có sự ngạc nhiên: Vì sao cùng một nhân vật lại nẩy sinh mâu thuẫn như vậy? Chính sự ngạc nhiên đó sẽ thúc đẩy học sinh suy nghĩ, tìm tòi và lí giải Đó là khi Mị muốn chết, Mị vẫn còn
là một cô gái trẻ trung, xinh đẹp, có khát vọng sống, khát khao hạnh phúc Mị muốn chết càng chứng tỏ cô có khát vọng hạnh phúc mãnh liệt, không chấp nhận kiếp sống nô lệ, không có hạnh phúc Nhưng khi cha chết rồi, Mị lại
Trang 4
không nghĩ đến cái chết Bởi lúc đó, ở lâu trong cái khổ, Mị quen rồi Sự chà đạp, áp chế của cha con thống lí đã khiến cho Mị tê liệt về ý thức, trở nên vô cảm, câm lặng và chấp nhận kiếp sống nô lệ
2.3.2 Các dạng câu hỏi nêu vấn đề tiêu biểu.
Tôi thường dùng 2 dạng tiêu biểu là: Câu hỏi “vì sao” và câu hỏi “như thế nào?”
2.3.2.1 Dạng câu hỏi “Vì sao?” Dạng câu hỏi này yêu cầu học sinh giải thích,
tìm hiểu nguyên nhân, từ đó tìm ra bản chất của vấn đề Đây là dạng câu hỏi khá
khó vì để trả lời, học sinh phải nắm thật chắc vấn đề đang tìm hiểu Ngoài ra, các em phải có vốn kiến thức sâu, rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau; có tư duy lôgic và đôi khi phải có cả sự nhạy cảm văn học nhất định Với dạng câu hỏi này học sinh có thể bám sát VBVH đang được tìm hiểu hoặc có thể vận dụng những kiến thức bên ngoài văn bản để tìm câu trả lời
Ví dụ, với giờ đọc-hiểu VBVH "Vợ chồng A Phủ", tác giả Tô Hoài (SGK
Ngữ Văn 12, tập II), để làm rõ sự cam chịu, gần như tê liệt sức sống, sức phản kháng của Mỵ khi làm con dâu gạt nợ trong nhà Thống lý hoặc để làm rõ sức sống tiềm tàng, sức phản kháng mãnh liệt của Mỵ trong đêm mùa xuân và đêm
cởi trói cho A Phủ, ta nên sử dụng dạng câu hỏi này Vì sao khi mới bị bắt về làm dâu nhà thống lý Pá Tra, Mỵ muốn ăn lá ngón để tự tử nhưng khi cha chết,
dù vẫn phải sống tủi nhục trong nhà thống lý, Mỵ lại không còn ý nghĩ đó? Vì sao trong đêm mùa xuân, khi ký ức tuổi trẻ trở lại Mỵ nghĩ “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mỵ sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa Tuy khi sử dụng, chúng ta nên cân nhắc về mật độ dùng, độ khó của câu
hỏi và khả năng của từng đối tượng học sinh, nên ưu tiên cho học sinh khá giỏi trả lời những câu hỏi dạng này
2.3.2.2 Dạng câu hỏi “như thế nào?” Đây là dạng câu hỏi yêu cầu học sinh
nêu cảm nhận, quan niệm, suy nghĩ, nhận thức, hiểu biết, ý kiến cá nhân về văn bản văn học được đọc- hiểu Đối với các giờ đọc hiểu văn bản văn học, do đặc
thù của môn Ngữ Văn, do đặc điểm riêng có của các văn bản nghệ thuật nên giáo viên cần sử dụng triệt để dạng câu hỏi này để tạo điều kiện cho học sinh thể hiện cảm nhận, suy nghĩ của riêng mình Cùng với câu hỏi Vì sao, câu hỏi yêu cầu học sinh nêu ý kiến cá nhân về văn bản văn học được đọc- hiểu cũng là dạng câu hỏi mở có tác dụng thiết thực đối với giờ học Trong thực tiễn tổ chức các giờ đọc- hiểu văn bản văn học, tôi thường xuyên sử dụng dạng câu hỏi này theo hai hướng sau:
- Giáo viên yêu cầu học sinh nêu quan niệm cá nhân xuất phát từ bản thân văn bản được đọc- hiểu Cụ thể là giáo viên sẽ thiết kế và sử dụng những câu hỏi để học sinh được bày tỏ ý kiến của mình về tất cả các yếu tố thuộc nội dung và hình thức nghệ thuật của văn bản văn học được đọc- hiểu Dạng câu hỏi này có thể được sử dụng thường xuyên
Ví dụ: - Ấn tượng sâu sắc nhất của em nhân vật A.Phủ trong “Vợ chồng
A.Phủ” của Tô Hoài?
- Giáo viên yêu cầu học sinh nêu quan điểm cá nhân xuất phát từ những ý kiến thuận chiều hoặc ngược chiều về văn bản văn học được đọc- hiểu
Trang 5
Văn bản văn học có tính đa nghĩa Việc tiếp nhận phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố như tuổi tác, giới tính, vốn văn hóa, kinh nghiệm sống, trình độ học vấn, tầm đón nhận của người đọc Điều đó giải thích vì sao cùng một câu thơ, cùng một văn bản nhưng có nhiều cách hiểu, nhiều quan niệm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Chính vì thế, khi tổ chức giờ đọc- hiểu cho học sinh, người giáo viên không thể không yêu cầu học sinh nêu quan điểm cá nhân xuất phát từ những ý kiến thuận chiều hoặc ngược chiều về văn bản văn học được đọc- hiểu Việc làm này có tác dụng mở rộng, khắc sâu kiến thức cho học sinh hoặc định
hướng để học sinh hiểu và tiếp nhận một cách phù hợp Để thiết kế và đưa vào
sử dụng những câu hỏi này, giáo viên Văn phải tích cực nghiên cứu về văn bản văn học được đọc- hiểu; tìm hiểu các nguồn tài liệu liên quan; sàng lọc, chọn lựa những tư liệu tin cậy để sử dụng
2.3.3 Cách sử dụng câu hỏi nêu vấn đề trong giờ đọc- hiểu một VBVH
Ở mỗi giai đoạn khác nhau của tiến trình đọc- hiểu, giáo viên đều có thể sử dụng các dạng CHNVĐ cho từng bài cụ thể
2.3.3.1 CHNVĐ cho phần tìm hiểu về xuất xứ, hoàn cảnh ra đời của văn bản văn học hoặc đoạn trích
Với phần xuất xứ và hoàn cảnh ra đời của văn bản văn học hoặc đoạn trích, giáo viên thường có xu hướng sử dụng câu hỏi tái hiện và học sinh chủ yếu dựa
vào sách giáo khoa để giới thiệu Tuy nhiên có những trích đoạn, những văn bản
mà tự thân hoàn cảnh ra đời và xuất xứ của nó đã chứa đựng rất nhiều ý nghĩa, hoặc có giá trị gợi mở đối với việc tìm hiểu, khám phá về nội dung, tư tưởng của toàn văn bản Đối với những trường hợp này, việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề
không chỉ cần thiết mà còn rất hữu ích
2.3.3.2 CHNVĐ cho phần tìm hiểu về bố cục VBVH
Việc phân chia bố cục văn bản văn học trong giờ đọc- hiểu là cần thiết vì nó tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình tìm hiểu nội dung, nghệ thuật của văn bản
Do đó, chúng ta không nên bỏ qua bước này Câu hỏi sử dụng cho phần tìm hiểu
về bố cục văn bản văn học được đọc- hiểu cũng rất đa dạng, phong phú, bao gồm cả hai dạng mà tôi đã trình bày ở trên
Ví dụ:
- Vì sao có thể chia văn bản “Vợ chồng A Phủ” thành các đoạn: Đoạn 1 :
Từ đầu đến “Mị đành trở lại nhà Thống lý” (tr 06); Đoạn 2: Tiếp theo đến “Vì thế mà sinh sự đánh nhau ở Hồng Ngài” (tr 13); Đoạn 3: Còn lại
Dự kiến trả lời: Việc chia thành 3 đoạn như trên là căn cứ vào diễn biến trong
cuộc đời, số phận và tâm lý của nhân vật Mỵ Đoạn 1: Mỵ trước khi về làm dâu nhà Pá Tra Đoạn 2: Cuộc đời làm dâu tủi nhục và sự hồi sinh của Mỵ trong đêm mùa xuân Đoạn 3: Sức sống và sự phản kháng quyết liệt để tự giải thoát của Mỵ trong đêm cởi trói cho A Phủ)
2.3.3.3 CHNVĐ cho phần tìm hiểu về nhan đề và tình huống truyện
Đối với những văn bản mà ngay nhan đề hoặc tình huống truyện đã chứa đựng hoặc bao quát tư tưởng, quan niệm nghệ thuật của người sáng tác thì khi tổ chức giờ đọc- hiểu văn bản văn học, giáo viên nên dành thời gian thỏa đáng để hướng dẫn học sinh tìm hiểu chúng bằng những câu hỏi nêu vấn đề Việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề để tìm hiểu ý nghĩa nhan đề hoặc tình huống truyện
Trang 6
trong giờ đọc- hiểu nên bám sát các bước: Tìm hiểu nghĩa gốc của những từ, cụm từ được sử dụng làm nhan đề hoặc gọi tên tình huống truyện được xây dựng trong văn bản Đặt nhan đề đó vào bối cảnh, tình huống truyện để tìm hiểu ý nghĩa ẩn dụ, tượng trưng Khai thác giá trị của nhan đề hoặc tình huống
đó đối với việc thể hiện nội dung, tư tưởng của văn bản văn học
2.3.3.4 CHNVĐ cho phần tìm hiểu về nội dung, nghệ thuật.
Trong văn bản văn học, nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật gắn bó mật thiết, hữu cơ với nhau Nội dung biểu hiện qua hình thức và hình thức lại chứa đựng nội dung - “Hình thức mang tính quan niệm” Vì thế khi tìm hiểu, phân tích một văn bản văn học, chúng ta thường đi từ nghệ thuật đến nội dung, khám phá nội dung qua nghệ thuật Việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề trong bước này của tiến trình đọc-hiểu cũng hướng vào các yếu tố nghệ thuật để khám phá nội dung, tư tưởng của văn bản văn học Câu hỏi nêu vấn đề cần nhắm đến các cấp độ ngữ- nghĩa của văn bản văn học như ngữ âm, từ ngữ, hình ảnh, chi tiết, các “điểm sáng thẩm mỹ”, các “mâu thuẫn nghệ thuật”, cú pháp, kết cấu
- Cấp độ ngữ âm: Trong nhiều VBVH, yếu tố ngữ âm của ngôn ngữ được người nghệ sĩ dụng công khai thác nhằm đem lại hiệu quả biểu đạt về nội dung cũng như tạo âm hưởng và nhạc điệu cho câu thơ, câu văn Do vậy, khi hướng dẫn
học sinh tìm hiểu VBVH, giáo viên cần chú ý đến vấn đề này
Ví dụ: Các chi tiết “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào
đĩa đèn cho sáng, Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách” đem lại cho em cảm nhận gì về nhân vật Mỵ trong đêm mùa xuân ở Hồng
Ngài? (Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài)
Dự kiến trả lời: Các chi tiết cho thấy Mị đang được hồi sinh bởi không khí của
những đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài Hình ảnh cô Mị mất hết ý niệm về thời gian, về cuộc sống, về bản thân mình đã được thay thế bởi một cô Mị yêu đời, tâm hồn trẻ trung, đầy sức sống và có ý thức về chính bản thân mình
- Cấp độ cú pháp: Ngôn ngữ nghệ thuật thường cô đọng, hàm súc, lời ít ý nhiều,
“ý tại ngôn ngoại”, ngôn tận ý bất tận Vì vậy, trong khi khám phá các giá trị của văn bản văn học, ngoài việc dùng câu hỏi nêu vấn đề để tìm hiểu các cấp độ ngữ- nghĩa nêu trên, có lúc chúng ta phải dùng câu hỏi nêu vấn đề để cắt nghĩa,
lý giải ý tứ của những câu thơ cụ thể
Văn bản văn học là kết quả sáng tạo của người nghệ sĩ Nó thể hiện quan niệm, sự lý giải cuộc sống theo cách riêng của nhà văn Các điểm sáng thẩm
mỹ, các tình huống có vấn đề, các mâu thuẫn nghệ thuật do tác giả dày công tạo tác trong văn bản văn học không nằm ngoài mục đích đó Điểm sáng thẩm mỹ
có thể là một hình ảnh, một từ “nhãn tự”, một thủ pháp nghệ thuật, một cấu trúc độc đáo, trong văn bản văn học
Ví dụ: Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng trong đoạn kết của Vợ nhặt, hình ảnh ô cửa
số bằng bàn tay trong Vợ chồng A Phủ, hình ảnh bàn tay Tnú trong Rừng Xà nu, đều là những điểm sáng thẩm mỹ mà giáo viên có thể hướng dẫn học sinh
khám phá bằng các câu hỏi nêu vấn đề Chẳng hạn: Hình ảnh ô cửa sổ bằng bàn tay trong căn buồng của Mị ở nhà Thống lý Pá Tra đem lại cho em cảm nhận gì? (Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài)
Trang 7
Dự kiến trả lời: Ô cửa sổ bằng bàn tay trong căn buồng của Mị là kênh duy
nhất nối Mị với thế giời bên ngoài khi cô đã hoàn thành công việc như một cỗ máy lao động Nhưng khi nhìn qua ô cửa đó Mị “chỉ thấy trăng trắng, không biết
là sương hay là nắng” Ô cửa gợi người ta liên tưởng căn buồng Mị ở như một thứ ngục thất tinh thần giam hãm cuộc đời, tuổi xuân của Mị Nó làm tăng thêm nỗi đau và số phận bi thảm của cô khi ở Hồng Ngài
Tình huống có vấn đề trong văn bản văn học được hiểu là những tình huống đem lại nhiều cách cảm, cách nghĩ, cách tiếp nhận khác nhau, có thể trái ngược nhau hoặc những tình huống chứa đựng vấn đề nghịch lý, mâu thuẫn, Việc tìm hiểu các tình huống này sẽ giúp người đọc, người học tìm thêm con đường đến với những thông điệp tác giả gửi vào văn bản văn học
2.3.3.5 CHNVĐ cho phần rút ra chủ đề và kết luận chung về văn bản văn học hoặc ứng dụng, liên hệ VBVH với thực tiễn đời sống
Hầu hết chủ đề của các văn bản văn học hoặc những kết luận có tính chất tổng kết đều được rút ra từ quá trình tìm hiểu, khám phá văn bản một cách khá đầy đủ và toàn diện Vì thế, để xác định chủ đề và đưa ra kết luận chung về một văn bản, chúng ta không thể sử dụng câu hỏi tái hiện kiến thức Giáo viên cần tung ra những câu hỏi nêu vấn đề đòi hỏi khả năng tổng hợp, khái quát cao của học sinh
Dưới đây là mô hình câu hỏi cho bài: Vợ chồng A.Phủ
MÔ HÌNH CÂU HỎI TRONG TÁC PHẨM “VỢ CHỒNG A PHỦ -Tô Hoài -
A MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1 Kiến thức:
- Hiểu được cuộc sống cực nhục, tối tăm và quá trình đồng bào vùng cao Tây Bắc vùng lên tự giải phóng khỏi ách áp bức, kìm kẹp của bọn thực dân và chúa đất thống trị
- Thấy được nghệ thuật trần thuật linh hoạt, lời văn tinh tế, giàu chất thơ và đậm màu sắc dân tộc của tác phẩm; những đóng góp của nhà văn trong việc khắc họa tính cách nhân vật, sự tinh tế trong diễn tả cuộc sống nội tâm, sở trường quan sát những nét riêng về phong tục, tập quán và lối sống của người Mông
2 Kĩ năng:
Đọc hiểu và phân tích một truyện ngắn
3 Thái độ:
Trong mỗi con người đều tiềm tàng một sức sống mãnh liệt,phải tự cứu lấy mình khi gặp bước đường cùng.Hãy yêu thương đùm bọc lẫn nhau trong khó khăn hoạn nạn
4 Định hướng hình thành năng lực:
- Phân tích
- Tư duy, khái quát
- Hiểu biêt
Trang 8
B TIẾN TRÌNH BÀI DẠY:
1 Đặt vấn đề:
Tổ chức học sinh tìm hiểu tiểu dẫn
-Xem ảnh Tô Hoài
Câu hỏi: Dựa vào sách giáo khoa và tư liệu tham khảo, học sinh nêu ngắn gọn
những điều em biết về cuộc đời, đặc điểm nhà văn Tô Hoài?
Câu hỏi: Hoàn cảnh ra đời và xuất xứ của tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”?
Tác giả:Tô Hoài sinh năm 1920, trong một gia đìnhthợ thủ công ngoại thành Hà
Nội Bước vào tuổi thanh niên, ông đã phải làm nhiềucông việc để kiếm sống như dạy trẻ, bán hàng, kế toán hiệu buôn,… nhưng có những lúc thất nghiệp Khi đến với văn chương, ông nhanh chóng được người đọc chú ý, nhất là qua truyện Dế Mèn phiêu lưu ký Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc Trong chiến tranh Đông Dương
Từ năm1954 trở đi, ông có điều kiện tập trung vào sáng tác Tính đến nay, sau hơn sáu mươi năm lao động nghệ thuật, ông đã có hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện dài kỳ, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác
Sáng tác của Tô Hoài thiên về những sự thật của đời thường ông có vốn hiểu biết phong phú sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng đất khác nhau và
có lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động hấp dẫn người đọc
Tác phẩm:
Hoàn cảnh ra đời:
Năm 1952, Tô Hoài theo bộ đội vào giải phóng Tây Bắc Trong chuyến đi dài tám tháng này, ông đã sống gắn bó nghĩa tình với đồng bào dân tộc vùng cao Tây Bắc Năm 1953, ông viết thành công tập truyện Tây Bắc gồm 3 truyện: Cứu đất cứu mường, Mường Giơn và Vợ chồng A Phủ Tập truyện được giải nhất của Hà Nội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955
Nội dung cốt truyện của tác phẩm:
Tác phẩm kể về cuộc đời tăm tối,khổ nhục của 2 nhân vật Mị và APhủ dưới sự đàn áp bóc lột của bọn chúa đất và thực dân
Bằng sức sống tiềm tàng và khát vọng tự do mãnh liệt, họ đã tự giải thóat, đến với cách mạng, tham gia du kích góp phần giải phóng quê hương
Câu hỏi: Từ nội dung cốt truyện của Vợ chồng Aphủ, em hãy cho biết chủ
đề của tác phẩm?
Chủ đề: Qua việc phản ánh cuộc sống khổ cực, tối tăm của người dân lao động miền núi Tây Bắc dưới ách thống trị của bọn thực dân và chúa đất phong kiến
Tô Hoài thể hiện lòng thông cảm và sự trân trọng những khát khao tự do và ý thức tự giải phóng của họ
Đề tài: đề tài miền núi
Câu hỏi: Các sáng tác của Tô Hoài thiên về diễn tả điều gì?
Các sáng tác của Tô Hoài thiên về diễn tả những sự thật của đời thường Ông có vốn hiểu biết phong phú và sâu sắc về phong tục, tập quán của nhiều vùng khác nhau trên đất nước ta
Câu hỏi: Vì sao tác phẩm của ông thu hút người đọc?
Trang 9
Tác phẩm của ông thu hút người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trải, vốn từ vựng giàu có
C TRIỂN KHAI BÀI DẠY:
*HĐ 1: Học sinh đọc thầm truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”.
*HĐ 2: Nhân vật Mị.
– Nhân vật tiêu biểu cho số phận những người phụ nữ nghèo khổ
– Chịu ách nặng của đồng tiền nghèo đói
– Chịu ách nặng của cường quyền bạo lực
– Chịu ách nặng của thần quyền
Câu hỏi: Trước khi về nhà thống lí Pá – Tra , Mị là con người như thế nào?
– Mị là người con gái trẻ đẹp, khát khao tự do, tình yêu, hạnh phúc – Tài hoa “thổi lá hay như thổi sáo”
– Chăm chỉ lao động, không tham giàu “con nay đã đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố Bố đừng bán con cho nhà giàu.” – Hiếu thảo: không nỡ chết khi chưa trả hết nợ thay cho bố
Mị tiêu biều cho vẻ đẹp của người con gái miền núi, xứng đáng hưởng hạnh phúc Nhưng “bông hoa ban tinh khiết” của núi rừng Tây Bắc ấy lại bị nhấn chìm trong kiếp sống tôi đòi-khổ nhục
Câu hỏi: Vì sao Mị phải làm con dâu nhà thống lí Pá – Tra?
Vì bố mẹ Mị không trả nổi món tiền vay nhà thống lí Để cứu nạn cho cha,
Mị phải chịu bán mình, chịu cảnh làm con dâu gạt nợ, bị cha con thống lí chiếm đoạt sức lao động, nhan sắc và cả cuộc đời ngưười con gái Danh nghĩa là con dâu nhưng thực chất cô làm nô lệ Sống trong nhà thống lí, Mị phải cam nhận tôi đòi, làm lụng vất vả suốt ngày đêm không bằng con trâu, con ngựa
Câu hỏi: Cuộc sống và tinh thần của Mị như thế nào khi trở thành con dâu gạt nợ trong nhà thống lí Pá – Tra?
Danh nghĩa là con dâu nhưng thật sự là nô lệ, danh nghĩa là vợ chồng vớ A
Sử nhưng không hạnh phúc Mị bị bốc lột sức lao động một cách tàn nhẫn, làm việc cả ngày lẫn đêm
Về tinh thần: Cô không có một niềm vui nào trên mặt, lúc nào cũng buồn rười
rượi, lặng câm “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” Căn buồng của Mị nằm
diễn tả tuyệt hay về một thứ ngục thất tinh thần, nó không giam hãm thân xác
Mị nhưng nó tách li Mị với cuộc đời, nó cầm cố tuổi xuân và ước mơ của Mị
Câu hỏi: Mị đã từng muốn chết nhưng cô không thể chết, vì sao lại như vậy? Đến lúc cô có thể chết nhưng cô lại không chết, hãy làm rõ điều đó?
Mị đã từng muốn chết nhưng cô không thể chết vì món nợ của cha vẫn còn Nhưng đến lúc cô có thể chết, vì cha cô không còn nữa thì Mị lại buông xuôi, kéo dài mãi một sự tồn tại vật vờ Chính lúc này Mị mới đáng thương hơn vì đã không thiết chết thì có nghĩa là sự tha thiết với cuộc sống cũng không còn, lúc
đó Mị chỉ là cái xác không hồn
Câu hỏi: Sức sống của Mị trỗi dậy khi nào?
Phải chăng cuộc sống của Mị đã vĩnh viễn mất đi ? Bên trong “con rùa lùi lũi” kia đang có một con người, người con gái bất hạnh này vẫn tiềm tàng một
sức sống bền bỉ, mãnh liệt, khát vọng hạnh phúc lớn lao, khi gặp cơ hội thuận
Trang 10
lợi, sức sống đó lại trỗi dậy mạnh mẽ.
Mùa xuân đến với sự thay đổi và sức sống mãnh liệt của thiên nhiên, đất trời thay đổi, không khí đón tết náo nức, đối lập với không gian sống và tâm trạng của Mị khiến sức sống của Mị trỗi dậy
Câu hỏi: Để quên đi cuộc sống thực tại Mị đã làm gì?
Để quên đi cuộc sống hiện tại, cô đã lén lút uống rượu “uống ừng ực từng bát”, rồi say đến lịm người Cái say cùng lúc vừa gây sự lãng quên vừa đem về
cõi nhớ: lãng quên thực tại; nhớ về ngày trước và quan trọng là nhớ rằng mình vẫn là một con người, vẫn có quyền sống của một con người
Câu hỏi: Sức ám ảnh của tuổi xuân cứ lớn dần Mị đã làm gì để chuẩn bị đi chơi?
Sức ám ảnh của tuổi xuân cứ lớn dần Mị quấn lại tóc, với chiếc váy hoa, rồi rút thêm cái áo để chuẩn bị đi chơi hội Nhưng A Sử đã trói đứng cô vào cột nhà
– Mùa xuân, tiếng sáo gọi bạn tha thiết, bồi hồi… , tiếng sáo ấy, sức sống trỗi dậy của mùa xuân ấy mạnh đến nỗi cô bị trói mà vẫn không biết mình đang bị trói
– Khi rượu tan, trở lại thực tại, Mị lại là con rùa lặng câm, còn lặng câm hơn cả trước
Câu hỏi: Diễn biến tâm trạng và hành động của Mị trong đêm tình xuân?
- Mùa xuân ở vùng núi cao, cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp cùng âm thanh tiếng
sáo gọi bạn tình đã đánh thức tâm hồn ham yêu, ham sống của Mị
- Qúa khứ êm đẹp, hiện tại phũ phàng => Mỵ thấy cô đơn, cay đắng => cô muốn chết
- Nhưng tiếng sáo gọi bạn cứ réo rắt, mời goị … => Mị muốn đi chơi
- Bị Asử trói đứng, đau đớn
- Tủi nhục, nhưng tâm hồn Mị vẫn vượt qua khỏi vòng dây trói để đi theo tiếng sáo
=>Bạo lực và dây trói chỉ có thể trói buộc thể xác MỊ chứ không trói buộc được tình yêu và sự sống của Mị
Câu hỏi tích hợp: Qua hành động Mị cởi trói cho A Phủ đã gợi cho em nhận ra điều gì nơi con người của Mị?
+ Niềm khát khao sống và khát khao tự do của nhân vật Mị
+ Thể hiện sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị: Mị cứu A Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị tự cứu lấy bản thân mình
+ Tô Hoài đã ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ miền núi nói riêng và những người phụ nữ Việt Nam nói chung
*HĐ 3: Nhân vật A Phủ.
– Nhân vật A Phủ góp phần làm nổi bật số phận đau khổ của người dân nghèo miền núi dưới ách áp bức của thực dân – phong kiến
Câu hỏi: A Phủ có một quá khứ như thế nào?
– Là một chàng trai khoẻ mạnh, lao động giỏi, thạo công việc, cần cù, chịu khó, gan dạ, có bản lĩnh
– Con gái trong làng nhiều người mê, nhưng “không có ruộng không có bạc không lấy được vợ”.