SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH 3 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI, BÀI TẬP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG PHẦN ĐỊA LÍ CÁC VÙNG
Trang 1
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI, BÀI TẬP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG PHẦN ĐỊA LÍ CÁC VÙNG KINH TẾ- ĐỊA LÍ 12(cơ bản)
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Họ tên giáo viên : Nguyễn Thị Lương Đơn vị công tác : Tổ Sử- Địa-GDCD-Anh SKKN thuộc lĩnh vực Địa lí
THANH HÓA, NĂM 2020
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Một trong những yêu cầu của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục vàđào tạo là phải chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thứcsang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học đi đôi vớihành, Một trong những yêu cầu của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục vàđào tạo là phải chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thứcsang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học đi đôi vớihành, lý luận gắn với thực tiễn, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy
và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vậndụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt mộtchiều, ghi nhớ máy móc Để đảm bảo được điều đó, phải chuyển từ dạy họctheo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức,rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất
Địa lí là một trong các bộ môn khoa học cơ bản, gắn liền với thực tiễn đờisống của mỗi học sinh Là giáo viên dạy môn địa lí tại trường trung học phổthông (THPT), tôi rất mong có được một hệ thống câu hỏi, bài tập có giá trị
và phù hợp để giáo viên giảng dạy - bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp và cũng
để cho học sinh có được tài liệu học tập, tham khảo, phát huy năng lực Ngoài
ra, cũng cần có các biện pháp sử dụng thích hợp nhằm rèn luyện, phát huy vàgóp phần phát triển năng lực sáng tạo(NLST) cho học sinh
Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, học sinh ẩn chứa nhiều tiềm năng sángtạo, nếu không chú ý phát triển tiềm năng sáng tạo cho các em thì những tiềmnăng đó sẽ dần bị mất đi Tuy nhiên, thực trạng dạy học theo hướng phát triểnNLST cho học sinh trong các trường THPT có nhiều hạn chế Một trongnhững nguyên nhân dẫn tới tình trạng này là do giáo viên thiếu kĩ năng xâydựng và sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập rèn luyện NLST cho học sinh
Nhằm phát huy năng lực sáng tạo cho học sinh THPT trong dạy họcmôn địa lí góp phần nâng cao chất lượng dạy – học địa lí ở trường phổ thông
tôi chọn đề tài “Sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập rèn luyện năng lực sáng
tạo cho học sinh trong phần Địa lí các vùng kinh tế Việt Nam- Địa lí Trung học phổ thông.
12-2 Mục đích nghiên cứu
Xây dụng hệ thống câu hỏi, bài tập để phát huy và nâng cao NLST
cho học sinh trong dạy học Địa lí các vùng kinh tế Việt Nam Địa lí 12- Trung
học phổ thông.
Trang 33 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài áp dụng đối với học sinh lớp 12A1, 12A 2 trường THPT Thạch Thành 3
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu thực nghiệm trên lớp
5 Thời gian nghiên cứu
Năm học 2019 - 2020
NỘI DUNG
I Cơ sở của đề tài
1 Cơ sở lý luận
1.1 Năng lực và phát triển năng lực trong dạy học
Năng lực là sự kết hợp hợp lí kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham giacác hoạt động tích cực, có hiệu quả để giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnhvực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau
Đặc điểm của năng lực: Năng lực chỉ có thể quan sát được qua hoạtđông của cá nhân ở các tình huống nhất định Năng lực tồn tại dưới hai hìnhthức: Năng lực chung và năng lực chuyên biệt Các năng lực chuyên biệtkhông thể thay thế được các năng lực chung
Cấu trúc năng lực: Theo các khái niệm về năng lực có thể thấy năng
lực được tạo nên bởi ba thành phần cơ bản, đó là: kĩ năng, nội dung và tìnhhuống Có nhiều loại năng lực khác nhau Việc mô tả cấu trúc và các thànhphần năng lực cũng khác nhau Hiện nay, người ta quan tâm nhiều đến pháttriển năng lực hành động Vậy năng lực hành động là gì và có cấu trúc nhưthế nào?
Năng lực hành động: Là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách
nhiệm các hành động để giải quyết các nhiệm vụ, lĩnh vực nghề nghiệp xã hộihay cá nhân trên cơ sở của những hiểu biết kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệmcũng như sự sẵn sàng hành động…
Hình 1.1 Cấu trúc năng lực hành động
Từ hình 1.1 ta thấy năng lực hành động gồm 4 thành tố Các thànhphần năng lực “gặp nhau” tạo thành năng lực hành động Do vậy, giáo dụcđịnh hướng phát triển năng lực nhằm mục đích tạo ra những con người pháttriển toàn diện [7]
Trang 4Theo tổ chức OEDC đề nghị các năng lực chung cần hình thành và pháttriển cho học sinh THPT là: Năng lực giải quyết vấn đề, năng lực xã hội,năng lực linh hoạt, sáng tạo, năng lực sử dụng thiết bị một cách thông minh.
Ở Việt Nam, trong dạy học gồm có: Năng lực tự học, năng lực giảiquyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực tự quản lý, năng lực giao tiếp, nănglực hợp tác, năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực
sử dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán Trong đề tài này tôi tập trung phát triểnnăng lực sáng tạo (NLST)
1.2 Năng lực sáng tạo
Quá trình sáng tạo của con người thường bắt đầu từ một ý tưởng mới,bắt nguồn từ tư duy sáng tạo của con người Theo các nhà tâm lí học, NLSTbiểu hiện rõ nét nhất ở khả năng tư duy sáng tạo, là đỉnh cao nhất của các quátrình hoạt động trí tuệ của con người
Như vậy, NLST là thuộc tính cá nhân mà thông qua các hoạt động củabản thân tạo nên những ý tưởng mới, sản phẩm mới, cách giải quyết mới,phát hiện ra điều chưa biết, chưa có với những nét độc đáo riêng phù hợp vớithực tế bằng những kiến thức đã biết [6]
1.2.1 Các thành tố năng lực sáng tạo [ 7]
* Năng lực tư duy - sáng tạo
Quy luật hình thành và phát triển của tư duy sáng tạo:
- Khi hoàn cảnh có vấn đề (có tình huống vấn đề) thì tư duy sáng tạomới phát triển
- Hình thành và phát triển trên cơ sở thực tiễn rồi trở lại làm phong phúthực tiễn
- Phát triển từ tư duy độc lập, tư duy phê phán
- Chủ thể của tư duy sáng tạo được cung cấp đầy đủ tư liệu, đó là tri thức, thông tin, kinh nghiệm, các phương pháp, các sự kiện trong tự nhiên, xãhội
- Bộ não cần được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng, và được hoạtđộng trong môi trường thuận lợi
- Hình thành và phát triển dần theo qui luật từ tiệm tiến đến nhảy vọt
* Năng lực quan sát và sáng tạo
Quan sát là hình thức phát triển cao độ tri giác có chủ định, có ý nghĩacực kỳ quan trọng trong hoạt động thực tiễn, sáng tạo của loài người.D.Mendeleep nhà bác học người Nga cũng đã đánh giá rất cao về năng lựcquan sát: “ Quan sát và thực nghiệm là cửa ra của khoa học ”
* Năng lực tưởng tượng – liên tưởng
Tưởng tượng và liên tưởng là hai phẩm chất quan trọng của tư duy sángtạo Tưởng tượng là xây dựng trong đầu những hình ảnh mới trên cơ sở cácbiểu tượng đã có Tưởng tượng cần thiết cho hoạt động của con người giúp tanhìn thấy trước sản phẩm hoạt động trong nhiều trường hợp là một hoạt độngmang tính sáng tạo
Trang 5Trí tưởng là món quà vĩ đại của thiên nhiên, nó đã có sẵn trong conngười Trí tưởng tượng cung cấp cho con người những gì mà thực tại chưa kịphoặc không thể cho con người
* Năng lực phát hiện vấn đề
Năng lực phát hiện vấn đề chính xác để giải quyết đúng theo quy luậtkhách quan đem lại kết quả cho họat động sáng tạo
* Năng lực hoạt động sáng tạo:
+ Biết tổ hợp các yếu tố, các thao tác để thiết kế một dãy hoạt động,nhằm đạt đến kết quả mong muốn
+ Biết vận dụng tổ hợp các kiến thức liên môn học để giải quyết vấn đề linhhoạt
1.2.2 Một số biểu hiện năng lực sáng tạo của học sinh trung học phổ thông.
Đối với HS phổ thông, tất cả những gì mà họ ‘tự nghĩ ra’ khi GV chưadạy, HS chưa đọc sách, chưa biết được nhờ trao đổi với bạn đều coi như cómang tính sáng tạo Cách tốt nhất để hình thành và phát triển năng lực nhậnthức, năng lực sáng tạo của học sinh là đặt họ vào vị trí chủ thể hoạt động tựlực, tự giác, tích cực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển nănglực sáng tạo, hình thành quan điểm đạo đức Như vậy, trách nhiệm chủ yếucủa người giáo viên là tìm ra biện pháp hữu hiệu để rèn luyện, phát huy vàphát triển NLST cho HS từ khi cắp sách đến trường
Trong quá trình học tập của HS, sáng tạo là yêu cầu cao nhất trong bốncấp độ nhận thức: biết, hiểu, vận dụng, sáng tạo Theo định hướng chuẩn đầu
ra về phẩm chất và năng lực của chương trình giáo dục THPT thì NLST ở HSbiểu hiện như sau:
- Biết đặt câu hỏi có giá trị để làm rõ các tình huống và những ý tưởngtrừu tượng; xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức tạp từ cácnguồn thông tin khác nhau; phân tích các nguồn thông tin độc lập đểthấy được khuynh hướng
và độ tin cậy của ý tưởng mới
- Xem xét sự vật với những góc nhìn khác nhau; hình thành và kếtnối các ý tưởng; nghiên cứu để thay đổi giải pháp trước sự thay đổi của bốicảnh; đánh giá rủi do và có dự phòng
- Lập luận về quá trình suy nghĩ, nhận ra yếu tố sáng tạo trong các quanđiểm trái chiều; áp dụng điều đã biết trong hoàn cảnh mới
- Say mê; nêu được nhiều ý tưởng mới trong học tập và cuộc sống; không
sợ sai; suy nghĩ không theo lối mòn; tạo ra yếu tố mới dựa trên những ý tưởngkhác nhau
- Biết trả lời nhanh chính xác câu hỏi của GV, biết phát hiện những vấn
đề mấu chốt, tìm ra ẩn ý (vấn đề) trong những câu hỏi, bài tập hoặc vấn đề mởnào đó
- Biết tự tìm ra vấn đề, tự phân tích, tự giải quyết đúng với những bàitập mới, vấn đề mới
Trang 6- Biết kết hợp các thao tác tư duy và các phương pháp phán đoán, đưa
1.3 Phương pháp dạy học,học tập địa lí
1.3.1 Một số phương pháp dạy học phát huy NLST
- Vấn đáp tìm tòi: Có 3 phương pháp vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, vấnđáp giải thích - minh họa, vấn đáp tìm tòi (đàm thoại ơrixtic)
- Dạy học nêu vấn đề và giải quyết vấn đề
- Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ
- Dạy học theo dự án
1.3.2 Phương pháp học tập địa lí của học sinh
Con người muốn tồn tại đều phải học, học suốt đời dựa trên bốn trụ cột:học để biết, học để làm, học để học để làm người và cùng chung sống Nănglực của con người phải được nâng lên mạnh mẽ nhờ vào trước hết người học
"biết cách học" và người dạy biết "dạy cách học" GV cần hướng dẫn cho HSbiết cách học: Bằng những hình thức tổ chức hoạt động như: Cá nhân - Cặphai người - Nhóm 4 đến 6 người - Xây dựng kim tự tháp - Bể cá - Làm việc
cả lớp - Trò chơi - Sắm vai - Mô phỏng Ngoài ra, còn dạy cho HS cách lập kếhoạch cá nhân, thu thập thông tin từ việc nghe giảng, ghi bài trên lớp, nghiêncứu sách giáo khoa, các tài liệu học tập, mạng internet cách ghi chép để lưugiữ thông tin ; cách tự học; cách trình bày diễn giải bằng lời những điều họcđược trước nhóm nhỏ học tập hoặc trước tập thể lớp; Học cách tham khảo trítuệ của bạn học; cách thuyết phục các bạn học; cách quan sát các phương tiện
trực quan và hiện tượng trong cuộc sống thực tiễn; cách xử lí thông tin, tự rút
ra kết luận cần thiết hoặc nhận xét, trả lời câu hỏi hay hệ thống câu hỏi hướngdẫn Với HS THPT, những năm đầu chưa có được khả năng để tổ chức tự học
mà chỉ tự học khi GV giao các bài tập, nhiệm vụ học tập Do đó, GV cầnthường xuyên giao nhiệm vụ học tập cho HS và có biện pháp kiểm tra, đánhgiá việc thực hiện nhiệm vụ học tập Các nhiệm vụ học tập phù hợp cho các
em là trả lời câu hỏi theo nội dung bài học, làm bài tập trong sách giáo khoa,vận dụng kiến thức đã học để giải thích một số hiện tượng trong đời sống, xây
Trang 7dựng những bài toán từ những dữ kiện cho trước Bên cạnh đó, GV cần phảidạy cho HS PP để học tập có hiệu quả như biết phán đoán theo ý nghĩa, lậpdàn bài để ôn tập và ghi nhớ hay dạy các dạng bài tổng quát, sau đó, đặt racác trường hợp cụ thể để HS tự giải GV có thể thành lập các nhóm nhỏ họctập dựa trên các nhóm bạn bè của các em Ở mức độ cao hơn, GV có thể tậpdượt cho HS PP nghiên cứu khoa học Người GV giữ vai trò quyết định tronghoạt động học tập của HS ở lứa tuổi này, vì vậy cần phải có những biện phápdạy học thích hợp hình thành và phát triển năng lực cho các em.
1.4 Câu hỏi, bài tập sáng tạo
- CH - BT “hộp đen”: Theo Bunxơman, BT “hộp đen” gắn liền với việcnghiên cứu đối tượng mà cấu trúc bên trong là đối tượng nhận thức mới (chưabiết), nhưng có thể đưa ra mô hình cấu trúc của đối tượng, nếu cho các dữkiện “đầu vào”, “đầu ra” Giải BT “hộp đen” là quá trình sử dụng kiến thứctổng hợp, phân tích mối quan hệ giữa dữ kiện “đầu vào” và dữ kiện “đầu ra”
để tìm thấy cấu trúc bên trong của hộp đen.[5]
2 Cơ sở thực tiễn
Mặc dù học sinh đã nhận thức được vai trò của NLST với bản thân tuynhiên biểu hiện của NLST của các em trong các hoạt động học tập vẫn ở mứcthấp Nguyên nhân là do thói quen học thụ động, thiếu tích cực sáng tạo củahọc sinh Nhiều em ít đầu tư công sức, thời gian vào việc học, học tập chỉmang tính đối phó Với các em có ý thức tự giác, yêu thích môn học thì lại chưaquen kĩ năng sáng tạo Một mặt cũng là do học sinh chưa được học theo cácphương pháp, biện pháp, kĩ thuật dạy học mới Do đó, việc quan tâm, rèn luyện,nghiên cứu, sử dụng các biện pháp dạy học nhằm phát huy NLST cho học sinh
Thực tiễn cho thấy, mặc dù giáo viên đã nhận thức được tầm quantrọng của nhiệm vụ phát huy và nâng cao NLST cho học sinh và đã nỗ lựcđiều hành, định hướng và tổ chức quá trình lĩnh hội tri thức của HS bằngnhững PPDH tích cực tuy nhiên chất lượng của hoạt động vẫn còn khiêm tốn.Điều đó do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan:
+ Thứ nhất , PPDH chủ đạo mà nhiều giáo viên vẫn sử dụng vẫn làphương pháp truyền thụ tri thức một chiều Số giáo viên thường xuyên sángtạo trong việc phối hợp các PPDH cũng như sử dụng các PPDH có tác dụngrèn luyện NLST cho học sinh chưa nhiều Điều đó khiến cho học sinh khôngtích cực, sáng tạo
Trang 8+ Thứ hai, việc ứng dụng công nghệ thông tin, các biện pháp, kĩ thuậtdạy học hiện đại còn hạn chế, chưa kích thích được người học, chưa phù hợp
+ Thứ ba, giáo viên chưa được tập huấn phương pháp, biện pháp rènluyện NLST cho học sinh
+ Thứ tư, học sinh chưa quen với phương pháp học tập chủ động tíchcực Việc làm các bài tập ở lớp của học sinh mang tính hình thức, đối phó
+ Thứ năm, giáo viên chưa quan tâm đến việc đổi mới đánh giá NLSTcủa HS mà mới chú trọng kiểm tra kiến thức, kĩ năng
Thực tiễn trên đã đặt ra yêu cầu cấp thiết là chúng ta phải chú trọngphát huy NLST của học sinh Muốn vậy giáo viên cần thiết kế, xây dựng cáctài liệu dạy - học phù hợp đồng thời nghiên cứu, lựa chọn sử dụng nhữngphương pháp, biện pháp và phương tiện cần thiết để rèn luyện, phát huyNLST cho học sinh
III Giải pháp thực hiện
1 Nguyên tắc xây dựng câu hỏi, bài tập sáng tạo
- Bám sát mục tiêu dạy học
- Đảm bảo phát huy NLST của học sinh
- Đảm bảo tính chính xác của nội dung
- Đảm bảo nguyên tắc hệ thống
- Đảm bảo tính thực tiễn
2 Quy trình xây dựng câu hỏi, bài tập sáng tạo
Quy trình thiết kế câu hỏi, bài tập trong dạy học phần: Địa lí các vùngkinh tế- lớp 12
có thể được chia làm các bước như sau:
+ Bước 1: Phân tích lôgíc nội dung chương trình
+ Bước 2: Từ mục tiêu dạy học, xác định nội dung kiến thức trong bài
có thể mã hóa thành câu hỏi, bài tập rèn NLST cho HS
+ Bước 3: Diễn đạt các khả năng mã hóa nội dung các kiến thức đóthành câu hỏi hoặc bài tập rèn NLST cho HS
+ Bước 4: Sắp xếp các câu hỏi, bài tập thành hệ thống
3 Hệ thống câu hỏi, bài tập rèn luyện năng lực sáng tạo
Trên cơ sở phân tích cấu trúc, nội dung, mục tiêu chương trình: Địa lícác vùng kinh tế và vận dụng quy trình xây dựng câu hỏi, bài tập chúng tôi đãxây dựng được hệ thống các câu hỏi, bài tập nhằm phát huy năng lực sáng tạocủa học sinh qua dạy học Địa lí các vùng kinh tế - Địa lí 12 THPT như sau:
Trang 93 Việc phát huy thế mạnh của vùng Trung du miền núi bắc bộ có ý nghĩa
về KT-XH ,chính trị và quốc phòng như thế nào?
4 Phân tích đặc điểm phân bố công nghiệp và các trung tâm công nghiệp
ở miền núi và trung du bắc bộ
5 Cho bảng số liệu sau: Cơ cấu sử dụng đất của Trung du miền núi bắc
bộ và Tây Nguyên năm 2012 (Đơn vị: nghìn ha)
Vùng Trung du miền núi bắc bộ Tây Nguyên
a Tính cơ cấu sử dụng đất của Trung du miền núi bắc bộ và Tây Nguyên?
b So sánh và giải thich sự giống và khác nhau trong cơ cấu sử dụng đất của Trung Du Miền Núi Bắc Bộ và Tây Nguyên?
6 a Tại sao phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở Đồng Bằng sông Hồng?
b.Hãy phân tích cơ sở để chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Đồng Bằng sôngHồng?
c Vì sao đồng bằng sông Hồng là khu vực có mức độ tập trung công nghiệp vào loại cao nhất cả nước?
7 Dựa vào Atlat địa lí Việt Nam, hãy xác định quy mô, cơ cấu ngành của các trung tâm công nghiệp ở Đồng Bằng sông Hồng và giải thích vì sao
Hà Nội, Hải Phòng là 2 trung tâm công nghiệp lớn nhất vùng?
8 Tại sao nói việc phát triển cơ cấu nông lâm ngư nghiệp góp phần phát triển bền vững ở Bắc Trung Bộ?
9 Tại sao việc phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải sẽ tạo bước ngoặt quan trọng trong sự hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp của vùng Bắc Trung Bộ?
10 Tại sao trong khai thác rừng ở Tây Nguyên cần hết sức chú trọng khai thác đi đôi với tu bổ và bảo vệ vốn rừng?
11 Dựa vào Atlat địa lí Việt Nam trang 4,7,8,13 và kiến thức đã học em hãy so sánh sự giống và khác nhau của 2 vùng chuyên canh cây công nghiệp Trung Du Miền Núi Bắc Bộ và Tây Nguyên?
12 Vì sao Đông Nam Bộ trở thành vùng chuyên canh cây công nghiệp lớnnhất cả nước?
13 Vì sao Đông Nam Bộ trở thành vùng kinh tế phát triển nhất nước ta hiện nay?
Trang 1014 Tại sao phải đặt vấn đề sử dụng hợp lí và cải tạo tự nhiên ở Đồng Bằng sông cửu Long?
15 Vì sao Đồng Bằng sông cửu Long có ngành thủy sản phát triển nhất cả nước?
16.Phân tích mối liên hệ giữa sản xuất lương thực- thực phẩm với việc sử dụng và cải tạo tự nhiên ở Đồng bằng sông Cửu Long?
4 Tổ chức sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học để phát huy NLST cho học sinh
4.1 Một số nguyên tắc sư phạm khi sử dụng câu hỏi, bài tập phát huy NLST cho học sinh
- Tạo ra môi trường học tập kích thích tính tự lực, sáng tạo của học sinh trong học tập
Để bồi dưỡng NLST cho học sinh, người giáo viên phải có tư duy nhạybén, linh hoạt, biết tổ chức giờ dạy với không khí lớp học thật sôi nổi, thoảimái nhưng nghiêm túc để lớp học là nơi mỗi học sinh luôn muốn bộc lộnhững cách nghĩ “khác thường” của mình Đã từ lâu, học sinh quen thụđộng, ít tự lực suy nghĩ nên lúc đầu khi trả lời và giải CH - BT, học sinhthường rụt rè, lúng túng, chậm chạp và hay phạm sai lầm khi thực hiện cáchành động học tập Giáo viên cần phải biết chờ đợi, động viên, giúp đỡ vàlãnh đạo lớp học sao cho học sinh mạnh dạn tham gia thảo luận, phát biểu ýkiến của riêng mình, nêu thắc mắc, lật ngược vấn đề chứ không chỉ chờ sựphán xét của giáo viên
Giáo viên nên khắc phục tâm lí sợ mất thời gian Thời gian một tiết họcchỉ có 45 phút, giáo viên thường thuyết trình, giải thích hết 35-40 phút, thờigian dành cho học sinh làm việc tự lực và phát biểu còn quá ít Cần phải kiênquyết dành nhiều thời gian cho học sinh phát biểu, thảo luận Dần dần, họcsinh sẽ chủ động hơn, tự lực hơn trong các hoạt động học tập Mặt khác, tốc
độ tư duy sẽ tăng lên, học sinh sẽ mạnh dạn trình bày ý tưởng của mình, từ đóthúc đẩy tốc độ giải quyết vấn đề của tiết học
-Tạo ra nhu cầu hứng thú, kích thích tính tò mò ham hiểu biết của học sinh, đặt học sinh vào tình huống có vấn đề
Tư duy chỉ thực sự bắt đầu xuất hiện trong đầu học sinh khi có sự xuấthiện của mâu thuẫn Mâu thuẫn giữa một bên là nhu cầu, nhiệm vụ nhận thứcmới cần giải quyết và một bên là trình độ kiến thức hiện có không đủ để giảiquyết nhiệm vụ ñó Lúc đó, học sinh vừa căng thẳng vừa hưng phấn khát khaovượt qua khó khăn giải quyết được mâu thuẫn Ta nói rằng học sinh được đặtvào tình huống có vấn đề như tình huống lựa chọn, tình huống bế tắc, tìnhhuống lạ, tình huống ngạc nhiên bất ngờ… Giáo viên nên lựa chọn nhữngtình huống gần gũi với thực tế cuộc sống để học sinh nhận thấy mâu thuẫn làcần thiết giải quyết Học sinh thường xuyên tham gia vào giải quyết nhữngmâu thuẫn nhận thức sẽ tạo ra thói quen, lòng ham thích hoạt động trí óc cóchiều sâu, làm tăng tính tự giác, tự lực khám phá của chính mình