1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy tác phẩm chí phèo trong chương trình ngữ văn 11 THPT

18 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 194,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dù tuổi đời, tuổi nghề ngắn ngủi và số lượng sáng tác không nhiều nhưng hơn hẳn các tác gia khác, số tác phẩm của Nam Cao xuất hiện trong SGK lại là con số đáng mơ ước đối với bất kỳ ngư

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài

Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực Một trong những định hướng

cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học Đó cũng là những

xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổ thông

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động

xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin

và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này

Nam Cao là một trong chín nhà văn được lựa chọn để giảng dạy trong trong chương trình Ngữ văn phổ thông với tư cách tác gia lớn của nền văn học dân tộc

Dù tuổi đời, tuổi nghề ngắn ngủi và số lượng sáng tác không nhiều nhưng hơn hẳn các tác gia khác, số tác phẩm của Nam Cao xuất hiện trong SGK lại là con số đáng

mơ ước đối với bất kỳ người cầm bút nào: Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa, Sống mòn, Một đám cưới, Một bữa no,… Qua nhiều lần thay SGK, đến nay, Lão Hạc (chương trình Ngữ văn 8) và Chí Phèo, Đời thừa (chương trình Ngữ văn 11) là ba tác phẩm khẳng định được vị trí không thể vắng mặt trong nền tri thức Ngữ văn

phổ thông của quốc gia và tương lai cũng khó có sự thay thế Tuy nhiên, trong bối cảnh tình trạng chung với nhiều biểu hiện sa sút, trì trệ, phức tạp, nan giải của việc dạy học văn ở nhà trường phổ thông hiện nay, chất lượng việc dạy và học tác phẩm của Nam Cao đã thực sự tương xứng với những giá trị sâu xa và tầm tư tưởng nghệ thuật to lớn nhà văn đã đóng góp cho nền văn học dân tộc hay chưa ? Có thể khẳng định là chưa ! Vậy nguyên nhân nằm ở nội dung bài học hay phương pháp dạy – học ? Có thể khẳng định nguyên nhân chủ yếu thuộc về phương pháp dạy của thầy

và phương pháp học của trò Vậy, giải pháp nào để nâng cao hiệu quả việc dạy

-học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao nói riêng và việc dạy -học Ngữ văn nói chung

trong nhà trường phổ thông hiện nay ? Đó chính là những vấn đề thực tế, những

“câu hỏi khó” (tuy nhiên không phải là “không có lời đáp”), đồng thời là lý do thôi

thúc tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực

Trang 2

nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy tác phẩm Chí Phèo trong chương trình Ngữ văn 11 THPT với mong muốn tìm ra những biện pháp tối ưu để nâng cao chất lượng

việc dạy học tác phẩm Chí Phèo nói riêng và dạy học Ngữ văn nói chung.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này tôi mong muốn sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy

học môn Ngữ văn nói chung và dạy học tác phẩm Chí Phèo nói riêng.

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Việc dạy- dạy tác phẩm Chí Phèo- Nam Cao- trong chương trình Ngữ văn

11 THPT theo phương pháp dạy học tích cực”

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát, điều tra, thống kê

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

2.Nội dung

2.1 Cơ sở lí luận của SKKN

Trong bài "Đổi mới căn bản, toàn diện để hoàn thiện một nền giáo dục và

đào tạo Việt Nam nhân bản" (Tạp chí Cộng sản, số 885-7/2016), Bộ trưởng Bộ

Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) Phùng Xuân Nhạ nhấn mạnh: "Ngày nay, khi tri thức đã trở thành yếu tố hàng đầu để phát triển kinh tế tri thức thì các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục là đòn bẩy quan trọng để đổi mới mô hình tăng

trưởng và phát triển xã hội bền vững" Nhận thức sâu sắc về điều đó, việc đổi mới

tư duy giáo dục trong thời đại tri thức nhằm đáp ứng sự thay đổi của cuộc sống là một tất yếu, bởi vì "khi hệ thống tri thức có những thay đổi thì sớm hoặc muộn,

nhanh hoặc chậm, năng lực tư duy và hoạt động của con người cũng phải thay đổi Đời sống hiện thực biến đổi luôn đặt ra những vấn đề mới, buộc con người phải suy nghĩ, tìm kiếm những lời giải đáp và những phương tiện để giải quyết vấn đề Những tri thức mới ra đời bổ sung và bồi đắp cho hệ thống tri thức đã có, làm thay đổi cách nhìn nhận, thay đổi từng phần thế giới quan, dẫn đến thay đổi cả phương thức hoạt động của con người và cộng đồng Điều đó cũng có nghĩa rằng, những tri thức mới đã làm thay đổi tư duy của con người” [5;tr 78]

Có thể hiểu thuật ngữ “Phương pháp dạy và học tích cực” được dùng để chỉ những phương pháp giáo dục hay dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

Phương pháp dạy và học tích cực đề cập đến các hoạt động dạy và học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập và phát triển tính sáng tạo của người học Trong đó, các hoạt động học tập được tổ chức, được định hướng bởi GV, người học không thụ động, chờ đợi mà tự lực, tích cực tham gia vào quá trình tìm kiếm, khám phá, phát hiện kiến thức, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong thực tiễn, qua

đó lĩnh hội nội dung học tập và phát triển năng lực sáng tạo

Trong dạy và học tích cực, hoạt động học tập được thực hiện trên cơ sở hợp tác và giao tiếp ở mức độ cao Phương pháp dạy và học tích cực không phải là một phương pháp dạy học cụ thể mà là một khái niệm, bao gồm nhiều phương pháp, hình thức, kỹ thuật cụ thể khác nhau nhằm tích cực hóa, tăng cường sự tham gia

Trang 3

của người học, tạo điều kiện cho người học phát triển tối đa khả năng học tập, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề

Phương pháp dạy và học tích cực đem lại cho người học hứng thú, niềm vui trong học tập, nó phù hợp với đặc tính ưa thích hoạt động của trẻ em Việc học đối với HS khi đã trở thành niềm hạnh phúc sẽ giúp các em tự khẳng định mình và nuôi dưỡng lòng khát khao sáng tạo Như vậy dạy và học tích cực nhấn mạnh đến tính tích cực của người học và tính nhân văn của giáo dục

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Qua nghiên cứu chương trình SGK, các tư liệu tham khảo; thực tế dự giờ, nghiên cứu giáo án và trò chuyện với nhiều GV và HS về việc dạy - học tác phẩm

Chí Phèo của Nam Cao trong chương trình Ngữ văn 11, nhìn chung, việc dạy – học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao trong chương trình Ngữ văn 11 với đối

tượng HS theo ban cơ bản có nhiều yếu tố thuận lợi Tuy nhiên, những khó khăn

tồn tại trong việc dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học tác phẩm Chí Phèo của

Nam Cao nói riêng vẫn còn xảy ra

* Về phía giáo viên

Trước thực trạng giáo dục và dạy học hiện nay, hầu hết GV đều ý thức được

sự cần thiết phải tích cực hóa hoạt động dạy và học của cả GV và HS Quan điểm, nguyên tắc dạy học tích cực đã được phổ biến tới GV thông qua học tập chuyên

đề, bồi dưỡng GV hàng năm Nhiều GV đã cố gắng tạo điều kiện để HS tích cực học tập, được nói nhiều hơn, được làm việc nhiều hơn Tuy nhiên, nếu đánh giá một cách nghiêm túc thì phần lớn mới chỉ là những biểu hiện tích cực mang tính hình thức bên ngoài HS đã tích cực thực hiện nhiệm vụ theo sự điều khiển của GV nhưng chưa chủ động và thiếu sáng tạo Để có được một giờ dạy văn thực sự chất lượng và hiệu quả, công tác chuẩn bị của GV rất quan trọng Việc nghiên cứu chương trình, tài liệu, soạn giáo án, thiết kế mô hình hoạt động dạy học, lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học cần được đầu tư công phu, tỉ mỉ Tuy nhiên, không ít GV coi việc soạn giáo án hay thiết kế kế hoạch bài học chỉ là hình thức để đối phó với kiểm tra, duyệt chương trình Bên cạnh đó, thói quen soạn bài chỉ say

mê khám phá văn bản và khổ công tìm tòi cách thức lên lớp sao cho hấp dẫn mà không chú ý HS học bài đó như thế nào vẫn đang phổ biến và trở thành nhược điểm về mặt phương pháp ở số đông GV Khi chuẩn bị giáo án, nhiều GV còn quá

lệ thuộc vào SGK, truyền đạt nguyên xi nội dung, bám sát từng ý kiến lớn nhỏ, từng dẫn chứng cụ thể trong SGK cũng như sách hướng dẫn GV, chưa dám chủ động vận dụng linh hoạt nội dung dạy học cho phù hợp với đặc điểm địa phương

và khả năng nhận thức của những đối tượng HS cụ thể trong mỗi lớp học

* Về phía học sinh

Lười học, ngại học, không hứng thú học Văn… là tình trạng chung của HS trong nhà trường mọi cấp học Đó là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng HS ít dành thời gian đọc tác phẩm, nhất là những tác phẩm có dung lượng lớn nên cách hiểu

về tác phẩm thiếu chiều sâu và phiến diện, chưa kể đến trường hợp HS chỉ biết ghi nhớ máy móc điều GV nói và cho ghi chép để đối phó với kiểm tra, thi cử

Khâu chuẩn bị bài trước khi đến lớp cũng chưa trở thành ý thức học tập tự giác, thường xuyên của HS Khi chuẩn bị bài học, HS còn bị lệ thuộc vào các tài liệu, sách văn mẫu, không dám thoát ly những gì viết trong tài liệu, dẫn đến hạn

Trang 4

chế năng lực chủ động sáng tạo trong các hoạt động nghe, nói, đọc, viết của HS Nếu GV không kiểm tra gắt gao việc soạn bài và làm bài tập về nhà thì HS chỉ làm qua loa, sao chép của nhau, thậm chí là không làm gì cả

Tồn tại lớn nhất từ phía học sinh là thói quen thụ động, quen nghe, chép, ghi nhớ và tái hiện lại những gì GV nói, chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học nếu không được giao nhiệm vụ hoặc nếu có được giao nhiệm vụ thì cũng còn lúng túng trong khi độc lập giải quyết vấn đề HS ít tự thân bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm của cá nhân trước tập thể nên khi nói và viết, HS gặp nhiều khó khăn, lúng túng và dễ bị lạc hướng – nhất là với những câu hỏi khác so với sách, vở ghi của các em Trong giờ học, HS ít xung phong phát biểu bài do không thể trả lời, hoặc e ngại không biết cách diễn đạt; cá biệt, có những HS biết nhưng thiếu ý thức xây dựng bài Khi được GV chỉ định trả lời thì HS im lặng hoặc trả lời không đúng trọng tâm câu hỏi Các hoạt động nhóm hay tập thể chưa thu hút được hứng thú tham gia của mọi HS HS hầu như không chủ động đặt ra câu hỏi để GV và cả lớp cùng giải quyết

Những tồn tại, hạn chế về chương trình, SGK, SGV, sách tham khảo, đặc biệt là phương pháp dạy của GV và phương pháp học của HS nêu trên không phải chỉ có ở môn Ngữ văn Tuy nhiên, ảnh hưởng của nó đến kết quả dạy học môn văn trong nhà trường có thể xem là nặng nề, sâu sắc nhất bởi “Văn học là nhân học”, kết quả dạy học văn liên quan trực tiếp đến việc hình thành nhân cách con người Thực trạng dạy học văn trong nhà trường hiện nay đặt ra những vấn đề cấp thiết

mà toàn xã hội phải quan tâm

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

2.3.1 Sử dụng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề, tình huống có vấn đề trong dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

2.3.1.1 Vấn đề và tình huống có vấn đề trong tác phẩm Chí Phèo của Nam

Cao

* Vấn đề trong dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao.

Khi nói về vấn đề trong tác phẩm văn chương, một mặt chúng ta phải bám sát khái niệm “Vấn đề là mâu thuẫn giữa những tri thức đã biết với những tri thức chưa biết về tác phẩm Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết nhờ những nỗ lực hoạt động sáng tạo và cảm giác thẩm mỹ”; mặt khác phải hiểu rõ có những vấn đề đơn giản một khâu dễ giải quyết; có những vấn đề phức tạp nhiều khâu khó giải quyết,

mà phải lần lượt giải quyết từng khâu theo trình tự logic nội tại của vấn đề đó Một tác phẩm văn chương có thể có nhiều vấn đề, liên quan đến xã hội, đạo đức, kinh

tế, văn hóa, văn học… nhưng chúng ta có thể hiểu một cách khái quát là TPVC chỉ

có hai loại vấn đề: vấn đề nội dung và vấn đề nghệ thuật

Vận dụng khái niệm vấn đề trong TPVC nói trên, chúng ta xác định vấn đề

trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao như sau:

Phần hai: Tác phẩm

Vấn đề nội dung

- Nhan đề truyện

- Cốt truyện và chủ đề tác phẩm

- Hình ảnh làng Vũ Đại

- Hình tượng nhân vật Chí Phèo

Trang 5

-> Các chặng đường đời của Chí Phèo.

-> Bi kịch tha hóa ở Chí Phèo

-> Bi kịch bị từ chối quyền làm người ở Chí Phèo

- Hình tượng nhân vật Bá Kiến

Vấn đề về nghệ thuật

- Nghệ thuật miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật

- Nghệ thuật xây dựng cốt tuyện

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật

- Nghệ thuật kết cấu truyện

- Ngôn ngữ truyện

- Khám phá mới mẻ, độc đáo của Nam Cao về nỗi thống khổ của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng

*Tình huống có vấn đề trong dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao.

Tình huống có vấn đề là tình huống trong đó chủ thể nhận thức có trạng thái tâm lý đặc biệt: cảm thấy cái “khó” trong nhận thức, hay nói cách khác là có mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và cái chưa biết, đồng thời chủ thể mong muốn giải quyết mâu thuẫn bằng cách huy động những cái đã biết, tạo ra phương thức hành động mới để đạt được hiểu biết mới Tình huống có vấn đề trong bài học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao được xây dựng trên cơ sở hệ thống vấn đề đã nêu trên Để xây dựng được tình huống có vấn đề, GV phải đưa các vấn đề vào câu hỏi nêu vấn đề Hệ thống câu hỏi nêu vấn đề có thể là:

1 Đứa con tinh thần Chí Phèo của Nam Cao đã trải qua ba lần khai danh : Cái lò gạch cũ -> Đôi lứa xứng đôi -> Chí Phèo, anh chị suy nghĩ như thế nào về

những nhan đề này?

2 Hãy tóm lược cốt truyện và phát biểu chủ đề tác phẩm Chí Phèo?

3 Em nhận xét như thế nào về kết cấu và cốt truyện của truyện Chí Phèo?

4 Toàn bộ truyện Chí Phèo diễn ra ở làng Vũ Đại, em hãy phác họa hình

ảnh làng Vũ Đại, kết hợp với hình ảnh cái làng mà Lão Hạc sống để hiểu hơn về

bộ mặt nông thôn và nông dân trong sáng tác của Nam Cao ? Đồng thời kết hợp

với không gian phố huyện trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, không gian thành thị trong Hạnh phúc một tang gia của Vũ Trọng Phụng để hình dung cụ

thể hơn về xã hội Việt Nam những năm trước Cách mạng tháng Tám?

1 Quá trình tha hóa qua các chặng đường đời của Chí Phèo?

2 Nam Cao đã phản ánh hiện thực gì qua bi kịch tha hóa của Chí Phèo ? Đâu là điểm mới mẻ trong cái nhìn hiện thực của Nam Cao?

3 Chí Phèo đã thức tỉnh và muốn tìm về thiên lương nhưng lại lâm vào bi kịch khác như thế nào?

4 Qua kết cục bi thảm của Chí Phèo, em nhận thấy cảm quan hiện thực của Nam Cao có gì khác so với nhà văn Ngô Tất Tố khi kết thúc tiểu thuyết Tắt đèn bằng cảnh Chị Dậu vùng chạy ra ngoài trời tối đen như cái tiền đồ của chị?

5 Em hãy thử xây dựng một kết thúc khác cho Chí Phèo và lý giải điều đó?

6 Cuộc đời Chí Phèo từ khi sinh ra cho đến năm hai mươi tuổi, dù côi cút,

bơ vơ, vất vả nhưng vẫn được là một con người – một thanh niên khỏe khoắn, hiền lành, nhút nhát… nhưng ai đã đẩy Chí vào vòng tù tội và biến anh thành một con

Trang 6

quỷ dữ của làng Vũ Đại ? Em hãy tái hiện nhân vật này và chỉ ra mối quan hệ giữa hắn và Chí Phèo?

7 Khi xây dựng hình tượng nhân vật Bá Kiến, Nam Cao tập trung miêu tả điều gì? Bá Kiến là điển hình cho loại người nào trong xã hội Việt Nam trước cách mạng? Thử đặt Bá Kiến bên Nghị Quế, Nghị Hách… để thấy được nét độc đáo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình của Nam Cao?

8 Bá Kiến và Chí Phèo là cặp nhân vật điển hình giúp chúng ta hình dung diện mạo con người và đời sống nông thôn Việt Nam trước Cách mạng, có sự tồn tại những hiện tượng Chí Phèo, Bá kiến… trong xã hội của chúng ta ngày nay không?

9 Ngôn ngữ và giọng điệu của nhân vật và người kể chuyện trong truyện như thế nào?

Trên đây là những câu hỏi nêu vấn đề cơ bản về tác giả Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo Với những câu hỏi nêu lên vấn đề đơn giản, GV có thể phát vấn

để HS trả lời ngay Với những câu hỏi nêu vấn đề phức tạp, GV phải xây dựng hệ thống câu hỏi phụ để dẫn dắt gợi ý cho HS Với những câu hỏi nêu vấn đề phức tạp hơn nữa có thể đưa vào tình huống có vấn đề và tổ chức cho HS học tập, thảo luận theo nhóm Tất nhiên không thể phát vấn và giải quyết hết các câu hỏi trên trong thời gian ba tiết học trên lớp được GV cần lựa chọn những vấn đề phù hợp

để giao cho HS có thể tự học, tự nghiên cứu trước và sau khi lên lớp, như vậy sẽ giúp giải tỏa ức chế về mặt thời gian, đồng thời tăng cường tính tự giác, tích cực hoạt động ở HS

2.3.1.2 Vấn đáp, đàm thoại bằng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề, tình huống vấn đề

Vì hình thức tổ chức dạy học phổ biến trong nhà trường hiện nay là dạy học

toàn lớp nên về cơ bản, vấn đáp, đàm thoại là một PPDHTC phù hợp với đặc trưng môn học Ngữ văn Muốn thực hiện vấn đáp, đàm thoại, GV phải xây dựng được hệ thống câu hỏi Hệ thống câu hỏi là vấn đề mà GV căn cứ vào mục tiêu bài học, văn bản tác phẩm, hệ thống câu hỏi HDHB trong SGK và định hướng dạy – học trong SGV để đặt ra cho HS suy nghĩ, gợi ý dẫn dắt HS từng bước đi vào khám phá giá trị nghệ thuật và nội dung của văn bản Hệ thống câu hỏi trực tiếp rèn luyện kỹ năng nói, thuyết trình, trình bày một vấn đề cho HS trước GV và tập thể lớp Trong dạy học, hệ thống câu hỏi của GV có vai trò quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định chất lượng lĩnh hội tri thức của HS Thay cho việc thuyết trình, đọc chép, nhồi nhét kiến thức, GV chuẩn bị hệ thống câu hỏi để HS suy nghĩ phát hiện kiến thức, phát triển nội dung bài học, đồng thời khuyến khích HS động não tham gia thảo luận xoay quanh những ý tưởng, nội dung trọng tâm của bài học theo trật

tự logic Hệ thống câu hỏi còn nhằm định hướng, dẫn dắt HS từng bước phát hiện

ra bản chất của sự vật, quy luật của hiện tượng, kích thích tính tích cực tìm tòi, sự ham hiểu biết của HS Trong quá trình đàm thoại, GV là người tổ chức, HS chủ động tìm tòi, sáng tạo, phát hiện kiến thức mới Đồng thời qua đó HS có được niềm vui, hứng thú của người khám phá và tự tin khi thấy trong kết luận của thầy

cô có phần đóng góp ý kiến của mình

2.3.2 Tổ chức cho HS tham gia các hoạt động học tập theo nhóm

Trang 7

Chí Phèo là truyện ngắn giàu kịch tính và hướng tới đối thoại, do vậy nội

dung dạy học rất thích hợp để tổ chức cho HS học tập, thảo luận, tranh biện theo nhóm Cụ thể là:

- Cốt truyện và kết cấu truyện: Nếu học tác phẩm thơ, yêu cầu bắt buộc với

HS là phải học thuộc lòng văn bản thì nắm được cốt truyện và kết cấu truyện là

yêu cầu tiên quyết của việc học truyện Chí Phèo tuy là truyện ngắn nhưng không

ngắn về câu chữ cũng như nội dung phản ánh Do vậy, thay vì thao tác cho HS đọc văn bản trên lớp sẽ chiếm mất nhiều thời gian, GV yêu cầu các nhóm HS trình bày phần tóm tắt cốt truyện (đã được giao về nhà làm) để cả lớp góp ý, bổ sung hoặc lược bớt để cuối cùng có thể đi đến một cốt truyện ngắn gọn, mạch lạc nhất Cùng với việc tóm tắt cốt truyện, HS bước đầu phải đánh giá được cốt truyện và lối kết cấu truyện như vậy có hợp lý không, có gì độc đáo, hấp dẫn… ? Nếu HS có ý kiến đánh giá cốt truyện không như những gì các sách đã viết thì GV phải tôn trọng ý kiến của HS, cùng HS tranh biện để đi đến một ý kiến thống nhất

- Hình tượng nhân vật Chí Phèo: Ở lứa tuổi 17, 18, HS phát triển cao độ trí tưởng tượng, năng lực thẩm mỹ, tư duy hình ảnh và cảm xúc gắn người thật, việc thật (có lẽ đây cũng chính là lý do khiến các nhà làm chương trình SGK lược bớt

„cảnh nóng” Chí Phèo gặp Thị Nở…?) Chí Phèo độc đáo và sắc nét, ấn tượng với người đọc trước hết ở hình hài, bộ dạng của “một con quỷ dữ”… Kết quả của giờ dạy thành công là in dấu được hình ảnh ấy của Chí Phèo vào tâm trí mỗi HS Tuy nhiên, “nhân chi sơ tính bản thiện”, từ lúc lọt lòng đến năm hai mươi tuổi, Chí Phèo vốn vẫn là một con người, một thanh niên nông dân khỏe mạnh, hiền lành, chăm chỉ… Cái phần đời tốt đẹp đó của Chí không được Nam Cao nói đến nhiều

mà chủ yếu tập trung vào hình ảnh một Chí Phèo đã tha hóa nên người dạy và người học lâu nay thường không chú ý đến điều đó Do vậy mà HS khó hình dung

và cảm thông được với bi kịch bị tha hóa của Chí Phèo GV có thể yêu cầu HS bằng năng lực và cảm xúc của mình phác họa nhanh chân dung Chí Phèo ở hai thái cực lương thiện và tha hóa, tổ chức cho những HS ngồi cùng bàn hợp tác làm việc, kết quả trình bày trước lớp; sau đó GV trình chiếu hoặc treo ảnh chân dung Chí

Phèo trích từ phim Làng Vũ Đại ngày ấy cho cả lớp xem Khi so sánh được hình

hài của một Chí Phèo lương thiện với bộ dạng của một Chí Phèo quỷ dữ, HS sẽ

thấm thía tấn bi kịch tha hóa mà trước hết là mất nhân hình của Chí, càng có cơ sở

để hiểu nỗi đau đớn tột cùng của kẻ bị tước đoạt cả nhân tính, phải bán linh hồn cho quỷ dữ như thế nào… Hình thức hoạt động này cũng có thể tiến hành khi phân tích hình tượng nhân vật Bá Kiến, Thị Nở nhưng cần phải tính đến sự hợp lý thời gian Thông qua những hoạt động mang tính trực quan như vậy, HS sẽ tự lĩnh hội được nét độc đáo trong nghệ thuật tạo hình và khắc họa tâm lý nhân vật rất tài tình của Nam Cao mà không cần nhiều đến những lời giảng bình, thuyết minh của GV trên lớp

- Hãy thử xây dựng một kết thúc khác cho truyện ngắn Chí Phèo? Với tình huống có vấn đề này, GV có thể chia lớp học thành bốn nhóm nhỏ (chia theo tổ), thảo luận trong khoảng 5 phút, sau đó đại diện các nhóm sẽ trình bày phương án của nhóm mình đề cả lớp cùng suy ngẫm, phân tích tính khả thi của từng phương

án, đối chiếu với kết thúc truyện của nhà văn để có thể đi đến kết luận: Số phận Chí Phèo trong thời ấy khó có thể có một kết cục khác kém đau thương hơn-> cái

Trang 8

nhìn hiện thực tỉnh táo và sắc lạnh của Nam Cao, ông không vì tình thương mà để cho Chí Phèo được sống, ngược lại, Chí Phèo phải chết như một sự giải thoát, và

để kết án cái xã hội phi nhân tính không chốn nương thân cho những kiếp người như Chí… Sự bế tắc, ngột ngạt, phẫn nộ của cả xã hội Việt Nam trước cơn bão táp lịch sử khiến ngòi bút Nam Cao chưa thể vượt thoát khỏi hạn chế chung của thời đại đó

Những mô hình hoạt động nhóm như trên có thể tiến hành trước, trong hoặc ngoài giờ lên lớp tùy thuộc vào thực tế diễn biến quá trình dạy học ở từng lớp học Những lớp học khác nhau trong cùng khối, trường, GV có thể áp dụng mô hình hoạt động nhóm nhưng có sự thay đổi về đối tượng, nội dung thảo luận như: lớp A phác họa chân dung Chí Phèo, lớp B phác họa chân dung Bá Kiến, lớp C phác họa chân dung Thị Nở… Trong một giờ học, hoạt động nhóm phải tổ chức theo tiến trình bài học nhưng cũng phải căn vào thời điểm thích hợp để HS có thể tập trung tinh thần tốt nhất, tránh những thời điểm như cuối tiết học, cuối buổi học,… Quan trọng hơn là GV phải biết cách “bày trò” và điều khiển hoạt động của các nhóm sao cho đạt hiệu quả thực sự chứ không tạo cơ hội cho một số HS ỷ lại, biến hoạt động nhóm thành hoạt động cá nhân hoặc làm việc riêng trong giờ học GV cần phải qua tâm lựa chọn, bồi dưỡng những HS thực sự có năng lực làm thủ lĩnh, nòng cốt trong các nhóm để hình thành thói quen học tập, hợp tác nhóm cho HS

2.3.3 Hướng dẫn HS tự học

Với bài học Chí Phèo của Nam Cao, thời lượng 3 tiết trên lớp là quá ít, gây

áp lực quá tải kiến thức với cả GV và HS Do vậy, cần chuyển bớt nội dung dạy học trên lớp vào hoạt động tự học của HS theo một số hướng như sau:

- GV yêu cầu và hướng dẫn HS trước khi đến lớp phải chủ động đọc văn bản trong SGK, rút ra những luận điểm chính về tiểu sử, con người, tư tưởng nghệ

thuật, sự nghiệp sáng tác của Nam Cao; tóm tắt cốt truyện Chí Phèo và bước đầu

tìm hiểu tác phẩm thông qua việc trả lời các câu hỏi phần hướng dẫn học bài

- Không những đọc SGK, HS còn có thể đọc, thậm chí cho phép các em sao chép kiến thức từ các nguồn tài liệu tham khảo để làm vốn của mình Đây là công việc cần thiết giúp HS tích lũy vốn kiến thức trước khi đến lớp, chuẩn bị tâm thế cho các em đến lớp để trao đổi cái vốn đã tích lũy được của mình với các bạn và với GV Quá trình dạy – học trên lớp là quá trình các em tự đối chiếu, so sánh, phát hiện và tìm cách bồi đắp những điều mình thiếu hụt và chia sẻ những khám phá riêng của mình với các bạn

- Trong khi chuẩn bị bài mới, HS có thể nêu những câu hỏi, thắc mắc về những vấn đề liên quan đến nội dung bài học để hôm sau lên lớp đề nghị GV và các bạn tham luận, cùng giải quyết HS cần được trao quyền chủ động của một chủ thể trong quá trình lĩnh hội tri thức của mình và GV phải là người sẵn sàng đáp ứng và hỗ trợ các em một cách hiệu quả nhất

- Làm bài tập về nhà: đây là yêu cầu bắt buộc mọi HS phải thực hiện nhằm củng cố kiến thức đã học trên lớp, đồng thời là cách rèn luyện cho HS vận dụng kiến thức đã nghe, đọc được vào thực hành viết và nói Với bài học về tác phẩm

Chí Phèo của Nam Cao, ngoài hai bài luyện tập như SGK đã nêu, GV có thể ra

thêm những bài tập khác như:

Trang 9

1 Nam Cao được ghi nhận là nhà văn hiện thực có tinh thần nhân đạo sâu

sắc, nhưng trong truyện ngắn Chí Phèo tác giả lại để cho nhân vật Chí Phèo chết

một cách thê thảm, dữ dội như vậy… phải chăng là có sự mâu thuẫn? Em hãy giải thích hiện tượng này?

2 Em hãy tưởng tượng và xây dựng một kết thúc khác cho truyện ngắn Chí

Phèo theo quan điểm xã hội hiện đại ?

3 Trong đời sống xã hội hiện đại của chúng ta có đang tồn tại những hiện

tượng Chí Phèo hay không ? Em hãy tìm hiểu và lý giải hiện tượng đó? Chúng ta cần có thái độ ứng xử như thế nào trước nhứng hiện tượng đó?

GV tạo điều kiện để HS có thể lựa chọn số và kiểu bài luyện tập phù hợp với năng lực và hứng thú của mình, khuyến khích HS tự sưu tầm câu hỏi, bài tập trong các nguồn tư liệu khác để làm Nếu kết quả làm bài tập của HS tốt, GV có thể ghi điểm thay cho kiểm tra miệng hoặc thay thế những bài kiểm tra của các em bị điểm thấp Làm như vậy sẽ khuyến khích HS thi đua, phấn đấu ghi điểm, dần dần các

em sẽ quen và hứng thú với việc làm bài tập môn Văn

2.3.4 Tổ chức hoạt động ngoại khóa

Nam Cao là một tác gia lớn trong nền văn học hiện đại Việt Nam, xuất hiện trong chương trình học từ cấp THCS, THPT đến Cao đẳng, Đại học, sau đại học… Phần văn học sử về tác giả trong SGK đã nêu những luận điểm khái quát, trừu tượng, chung chung về tiểu sử, con người, quan niệm nghệ thuật, sự nghiệp sáng tác…, khiến HS dù có học thuộc lòng cả văn bản thì vẫn mơ hồ về kiến thức Do vậy, cần phải đưa HS trở về trực quan sinh động để có căn cứ giải mã những điều

đã được trừu tượng hóa, khái quát hóa ấy

Tọa đàm văn học là hình thức hoạt động ngoại khóa có thể tiến hành trong phạm vi nhà trường, khối học, lớp học GV tổ chức cho HS đọc tác phẩm của Nam

Cao, xem băng tư liệu về tác giả và phim Làng Vũ Đại ngày ấy…

Dạ hội văn học: Tổ chức hội thi sáng tác, chuyển thể tiểu phẩm từ tác phẩm văn học, ngoài các tác phẩm của Nam Cao, có thể kết hợp với tác phẩm của các tác giả Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng đã học trong chương trình nhằm kích thích tính sáng tạo nghệ thuật ở HS, gắn việc học với hoạt động giải trí mang tính thẩm mỹ cao và lành mạnh…

2.3.5 Thiết kế giáo án thực nghiệm: CHÍ PHÈO ( Nam Cao)

A Mục tiêu bài học

1 Kiến thức

Giáo viên tổ chức các hoạt động trong lớp để học sinh:

- Hiểu và phân tích được các nhân vật, đặc biệt là nhân vật Chí Phèo, qua đó thấy được giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của tác phẩm

- Thấy được một số nét về nghệ thuật của tác phẩm như điển hình hóa nhân vật, miêu tả tâm lí, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ nghệ thuật

2 Kĩ năng

Qua hoạt động khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm, giáo viên rèn cho HS kĩ năng tóm tắt tác phẩm tự sự, phân tích nhân vật, phân tích tính điển hình trong một tác phẩm hiện thực phê phán

3 Thái độ

- Khiến học sinh tin vào lẽ sống tình thương và sức cảm hóa mãnh liệt của nó

Trang 10

- HS tin vào bản chất tốt đẹp , thiờn lương luụn hiện hữu trong mỗi con người.

B Phương phỏp

Sử dụng kết hợp nhiều phương phỏp khỏc nhau, trong đú cú những phương phỏp chủ đạo như phương phỏp gợi mở, phõn tớch, nờu vấn đề, phuong phỏp bỡnh giảng

C Đồ dựng học tập

- Sỏch giỏo khoa + sỏch giỏo viờn Ngữ văn 11 tập 1 ( Bộ chuẩn 2006)

- Giỏo ỏn lờn lớp

- Một số tư liệu tham khảo, tranh ảnh về Nam Cao, tỏc phẩm “ Chớ Phốo” hoàn chỉnh, một số đoạn phim “Làng Vũ Đại ngày ấy”…

D Tiến trỡnh giờ dạy

1 Ổn định tổ chức

2 Kiểm tra bài cũ

3 Bài mới

* Hoạt động 1:

GV gọi HS đọc phần tiểu dẫn

trong sách giáo khoa sau đó

tóm tắt ý chính

GV: Hãy cho biết ý nghĩa của

mỗi lần đổi tên tác phẩm?

HS: Suy nghĩ – trả lời

GV: Cơ sở của truyện: “Chí

Phèo” là chuyện về ngời thật,

việc thật ở làng Đại Hoàng

-quê tác giả

GV: Cũng đề tài người nụng

dõn nhưng hướng khai thỏc

của NC cú gỡ mới so với cỏc

nhà văn cựng thời?

* Hoạt động 2:

GV hớng dẫn HS đọc một số

I Tìm hiểu chung.

1 Nhan đề tác phẩm.

- Nguyên tiêu đề truyện ngắn là Cái lò gạch cũ: + Nếu đặt tiêu đề truyện là Cái lò gạch cũ mới

chỉ phản ánh một đoạn đời sinh ra của Chí Phèo Hơn nữa ở đoạn cuối khi Chí Phèo tự sát, cái lò gạch lại thoáng hiện trong suy nghĩ của Thị Nở chỉ làm tăng thêm hạn chế của NC, không tìm đợc giải pháp cho cuộc đời ngời nông dân

- Năm 1941, NXB Đời mới Hà Nội in thành sách

và đổi tên thành Đôi lứa xứng đôi:

+ Đặt tiêu đề truyện là Đôi lứa xứng đôi truyện đề

cập chủ yếu mối tình Chí Phèo- Thị Nở Bao vấn

đề khác không hề đợc chú ý

- Năm 1946, Hội Văn hoá cứu quốc xuất bản, Nam Cao lấy tên nhân vật chính đặt tiêu đề cho

tác phẩm của mình là Chí Phèo Đây là tác phẩm

tiêu biểu cho chủ nghĩa hiện thực và nhân đạo

Đồng thời chứng minh cho tài năng bậc thầy của

NC, một nhà văn lớn

+ Lấy tên nhân vật chính đặt tiêu đề tác phẩm vừa làm nổi bật chủ đề, vừa thể hiện cốt truyện Nói tới Chí Phèo ai cũng nghĩ tới cái lò gạch, Thị Nở, Bá Kiến

→ Tiêu đề của tác phẩm mang ý nghĩa bao trùm

và thể hiện nội dung chủ yếu của tác phẩm

2 Đề t i ài

- Người nụng dõn nghốo ở nụng thụn Việt Nam trước cỏch mạng thỏng Tỏm

- Khai thỏc ở hướng mới: họ bị tàn phỏ về tõm hồn, hủy diệt về nhõn tớnh nhưng cuối cựng thức tỉnh

→ Khỏi quỏt cao về đời sống nụng thụn đương thời

Ngày đăng: 11/07/2020, 12:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Cách xây dựng nhân vật điển hình sắc nét vừa có ý nghĩa tiêu biểu, vừa hết sức sinh động, có cá tính độc đáo, gây ấn tợng mạnh cho ngời đọc. - Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy tác phẩm chí phèo trong chương trình ngữ văn 11 THPT
ch xây dựng nhân vật điển hình sắc nét vừa có ý nghĩa tiêu biểu, vừa hết sức sinh động, có cá tính độc đáo, gây ấn tợng mạnh cho ngời đọc (Trang 17)
Bảng 2: So sỏnh kết quả PPDH truyền thống và PPDHTC - Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy tác phẩm chí phèo trong chương trình ngữ văn 11 THPT
Bảng 2 So sỏnh kết quả PPDH truyền thống và PPDHTC (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w