Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học…” Công văn số 5555/BGĐT-GDTrH ngày 08 tháng 10 năm 2014 cũng đã được triển khai trong toàn ngành về việc Đổi mới phương pháp dạy họ
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương khóa XI đã khẳng định “Tiếp tục đổi mới
mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học…” Công văn số 5555/BGĐT-GDTrH ngày 08 tháng
10 năm 2014 cũng đã được triển khai trong toàn ngành về việc Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, trong đó tập trung vào đổi mới kế hoạch và tài liệu dạy học; đổi mới cách tổ chức hoạt động học cho học sinh và đổi mới hoạt động học của học sinh
Để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới giáo dục theo sự chỉ đạo của Trung ương và ngành, mỗi giáo viên chúng ta nhất thiết phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học Vậy đổi mới phương pháp dạy học là phải đổi mới những gì? Với phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi khẳng định đổi mới phương pháp dạy học thì then chốt và đóng vai trò quyết định đến sự thành công là phải đổi mới được thiết kế bài dạy Tôi khẳng định như vậy vì: Nếu thầy đổi mới được thiết kế bài dạy có nghĩa là thầy đã thay đổi cách dạy Khi thầy đã thay đổi được cách dạy thì nhất thiết học sinh cũng sẽ thay đổi được cách học Khi thầy đã đổi mới được cách thiết kế bài dạy thì chắc chắn thầy sẽ đổi mới cách tổ chức các hoạt động học cho học sinh Tóm lại, khi thầy đã đổi mới được khâu thiết kế bài dạy thì chắc chắn sẽ tạo được hứng thú học tập cho học sinh, giúp học sinh hiểu sâu, nhớ trọng, không phải ghi nhớ máy móc; phát huy được tính chủ động, tích cực trong học tập của học sinh; tạo điều kiện học sinh được phát huy tối đa các kĩ năng trong học tập như: quan sát (nhìn), đọc, nghe, suy nghĩ, ghi, nhớ và hiểu; đồng thời còn rèn luyện học sinh kĩ năng biết liên hệ giữa kiến thức lí thuyết với thực tiễn Đặc biệt, đổi mới được khâu thiết kế bài dạy sẽ khắc phục được lối truyền thụ áp đặt một chiều của giáo viên trong dạy học, từ
đó góp phần nâng cao được hiệu quả dạy và học bộ môn
Để đạt được mục tiêu đã nêu trên trong quá trình dạy học môn Địa lí ở
trường THPT, tôi đã chọn đề tài: Giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học mục I.2 - Bài 21: Quy luật địa đới và quy luật phi địa đới (Địa lí 10) bằng thiết kế hình vẽ có sử dụng “hiệu ứng” trên PowerPoint và câu hỏi tư duy
1.2 Mục đích nghiên cứu
Khi thực hiện nghiên cứu, tôi đã đặt ra mục tiêu là:
- Tạo được tâm lí hứng thú học tập Địa lí cho học sinh
- Giúp học sinh hiểu sâu, nhớ trọng, không phải ghi nhớ máy móc trong học tập Địa lí
- Giúp học sinh chủ động, tích cực, phát huy tối đa được các kĩ năng quan sát, đọc, nghe, suy nghĩ, ghi, nhớ và hiểu; rèn luyện kĩ năng biết liên hệ giữa kiến thức lí thuyết với thực tiễn trong học tập Địa lí
- Phát triển được năng lực và nâng cao được kết quả học tập môn Địa lí cho học
Trang 2sinh trung học phổ thông.
- Thay đổi được thực trạng dạy học, tạo được động lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học môn Địa lí ở trường Trung học phổ thông
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Hiệu quả của việc thiết kế hình vẽ có sử dụng “hiệu ứng” trên PowerPoint và
câu hỏi tư duy trong dạy học để tạo hứng thú học tập; giúp học sinh hiểu sâu, nhớ trọng; khắc phục tình trạng ghi nhớ máy móc, lối truyền thụ áp đặt một chiều trong quá trình dạy học và nâng cao kết quả học tập cho học sinh trong dạy - học môn Địa lí
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Nghiên cứu công văn 5555/BGDĐT-GDTrH; các tài liệu tập huấn (một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực; phương pháp, kĩ thuật tổ chức hoạt động học và hướng dẫn học sinh tự học; đổi mới tổ chức hoạt động giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh); Trường học kết nối,…
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Thu thập thông tin
từ thực trạng dạy học môn Địa lí tại Trường trung học phổ thông Triệu Sơn 3
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Tổng hợp, xử lí số liệu về hiệu quả của việc áp dụng đề tài trước và sau khi thực hiện nghiên cứu
Trang 32 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Thiết kế bài dạy giúp học sinh hứng thú học tập, hiểu sâu, nhớ trọng, không phải ghi nhớ máy móc; phát huy được tính chủ động, tích cực trong học tập của học sinh; phát huy tối đa được các kĩ năng quan sát (nhìn), đọc, nghe, ghi, suy nghĩ, nhớ và hiểu cho học sinh; rèn luyện kĩ năng biết liên hệ giữa kiến thức lí thuyết với thực tiễn; đặc biệt là khắc phục được lối truyền thụ áp đặt một chiều của giáo viên và khắc phục được tình trạng phải ghi nhớ máy móc cho học sinh
để nâng cao được hiệu quả dạy - học bộ môn là một trong những mục tiêu quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học môn Địa lí hiện nay Tuy nhiên,
để đạt được kết quả như mong muốn, đòi hỏi người thầy phải đầu tư suy nghĩ, nghiên cứu, biết lựa chọn và lựa chọn sáng tạo trong khâu thiết kế bài dạy; người thầy phải biết vận dụng linh hoạt, phù hợp các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, người thầy phải biết sử dụng hiệu quả thiết bị dạy học đối với từng nội dung và đối tượng dạy học Làm được việc này chắc chắn sẽ kích thích
và thúc đẩy được học sinh tích cực tham gia học tập, đồng thời sẽ phát huy được tối đa năng lực của học sinh, từ đó giúp học sinh hiểu sâu, nhớ trọng và không phải ghi nhớ máy móc trong quá trình học tập, làm cho kết quả học tập
bộ môn được nâng lên
Trong quá trình dạy học môn Địa lí, giáo việc cần phải thiết kế bài dạy như thế nào để tạo được hứng thú trong học tập cho học sinh? Giáo viên tổ chức dạy học bằng cách nào để phát huy được tối đa năng lực của học sinh, giúp cho học sinh hiểu sâu, nhớ trọng và không phải ghi nhớ máy móc trong quá trình học tập nhưng vẫn nâng cao được kết quả học tập môn bộ môn? Từ thực tiễn dạy học cho thấy, đã có nhiều cánh làm khác nhau nhằm nâng cao kết quả học tập
bộ môn: như tăng cường sử dụng bản đồ, video, trò chơi,… Khi tiến hành nghiên cứu đề tài, tôi đã đặt ra giả thuyết: Đề tài có tạo được hứng thú học tập cho học sinh hay không? Đề tài có phát huy được tối đa các năng lực của học sinh trong quá trình học tập bộ môn hay không? Đề tài có giúp học sinh hiểu sâu, nhớ trọng và khắc phục được tình trạng ghi nhớ máy móc hay không? Đề tài có thay đổi được thực trạng dạy học môn Địa lí ở trường Trung học phổ thông hiện nay hay không?, Câu trả lời chắc chắn là: Khi đề tài được áp dụng
sẽ tạo được hứng thú học tập bộ môn cho học sinh, sẽ phát huy được tối đa các năng lực học tập của học sinh Đề tài sẽ giúp học sinh hiểu sâu, nhớ trọng và sẽ khắc phục được tình trạng phải ghi nhớ máy móc cho học sinh, kết quả học tập
bộ môn sẽ được nâng lên và đặc biệt đề tài sẽ thay đổi được thực trạng dạy học môn Địa Lí ở trường Trung học phổ thông hiện nay
Vậy sự đổi mới của đề tài đối với việc dạy - học môn Địa lí ở trường Trung học phổ thông được thể hiện là gì? Sự đổi mới được thể hiện: Thứ nhất, khi tổ chức cho học sinh khai thác, chiếm lĩnh kiến thức mới đã được sử dụng hình vẽ
có ‘hiệu ứng” trên PowerPoint để thay thế cho việc “đọc, ghi” theo thông tin là
kênh chữ trong sách giáo khoa (khi tổ chức hoạt động học cho học sinh, giáo
viên thường đặt ra câu hỏi và yêu cầu học sinh dựa vào sách giáo khoa để trả
Trang 4lời, còn học sinh thì tập trung vào việc đọc sách giáo khoa để viết ra các nội dung cần trả lời, công việc cứ lặp đi lặp lại nhiều lần như thế trong suốt tiết học đã gây ra tâm lí chán nản, ít hấp dẫn đối với học sinh) Thứ hai, học sinh
được thể hiện năng lực bản thân khi khai thác, chiếm lĩnh kiến thức mới bằng
hình vẽ thay cho việc chỉ “đọc, chép” các nội dung cần trả lời (hình vẽ sinh
động sẽ tạo cho học sinh tâm lí hứng thú, thu hút học sinh làm việc tích cực).
Thứ ba, kiến thức được thể hiện bằng hình vẽ sẽ giúp học sinh hiểu sâu, nhớ trọng, giảm được sức ép phải ghi nhớ máy móc, học sinh hiểu được bản chất vấn đề sâu hơn, cô đọng hơn, từ hình vẽ học sinh rèn luyện được kĩ năng liên hệ giữa kiến thức lí thuyết với thực tiễn, từ đó kết quả học tập bộ môn sẽ được nâng lên Thứ tư, kiến thức mới được thể hiện bằng hình vẽ đã thay đổi được phương pháp dạy học thuyết trình truyền thống của giáo viên
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Cũng như các môn học khác, môn Địa lí không chỉ có vai trò trong việc trang bị cho học sinh nguồn tri thức, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người Việt Nam mới Tuy nhiên, trong dạy học môn Địa lí hiện nay ở trường phổ thông đang gặp phải những khó khăn nhất định: biểu hiện rõ nhất là hiện tượng học sinh ngại học, chưa coi trọng việc tiếp cận
và lĩnh hội các kiến thức bộ môn, có những học sinh đã được giáo viên động viên, nhắc nhở về tinh thần và thái độ học tập nhưng vẫn chưa tiến bộ, Lí do
vì sao? Qua trao đổi, điều tra học sinh tôi được biết có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến thực trạng trên: như môn Địa lí là môn học được coi là “khô khan”, kém sinh động; môn Địa lí là môn không quan trọng trong kì thi tốt nghiệp Trung học phổ thông; môn Địa lí không có nhiều cơ hội lựa chọn trong tuyển sinh vào các trường Đại học, cao đẳng,… Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng trên vẫn là do việc tổ chức dạy học môn Địa lí ở các trường Trung học phổ thông vẫn còn chậm đổi mới về phương pháp dạy học, về thiết bị dạy học và cánh thức tổ chức dạy học Phương tiện dạy học chủ yếu vẫn dựa vào hệ thông kênh chữ, kênh hình trong sách giáo khoa và các bản đồ có sẵn; cách thức tổ chức dạy học phổ biến vẫn là thầy đặt câu hỏi - học trò trả lời
(học trò chỉ trả lời các câu hỏi do thầy nêu ra, do đó người học ít được phát huy năng lực của bản thân, làm cho tiết học còn khô khăn, kém sinh động, chưa lôi cuốn được học sinh tích cực tham gia, học sinh tiếp thu kiến thức mới vẫn là ghi nhớ máy móc do thầy cung cấp) và đặc biệt là giáo viên chưa đầu tư trong
khâu đổi mới thiết kế bài dạy để tạo hứng thú học tập cho học sinh
Từ thực trạng nêu trên cho thấy, vấn đề đặt ra đối với giáo viên dạy học
môn Địa lí ở trường Trung học phổ thông cần phải làm gì? Làm như thế nào để thu hút được học sinh ham thích, say mê môn học? Làm cách nào để học sinh chủ động hơn trong việc chiếm lĩnh kiến thức bộ môn? Cách thức tổ chức dạy học như thế nào để học sinh vừa chủ động chiếm lĩnh được những kiến thức, đồng thời có điều kiện để được thể hiện năng lực, kĩ năng của bản thân,… Từ
các lí do trên tôi khẳng định, việc áp dụng đề tài: Giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học mục I.2 - Bài 21: Quy luật địa đới và quy luật phi địa đới (Địa lí 10) bằng thiết kế hình vẽ có sử dụng “hiệu ứng” trên PowerPoint và câu hỏi tư
Trang 5duy vào thực tiễn dạy học sẽ tạo được hứng thú học tập cho học sinh, giúp học
sinh thay đổi được cách tiếp cận để chiếm lĩnh kiến thức mới, khắc phục được tình trạng học sinh phải ghi nhớ máy móc, phát huy được tối đa năng lực và kĩ năng của học sinh, kết quả học tập bộ môn của học sinh sẽ được nâng lên
2.3 Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
2.3.1 Thiết kế cách tiếp cận, chiếm lĩnh kiến thức mới
a Đối với lớp đối chứng
Tôi thiết kế bài dạy bằng cách đặt câu hỏi và tổ chức cho học sinh thực hiện được mục tiêu đặt ra của các câu hỏi Câu hỏi cụ thể cho từng mục như sau:
Mục I.2.a
Dựa vào thông tin mục 2.a sách giáo khoa trang 77 và kiến thức đã học, hãy: Trình bày đặc điểm phân bố của các vòng đai nhiệt trên Trái Đất
Mục I.2.b
Dựa vào hình 12.1 sách giáo khoa trang 44 và kiến thức đã học, hãy: Kể tên các đai khí áp và đới gió trên Trái Đất
Mục I.2.c
Dựa vào hình 14.1 sách giáo khoa trang 53 và kiến thức đã học, hãy: Kể tên các đới khí hậu trên Trái Đất từ cực về xích đạo
Mục I.2.d
Dựa vào hình 19.1, 19.2 sách giáo khoa trang 70 và kiến thức đã học, hãy: Kể tên các kiểu thảm thực vật và các nhóm đất trên Trái Đất từ cực về xích đạo
b Đối với lớp thực nghiệm
Tôi thiết kế bài dạy bằng cách sử dụng hình vẽ có “hiệu ứng” trên PowerPoint
và câu hỏi tư duy để tổ chức cho học sinh giải quyết 2 mục tiêu trọng tâm sau:
Thứ nhất Từ các hình vẽ, học sinh xác định đúng được sự phân bố của các
vòng đai nhiệt, các đai khí áp, các đới gió, các đới khí hậu, các nhóm đất và các kiểu thảm thực vật trên Trái Đất
Thứ hai Từ các hình vẽ và kiến thức đã học, học sinh nêu được nguyên nhân
XĐ
CỰC
CỰC
Trang 6chủ yếu tạo ra sự phân bố của các vòng đai nhiệt, các đai khí áp, các đới gió, các đới khí hậu, các nhóm đất và các kiểu thảm thực vật trên Trái Đất
2.3.2 Thiết kế chuẩn kiến thức mới
Với hai cách thiết kế bài dạy khác nhau để hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh kiến thức mới, tôi đã thiết kế thông tin chuẩn kiến thức ở hai dạng khác nhau: Với các lớp đối chứng, chuẩn kiến thức hoàn toàn là kênh chữ Còn đối với các lớp thực nghiệm, chuẩn kiến thức là hình vẽ với thông tin ngắn gọn Cụ thể:
a Đối với lớp đối chứng
Tôi thiết kế bài dạy đảm bảo các nội dung kiến thức sau:
I.2 Biểu hiện của quy luật địa đới
a Sự phân bố các vòng đai nhiệt trên Trái Đất
Trên Trái Đất có 7 vòng đai nhiệt
- Vòng đai nóng nằm giữa hai đường đẳng nhiệt năm +200C của hai bán cầu (khoảng giữa hai vĩ tuyến 300B và 300N)
- Hai vòng đai ôn hòa ở hai bán cầu nằm giữa các đường đẳng nhiệt năm +200C
và đường đẳng nhiệt +100C của tháng nóng nhất
- Hai vòng đai lạnh ở các vĩ độ cận cực của hai bán cầu, nằm giữa các đường đẳng nhiệt năm +100C và 00C của tháng nóng nhất
- Hai vòng đai băng giá vĩnh cửu bao quanh cực, nhiệt độ quanh năm điều dưới
00C
b Các đai khí áp và các đới gió trên Trái Đất
- Trên Trái Đất có 7 đai khí áp: một đai áp thấp xích đạo; hai đai áp cao chí tuyến; hai đai áp thấp ôn đới và hai đai áp cao cực
- Trên Trái Đất có 6 đới gió: hai đới gió Mậu dịch; hai đới gió Tây ôn đới và hai đới gió Đông cực
c Các đới khí hậu trên Trái Đất
Mỗi bán cầu trên Trái Đất, từ cực về xích đạo có 7 đới khí hậu: cực; cận cực;
ôn đới; cận nhiệt; nhiệt đới; cận xích đạo; xích đạo
d Các nhóm đất và kiểu thảm thực vật
- Mỗi bán cầu trên Trái Đất, từ cực về xích đạo có 10 nhóm đất: băng tuyết; đất đài nguyên; đất pốt dôn; đất nâu, xám rừng lá rộng ôn đới; đất đen, hạt dẻ thảo nguyên, đồng cỏ núi cao; đất nâu đỏ và cây bụi lá cứng; đất đỏ vàng cận nhiệt
lá cứng; đất xám hoang mạc, bán hoang mạc; đất đỏ, nâu đỏ xa van; đất đỏ vàng (feralit), đen nhiệt đới
- Mỗi bán cầu trên Trái Đất, từ cực về xích đạo có 10 kiểu thảm thực vật: hoang mạc lạnh; đài nguyên; rừng lá kim; rừng hỗn hợp và rừng hỗn hợp ôn đới; rừng cận nhiệt ẩm; rừng và cây bụi lá cứng cận nhiệt; hoang mạc, bán hoang mạc; thảo nguyên, cây bụi chịu hạn và đồng cỏ núi cao; xa van, cây bụi; rừng nhiệt đới, xích đạo
b Đối với lớp thực nghiệm
Tôi thiết kế bài dạy bằng các hình vẽ trên phần mềm PowerPoint tương ứng cho mỗi nội dung và sử dụng hệ thống các “hiệu ứng” để lần lượt thể hiện được thông tin theo trình tự Qua từng hình được trình chiếu, tôi yêu cầu học sinh tập trung quan sát, suy nghĩ để trả lời hai vấn đề sau: Thứ nhất là nhận xét về sự
Trang 7phân bố của các đối tượng Thứ hai là tìm ra nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự phân bố của các đối tượng đó Ngoài các các hình vẽ đã chuẩn bị trên phần mềm PowerPoint, tôi cũng chuẩn bị các hình vẽ tương ứng trên giấy khổ A0 để chuẩn kiến thức nếu sự cố mất điện sảy ra
Ví dụ: Mục 2.a Sự phân bố các vòng đai nhiệt trên Trái Đất
: Ranh giới các vòng đai nhiệt
Các vòng đai nhiệt trên Trái Đất
2.3.3 Tổ thức dạy học trên lớp
a Đối với lớp đối chứng
Với mục 2.a
Tôi tổ chức hoạt động học cho học sinh theo đúng trình tự với 4 bước như sau:
Bước 1: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc thông tin mục 2.a sách giáo khoa trang
77 hãy: Trình bày đặc điểm phân bố của các vòng đai nhiệt trên Trái Đất
Bước 2: Học sinh thực hiện yêu cầu (ghi tóm tắt nội dung ra giấy nháp) Giáo
viên quan sát, hỗ trợ học sinh thực hiện yêu cầu
Bước 3: Học sinh trình bày kết quả làm việc Giáo viên tổ chức cho học sinh
nhận xét và bổ sung kết quả làm việc của học sinh Giáo viên bổ sung và chuẩn kiến thức, học sinh ghi các ý chính vào vở
Bước 4: Giáo viên nhận xét về kết quả và quá trình làm việc của học sinh Với mục 2.b, 2.c và 2.d:
Giáo viên tổ chức hoạt động học theo trình tự như mục 2.a theo câu hỏi đã được thiết kế (mục 2.3.1.a của sáng kiến kinh nghiệm)
Kết luận: Với cách tổ chức dạy học như trên vẫn chưa thu hút được học sinh cả
lớp tham gia; các hoạt động học (tiếp cận, trình bày, nhận xét, bổ sung) thường chủ yếu tập chung vào số ít học sinh tích cực, năng lực học tập tốt; học sinh còn
+20 0 C +10 0 C
CỰC XĐ
CỰC
+20 0 C
Vòng đai lạnh
+0 0 C
+0 0 C
+10 0 C
Vòng đai băng giá vĩnh cửu
Vòng đai nóng
Vòng đai ôn hòa Vòng đai ôn hòa
Vòng đai lạnh
Vòng đai băng giá vĩnh cửu
300
300
Trang 8phải ghi chép nhiều nên hạn chế trong việc xây dựng bài; chưa phát huy được tối đa các năng lực (quan sát, đọc, ghi,…) trong quá trình học tập; phần lớn học sinh chưa tích cực tham gia, vẫn còn học sinh vẫn chưa làm việc và ngại ghi chép; kiến thức học sinh nắm được vẫn còn trừu tượng; kết quả thu được qua kiểm tra học sinh về nắm kiến thức mới sau khi hoàn thành bài dạy chưa đạt được như mong muốn
b Đối với lớp thực nghiệm
Tôi vẫn tổ chức hoạt động học cho học sinh theo trình tự với 4 bước như sau: Bước 1: Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát giáo viên lần lượt trình chiếu các
thông tin trên phần mềm PowerPoint theo trình tự đã thiết kế để hoàn thành hình vẽ
Bước 2: Giáo viên yêu cầu học sinh:
- Dựa vào kết quả quan sát được từ hình vẽ và thông tin ở các mục trong sách giáo khoa hãy: Nhận xét về sự phân bố của đối tượng cần tìm hiểu
- Dựa vào kiến thức đã học và vốn hiểu biết: Nêu nguyên nhân chủ yếu tạo ra
sự phân bố của các đối tượng cần tìm hiểu đó
Bước 3: Giáo viên tổ chức cho học sinh trình bày, nhận xét và bổ sung kết quả
làm việc của học sinh Giáo viên trình chiếu hoàn thành hình vẽ để chuẩn kiến thức Học sinh hoàn thành nội dung học tập bằng hình vẽ vào vở ghi
Bước 4: Giáo viên kiểm tra hình học sinh vẽ trong vở ghi, nhận xét kết quả và
quá trình làm việc của học sinh
Ví dụ:
Mục 2.a Sự phân bố các vòng đai nhiệt trên Trái Đất.
Trình tự các bước được thực hiện như sau:
Bước 1: Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát các thao tác về trình tự vẽ hình
qua các “hiệu ứng” trên phần mềm PowerPoint cụ thể sau:
- Thao tác 1: Giáo viên lần lượt trình chiếu các “hiệu ứng” trên PowerPoint để
hoàn thành thông tin về hình dạng Trái Đất, cực, xích đạo như hình dưới
CỰC
XĐ
CỰC
Trang 9- Thao tác 2: Giáo viên tiếp tục lần lượt trình chiếu các “hiệu ứng” trên
PowerPoint để hoàn thành thêm thông tin về ranh giới các vòng đai nhiệt và vĩ
độ địa lí như hình dưới
: Ranh giới các vòng đai nhiệt
- Thao tác 3: Giáo viên tiếp tục lần lượt trình chiếu các “hiệu ứng” trên
PowerPoint để hoàn thành thông tin về các đường đẳng nhiệt như hình dưới
: Ranh giới các vòng đai nhiệt
CỰC
XĐ
300
300
CỰC
CỰC
XĐ
+20 0 C +20 0 C
+0 0 C
+10 0 C +0 0 C
+10 0 C
300
300
CỰC
Trang 10Bước 2: Giáo viên yêu cầu học sinh:
- Dựa vào hình vẽ hãy: Cho biết trên Trái Đất được chia thành mấy vòng đai nhiệt? Hãy kể tên và điền đúng vị trí các vòng đai nhiệt vào hình vẽ
- Dựa vào kiến thức đã học và vốn hiểu biết: Nêu nguyên nhân chủ yếu tạo ra
sự phân bố của các vòng đai nhiệt trên Trái Đất
Bước 3: Giáo viên tổ chức cho học sinh:
- Trình bày và hoàn thành các thông tin còn thiếu trên hình vẽ Nêu nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự phân bố của các vòng đai nhiệt trên Trái Đất
- Nhận xét và bổ sung kết quả làm việc của học sinh vừa thực hiện
- Giáo viên trình chiếu hoàn thành hình vẽ và chuẩn kiến thức
: Ranh giới các vòng đai nhiệt
Các vòng đai nhiệt trên Trái Đất
- Học sinh hoàn thành nội dung học tập bằng hình vẽ vào vở ghi
Bước 4: Giáo viên kiểm tra hình học sinh vẽ trong vở ghi, nhận xét kết quả và
quá trình làm việc của học sinh
Mục 2.b, 2.c, 2.d:
Trình tự các bước được thực hiện như mục 2.a của bài học Tuy nhiên ở từng nội dung học sinh phải thực hiện được các câu hỏi, cụ thể như sau:
- Mục 2.b: + Cho biết trên Trái Đất có những đai khí áp và đới gió nào? Kể tên
và điền đúng vị trí các đai khí áp và các đới gió trên hình vẽ
+ Giải thích nguyên nhân chủ yếu tạo nên sự phân bố của đai khí áp
và đới gió trên Trái Đất?
- Mục 2.c: + Cho biết trên Trái Đất, mỗi bán cầu có mấy đới khí hậu? Kể tên và
điền đúng vị trí các đới khí hậu trên hình vẽ
+ Nêu nguyên nhân chủ yếu tạo nên sự phân bố các đới khí hậu trên
CỰC XĐ
CỰC
+20 0 C
Vòng đai lạnh
+20 0 C
+0 0 C
+10 0 C +0 0 C
+10 0 C
Vòng đai băng giá vĩnh cửu
Vòng đai nóng
Vòng đai ôn hòa Vòng đai ôn hòa
Vòng đai lạnh
Vòng đai băng giá vĩnh cửu
300
300