2.1.2 Những năng lực cần phát triển cho HS phổ thông Trang 32.1.3 Phát triển năng lực thực nghiệm hóa học cho học sinh Trang 32.2 THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BTNB VÀ BÀI TẬP ĐỊNH
Trang 12.1.2 Những năng lực cần phát triển cho HS phổ thông Trang 32.1.3 Phát triển năng lực thực nghiệm hóa học cho học sinh Trang 3
2.2 THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BTNB VÀ BÀI TẬP ĐỊNH
HƯỚNG NĂNG LỰC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NLTHHH CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC HOÁ HỌC Ở TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 3
Trang 62.3 CÁC GIẢI PHÁP
2.3.1 Hệ thống các thí nghiệm hóa học dùng trong dạy học nộ dung thực
hành phân tích định tính Điều chế và tính chất của metan Trang 72.3.2 Nguyên tắc lựa chọn nội dung để vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột nhằm phát triển
năng lực thực nghiệm hoá học trong dạy bài thực hành: Phân tích định tính Điều chế và tính
chất của metan Hoá học 11 nâng cao
Trang 72.3.3 Thiết kế bài giảng theo phương pháp bàn tay nặn bột
Trang 7
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Nghị quyết số 29–NQ/TW ngày 4/11/2013 trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Đại
hội XI của Đảng xác định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu… Đầu tư cho
giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội”, “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lí luận gắn với thực tiễn”, “Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng”.
“Bàn tay nặn bột” (BTNB) là một phương pháp dạy học tích cực, thích hợp cho việcgiảng dạy các kiến thức khoa học tự nhiên, đặc biệt là đối với môn Hoá học, khi HS đang
ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu mạnh mẽ các kiến thức khoa học, hình thành các khái niệm
cơ bản về khoa học Vì vậy, triển khai áp dụng PPBTNB theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục
và Đào tạo tại Công văn số 3535/BGDĐT – GDTrH ngày 27/5/2013 là nhiệm vụ cầnthiết; nhất là trong bối cảnh ngành Giáo dục Việt Nam đang trong giai đoạn đổi mớichương trình và sách giáo khoa mà Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể4/2017 đã đề cập đến
Do đó, việc nghiên cứu đề tài: “Sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong
giảng dạy bài 38 thực hành: Phân tích định tính Điều chế và tính chất của metan Hoá học 11 nâng cao nhằm phát triển năng lực thực nghiệm cho học sinh” là rất cần thiết.
1 2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, sử dụng phương pháp BTNB và bài tập định hướng NL trong dạy bài
38 Thực hành Phân tích định tính Điều chế và tính chất của metan Hoá học 11 chương
trình nâng cao nhằm phát triển NL TNHH cho HS THPT
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 11A35 và 11B35 trường THPT Triệu Sơn 3 năm học 2019-2020
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, đề tài sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiêncứu sau:
+ Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
– Nghiên cứu các tài liệu, cơ sở khoa học về bài tập phát triển NL, phương phápBTNB, dạy học với việc phát triển NLTH
– Nghiên cứu và phân tích nội dung, chương trình, SGK Hoá học hiện hành
– Tìm hiểu các nguồn tài liệu khác như: báo, tạp chí, Internet,
+ Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
– Quan sát quá trình học tập của HS qua các giờ học, phỏng vấn HS
– Thực nghiệm sư phạm, đánh giá hiệu quả và tính khả thi khi tổ chức dạy học thínghiệm theo phương pháp BTNB nhằm phát huy tính tích cực và NL sáng tạo của HSTHPT
+ Phương pháp xử lí thông tin
Trang 4Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong nghiên cứu khoa học giáo dục để
xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm
1.5 Những điểm mới của đề tài.
– Tổng quan và làm sáng tỏ cơ sở lí luận về đổi mới phương pháp dạy học hoá họctheo định hướng phát triển NL và NL TNHH cho HS THPT
– Điều tra, đánh giá thực trạng việc sử dụng PP BTNB và bài tập định hướng NL đểphát triển NL TNHH cho HS trong dạy học hoá học ở trường THPT
– Đề xuất phương pháp sử dụng NL thực nghiệm cho HS THPT thông qua dạy học
“bài 38 thực hành: Phân tích định tính Điều chế và tính chất của metan”Hoá học 11nâng cao
Trang 52 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
2.1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
- Việc nghiên cứu về kĩ năng thực nghiệm hoá học cho HS đã được một số tác giả nghiên cứu và đăng tải trong các tài liệu như:
– Nguyễn Phú Tuấn (2001), Hoàn thiện phương pháp sử dụng thí nghiệm hoá học
và một số thiết bị dạy học để nâng cao chất lượng dạy học hoá học ở trường phổ thông miền núi, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
– Nguyễn Thị Trúc Phương (2010), Sử dụng thí nghiệm hoá học để tổ chức hoạt
động học tập tích cực cho học sinh lớp 11 THPT, Luận văn Thạc sĩ Khoa học, Trường
Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh
– Nguyễn Thị Thanh Hà (2010),Sử dụng thí nghiệm hoá học trong dạy học phần
hoá học hữu cơ 11 theo định hướng phát triển năng lực, Luận văn Thạc sĩ Sư phạm hoá
học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
– Nguyễn Văn Phương (2014), Nâng cao hiệu quả dạy học thực nghiệm thí nghiệm
hoá học góp phần phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh, Tạp chí Giáo dục số 334,
– Nguyễn Hồng Hà (2014), Vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy
học Hoá học lớp 10 THPT, Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh.
– Lê Ngọc Vịnh, Cao Thị Thặng (2014), Thiết kế và tổ chức các hoạt động dạy học
tích cực theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” nhằm nâng cao hiệu quả dạyhọc môn Hoá học cấp trung học cơ sở, Tạp chí Khoa học Giáo dục số 109, tháng 10/2014.
– Hà Thị Thùy Quyên (2016), Xây dựng chủ đề và tổ chức dạy học tích hợp trong
chương Amin – Amino axit – Protein – Hoá học 12 theo phương pháp Bàn tay nặn bột,
Luận văn Thạc sĩ Sư phạm hoá học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội…
2.1.2 Những năng lực cần phát triển cho học sinh trung học phổ thông
- Đánh giá năng lực học sinh
- Đánh giá qua quan sát
- Đánh giá qua hồ sơ
- Tự đánh giá
- Đánh giá đồng đẳng
2.1.3 Phát triển năng lực thực nghiệm hoá học cho học sinh
- Khái niệm năng lực thực nghiệm hoá học
Hoá học là môn học gồm cả lí thuyết và thực nghiệm, vì vậy GV cần quan tâm đúngmức tới việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học ở trường phổ thông nhằm tích cực hoáhoạt động nhận thức của HS
Trang 6Theo từ điển Tiếng Việt, khái niệm NL TN được định nghĩa như sau: “ NL TN là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống”.
- Cấu trúc và các biểu hiện (tiêu chí) của năng lực thực nghiệm hoá học
NL TNHH gồm 3 NL thành phần: tiến hành TN, sử dụng TN an toàn; quan sát, mô
tả, giải thích hiện tượng TN và rút ra kết luận; xử lí thông tin liên quan đến TN[20]
- Kĩ năng lựa chọn, chuẩn bị dụng cụ, hoá chất
- Kĩ năng bố trí thiết bị thí nghiệm, thao tác thínghiệm,sử dụng hoá chất, pha chế dung dịch,…
- Mức độ chính xác của kết quả thí nghiệm
- Kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm khi làm thí nghiệm
- Ý thức bảo vệ an toàn cá nhân, chú ý về quy trình antoàn thiết bị, giữ gìn môi trường, tiết kiệm nănglượng, trong thực hành thí nghiệm
- Phân phối thời gian cho các hoạt động, thời gian hoànthành thí nghiệm
- Kĩ năng trình bày báo cáo kết quả thực hành TN– NL xử lí thông tin
Trang 72.1.4 Phương pháp bàn tay nặn bột
- Khái niệm phương pháp bàn tay nặn bột
Theo tài liệu PPDH ‘Bàn tay nặn bột’ (BTNB), tiếng Pháp là La Main à la pâte– viết tắt là LAMAP; tiếng Anh là Hands–on, là PPDH trên cơ sở của sự tìm tòi–nghiên
cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên Phương pháp được khởixướng bởi Georges Charpak (Giải Nobel Vật lí năm 1992)
Theo PP BTNB, dưới dự giúp đỡ của GV, chính HS tìm ra câu trả lời cho các vấn đềđược đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệuhay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình
Mục tiêu của PP BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoahọc cho HS Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, PP BTNB còn chú ý nhiều đếnviệc rèn luyện kĩ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho HS
- Các nguyên tắc cơ bản của phương pháp bàn tay nặn bột
Dưới đây là 6 nguyên tắc cơ bản của PP BTNB được đề xuất bởi Viện Hàn LâmKhoa học và Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp
Dạy học theo phương pháp BTNB hoàn toàn khác nhau giữa các lớp khác nhau phụthuộc vào trình độ của HS Giảng dạy theo phương pháp BTNB bắt buộc GV phải năngđộng, không theo một khuôn mẫu nhất định (một giáo án nhất định) GV được quyền biênsoạn tiến trình giảng dạy của mình phù hợp với từng đối tượng HS, từng lớp học Tuy vậy,
để giảng dạy theo phương pháp BTNB cũng cần phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:
a Học sinh cần phải hiểu rõ câu hỏi đặt ra hay vấn đề trọng tâm củabài học
HS cần thiết phải hiểu rõ câu hỏi hay vấn đề đặt ra cần giải quyết trong bài học do đóbắt buộc HS phải tham gia vào bước hình thành các câu hỏi, đồng nghĩa với việc HS cầnphải có thời gian để khám phá chủ đề của bài học, thảo luận các vấn đề và các câu hỏi đặt
ra để từ đó có thể suy nghĩ về những gì cần được nghiên cứu, phương án thực hiện nhưthế nào
b Tự làm thí nghiệm là cốt lõi của việc tiếp thu kiến thức khoa học
HS cần thiết phải tự thực hiện và điểu khiển các thí nghiệm của mình phù hợp vớihiện tượng, kiến thức mà HS quan tâm nghiên cứu vì các thí nghiệm trực tiếp là cơ sở choviệc phát hiện, hiểu các khái niệm và thông qua các thí nghiệm HS có thể tự hình thànhkiến thức liên quan đến thế giới xung quanh mình
c Tìm tòi nghiên cứu khoa học đòi hỏi học sinh nhiều kĩ năng Mộttrong các kĩ năng
cơ bản đó là thực hiện một quan sát có chủ đích.
Để hiểu rõ và phân biệt được các sự vật hiện tượng với nhau bắt buộc người họcphải rút ra được các tính chất và đặc trưng cơ bản của sự vật Nếu quan sát không có chủđích, quan sát chung chung và thông tin ghi nhận tổng quát thì sẽ không thể giúp HS sửdụng để tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi cụ thể Do đó GV cần giúp HS định hướng khiquan sát, nhằm tìm ra câu trả lời cho câu hỏi đặt ra
d Học khoa học không chỉ là hành động với các đồ vật, dụng cụ thínghiệm mà học sinh còn cần phải biết lập luận, trao đổi với các họcsinh khác, biết viết cho mình và cho người khác hiểu.
Một số trường hợp chúng ta có thể xem dạy học theo phương pháp BTNB là nhữnghoạt động thực nghiệm đơn giản Để các thí nghiệm được thực hiện đúng và thành công,
Trang 8đưa lại lí luận mới về kiến thức, HS phải suy nghĩ và hiểu những gì mình đang làm, đangthảo luận với HS khác Các ý tưởng, dự kiến, dự đoán, các khái niệm, kết luận cần đượcphát biểu rõ bằng lời hay viết, vẽ ra giấy để chia sẻ thảo luận với các HS khác Đây cũng
là một yếu tố quan trọng để GV rèn luyện ngôn ngữ nói và viết cho HS trong quá trìnhdạy học
e Dùng tài liệu khoa học để kết thúc quá trình tìm tòi – nghiên cứu
Mặc dù làm thí nghiệm trực tiếp là quan trọng nhưng không thể bỏ qua việc nghiêncứu tài liệu khoa học vì với các thí nghiệm đơn giản, nhiều khi không thể đáp ứng hết nhucầu về kiến thức cần tìm hiểu của HS và cũng không chuyển tải hết nội dung của bài học.Cần thiết phải để HS tiến hành các thí nghiệm, thảo luận tranh luận với nhau trước khiyêu cầu tìm kiếm thông tin trong tài liệu để kích thích HS nhu cầu tìm kiếm thông tin thì
sẽ mang lại hiệu quả sư phạm cao hơn là việc yêu cầu tìm kiếm thông tin thuần tuý
f Khoa học là một công việc cần sự hợp tác
Tìm tòi – nghiên cứu là một hoạt động cần sự hợp tác và kết quả phần lớn là kết quảcủa một sự hợp tác trong công việc Ngay từ việc thảo luận, hoạt động theo nhóm HScũng đã làm các công việc tương tự như hoạt động của các nhà khoa học: chia sẻ ý tưởng,tranh luận, suy nghĩ về những gì cần làm và phương pháp để giải quyết vấn đề đặt ra
- Tiến trình dạy học theo phương pháp bàn tay nặn bột
Tiến trình sư phạm của PPDH BTNB theo 5 bước cụ thể sau đây:
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu
Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án thí nghiệm
Bước 4: Tiến hành thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu
Bước 5: Kết luận, hợp thức hoá kiến thức
2.2 THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BTNB VÀ BÀI TẬP ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NLTHHH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HOÁ HỌC Ở TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 3.
Kết quả điều tra về việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học cho thấy 2/5 (40%) GVthường xuyên sử dụng thí nghiệm trong quá trình dạy học hoá học Đa số GV rấtthườngsử dụng PPDH thuyết trình 3/5(60%) Ngoài ra một số PPDH tích cực khác cũng
đã được sử dụng tuy rằng chưa nhiều như dạy học dự án 1/5 (20%), dạy học theo góc 1/5(20%) nhưng không có phản hồi nào về việc đã sử dụng phương pháp BTNB Tuy vậyqua các ý kiến thu được có thể thấy rằng phần lớn GV (80%) được hỏi đều tin tưởng vàokhả năng tác động tới NL thực nghiệm của HS khi tổ chức dạy học theo phương phápBTNB
Kết quả điều tra mức độ hiểu biết của GV Hóa học trường THPT Triệu Sơn 3 vềphương pháp BTNB cho thấy 100% GV biết về phương pháp bàn tay nặn bột nhưng vẫncòn mơ hồ về quy trình của PP BTNB (60%)
Về kết quả khảo sát về thực trạng dạy học nội dung hiđrocacbon Hoá học 11, các sốliệu tổng hợp được cho thấy rằng đa số GV đều nhận thức được mức độ cần thiết của cáckiến thức trong chương đối với HS (100%) Tuy nhiên do đây là phần kiến thức khó, cónhiều nội dung trừu tượng, mang tính hàn lâm nên GV thường gặp khó khăn khi truyền tải
Trang 9cho HS Vì vậy việc dạy học theo phương pháp bàn tay nặn bột trong nội dunghiđrocacbon là cần thiết (80%) giúp phát huy được NLTN và một số NL khác ở HS
Kết quả khảo sát bằng phiếu điều ra trên giấy thu được 88 kết quả của HS ở lớp 11A35 và 11B35
Sử dụng thí nghiệm kiểm chứng
Sử dụng thí nghiệm nghiên cứu
2.3.2 Nguyên tắc lựa chọn nội dung để vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột
nhằm phát triển năng lực thực nghiệm hoá học trong dạy bài thực hành: Phân tích định tính Điều chế và tính chất của metan Hoá học 11 nâng cao
Dựa trên 6 nguyên tắc của PP BTNB như đã trình bày, HS cần phải được quan sátmột sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận vàcác em sẽ thực hành trên những cái đó Trong quá trình tìm hiểu, HS phải lập luận, bảo vệ
ý kiến của mình, đưa ra tập thể thảo luận những ý nghĩ và những kết luận cá nhân, từ đó
có những hiểu biết mà nếu chỉ có những hoạt động, thao tác riêng lẻ không đủ tạo nên.Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho HSmột phần tự chủ khá lớn Mục tiêu chính của quá trình dạy học là giúp HS chiếm lĩnh dầndần các khái niệm khoa học và kĩ thuật, HS được thực hành kiểm chứng
+ Nội dung chứa những thí nghiệm an toàn, dễ thực hiện; các dụng cụ thí nghiệm gần gũivới HS để HS có thể tự tiến hành, tự đề xuất phương án thí nghiệm, và đưa ra hướng giảiquyết Ưu tiên phát triển các thí nghiệm với các dụng cụ tự làm, dễ kiếm trong cuộc sốnghàng ngày
+ Có nội dung để HS tự đề xuất được các phương án thí nghiệm thay thế hoặc cải tiến.+ Nội dung cần có thời lượng đủ dài để HS tự tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu đưa ra hướnggiải quyết
2.3.3 Thiết kế bài giảng theo phương pháp bàn tay nặn bột
Bài 38: Thực hành: Phân tích định tính Điều chế và tính chất của metan
I MỤC TIÊU BÀI HỌC
Kiến thức
Mức độ biết: HS có thể
– Trình bày phương pháp xác định thành phần các nguyên tố trong các hợp chất hữu cơ – Mô tả và kiểm chứng được phương pháp điều chế metan trong phòng thí nghiệm và thửđược tính chất hoá học của metan
Mức độ hiểu: HS
– Chứng minh tính chất hoá học của ankan thông qua các phản ứng hoá học.
Mức độvận dụng: HS
Trang 10– Vận dụng giải thích cho các thí nghiệm chứng minh tính chất của ankan tương tự.
– Xây dựng được phương pháp điều chế một số ankan đơn giản
– Xây dựngđược phương pháp xácđịnh thànhphần các nguyên tố trong các hợp chất hữu
– Nhận thức được tầm quan trọng của ankan trong cuộc sống
– Thực hiện các hoạt động tỉ mỉ, cẩn trọng, nghiêm túc, có tính toán
II CHUẨN BỊ
1 Phương pháp dạy học: PP BTNB.
2 Dụng cụ và hoá chất(chuẩn bị đủ cho các nhóm HS)
– Dụng cụ thí nghiệm: Ống nghiệm,đèn cồn,ống hút nhỏ giọt, cặp ống nghiệm, nút
cao su 1 lỗ, cốc thuỷ tinh 100 – 200ml, giá để ống nghiệm, bát sứ nung hoặc đế sứ, ốngdẫn khí hình chữ L có đầu nhánh vuốt nhọn
– Hoá chất: Đường kính (hoặc tinh bột, naptalen), CH3COONa đã được nghiền nhỏ,bột CuSO4, CuO, đoạn dây đồng đường kính 0,5mm,dài 20cm; NaOH, CaO, dung dịchKMnO4 1%, nước brom, nước vôi trong, CHCl3 hoặc CCl4 (hoặc đoạn vỏ nhựa bọc dâyđiện), bông
–Yêu cầu HS chuẩn bị hoàn thành một số mục (mục 1, 2, 3) trong mẫu sổ thực hành
trước (Phụ lục 4)
III TIẾN TRÌNH BÀI DẠY
Chia lớp thành các nhóm nhỏ khoảng 4–5 người/nhóm
Hoạt động 1: Tổ chức và hướng dẫn ban đầu (2 phút)
– GV nêu mục đích và nhiệm vụ của bài thực hành
– GV yêu cầu HS kiểm tra dụng cụ, hoá chất thí nghiệm
Hoạt động 2: Tiến hành thí nghiệm
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề (2 phút)
GV yêu cầu HS nhắc lại:
+ Cách xác định sự có mặt của các nguyên tố C, H trong các hợp chất hữu cơ
+ Cách điều chế và thử tính chất hoá học của metan
Câu hỏi nêu vấn đề:
1) Hãy xác định các nguyên tố có trong hợp chất saccarozơ bằng phương pháp thực hành
Trang 112) Có những cách nào để xác định sự có mặt của Cl trong các hợp chất hữu cơ sau:
vỏ dây điện, màng bọc thực phẩm (PVC), CCl4?
3) Cần làm những thí nghiệm nào để điều chế và thử tính chất hoá học của metan? Cần có những lưu ý gì để thí nghiệm để thành công?
Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu (3 phút)
HS suy nghĩ cá nhân, thảo luận nhóm trả lời các câu hỏi của GV bằng sơ đồ tư duy
GV chọn nhóm có sơ đồ đầy đủ nhất trình bày, bổ khuyết
HS có thể nêu được các câu trả lời như sau:
Cách xác định nguyên tố
C, H trong hợp chất hữu
cơ
Nhận biết nguyên tố halogen trong hợp chất
CuSO4khan chuyển màu
xanh hoặc CaCl2 khan)
Đốt cháy hợp chất hữu cơ
– Nhận biết nguyên tốhalogen trong hợp chấthữu cơ thông qua màu sắcngọn lửa của hợp chấtCuCl tạo thành trên sợidây đồng hoặc đốt cháyhợp chất hữu cơ rồi sụckhí thu được vào dungdịch AgNO3
– Metan được điều chế từ phảnứng vôi tôi xút của CH3COONa.– Metan tham gia phản ứng thếvới Cl2 trong điều kiện ánh sángkhuếch tán
– Metan tham gia phản ứng tách.– Metan tham gia phản ứngcháy
– Metan khá bền không tham giaphản ứng với NaOH, H2SO4 vàdung dịch KMnO4
Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án thí nghiệm (12 phút).
Yêu cầu HS nêu rõ điều kiện xảy ra của mỗi loại phản ứng, từ đó lựa chọn những thí nghiệm có thể thực hiện trực tiếp trong phóng thí nghiệm
GV nhận xét cho ý kiến về các câu hỏi đã đề xuất và đưa ra thêm một số nhiệm
vụ trong mỗi thí nghiệm
và cho vào ống nghiệm khô
– Cho tiếp 1 thìa thuỷ tinh bột CuO phủ kín bề mặt hỗnhợp
– Xé mỏng một núm bông và cho lên lớp bông một thìathuỷ tinh bột CuSO4 đã được làm khan và đặt lại vàoống nghiệm cách miệng khoảng 2cm
– Đậy ống nghiệm bằng nút cao su có ống dẫn khĩ vàcặp lên giá, miệng ống nghiệm hơi chúc xuống
– Đưa đầu ống dẫn khí vào ống nghiệm thứ hai có chứa
3 – 4ml dung dịch nước vôi trong– Dùng đèn cồn hơ nóng đều ống nghiệm trên giá rồitập trung đun nóng mạnh tại hỗn hợp phản ứng
Trang 12Quan sát sự biến đổi màu sắc của CuSO4 khan tronglớp bông, hơi nước ngưng đọng lại ở ống dẫn khí, dungdịch nước vôi trong ở ống nghiệm thứ hai
Trang 13Phải làm sạch dây đồng: Vì đồng để trong không khí
dễ bị oxi hoá thành thành muối đồng(I) có màu xanh
– Đậy ống nghiệm chứa hỗn hợp natri axetat và vôi tôi xút bắng nút cao su có ống dẫn khí xuyên qua và cặp lên giá thí nghiệm, miệng ống nghiệm hơi chúc xuống.– Đưa đầu ống dẫn khí vào ống nghiệm chứa đầy nước
và được úp ngược trong chậu nước
– Dùng đèn cồn hơ nóng đều ống nghiệm trên giá thí nghiệm rồi tập trung đun nóng mạnh phần có hỗn hợp phản ứng
– Quan sát bọt khí metan thoát ra, không tan trong nước, đẩy nước ra dần khỏi ống nghiệm
Làm thế nào thu Lấy vôi sống (CaO) mới nung(nhẹ và xốp), tán nhỏ, trộn