Nghiên cứu này nhằm khám phá sự nhận biết và nhận thức của công chúng về các ứng dụng ngân hàng xanh, chủ yếu các vấn đề: Tiết kiệm năng lượng (energy conservation), dễ thực hiện (easy procedures), thời gian hợp lý (time feasibility), tiết kiệm chi phí (cost effective) và tính tiếp cận sản phẩm (accessibility of product), đặc biệt là khi Ngân hàng phát triển nhà TPHCM (Housing Development Bank- HDB) trở thành ngân hàng đầu tiên của Việt nam được ngân hàng châu Á chứng nhận là ngân hàng thân thiện với môi trường nhất Việt Nam.
Trang 1Kinh tế
NHẬN BIẾT VÀ NHẬN THỨC VỀ NGÂN HÀNG XANH
TẠI VIỆT NAM
Hà Nam Khánh Giao *
TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm khám phá sự nhận biết và nhận thức của công chúng về các ứng dụng ngân hàng xanh, chủ yếu các vấn đề: tiết kiệm năng lượng (energy conservation), dễ thực hiện (easy procedures), thời gian hợp lý (time feasibility), tiết kiệm chi phí (cost effective) và tính tiếp cận sản phẩm (accessibility of product), đặc biệt là khi Ngân hàng phát triền nhà TPHCM (Housing Development Bank- HDB) trở thành ngân hàng đầu tiên của Việt nam được ngân hàng châu Á chứng nhận là ngân hàng thân thiện với môi trường nhất Việt Nam
Phương pháp thống kê mô tả dùng trung bình có trọng số (weighted mean) và mode được sử dụng, kết hợp việc sử dụng các phương tiện thống kê ANOVA, t-test và Chi-square test Kết quả cho thấy nhận thức, hiểu biết của công chúng thực sự chưa sâu, điều đó giúp cho ban quản lý ngân hàng cần có một tầm nhìn sâu sát hơn, và hoạch định những chiến lược căn cơ hơn hướng về những ứng dụng ngân hàng xanh bền vững tại Việt Nam.
Từ khóa: Ngân hàng xanh, nhận thức, hiểu biết, sản phẩm xanh Mã phân loại GEL: C12, D53, G21
AWARENESS AND AWARENESS ABOUT GREEN BANK IN VIET NAM
ABSTRACT
This study explores the public awareness and awareness of green banking applications, focusing
on issues such as energy conservation, easy procedures, and reasonable time (time feasibility), cost effective and accessibility of products, especially when Ho Chi Minh City Housing Development Bank (HDB) becomes the first bank in Vietnam Nam was certified by Asia Bank as the most environmentally friendly bank in Vietnam.
The descriptive statistical method uses weighted mean and mode used, combining the use of ANOVA, t-test and Chi-square test statistical means The results show that public awareness and understanding are not really deep, which helps bank management need to have a closer view, and plan more radical strategies towards financial applications Sustainable green goods in Vietnam.
Keywords: Green bank, awareness, understanding, green products GEL: C12, D53, G21
* PGS.TS khoa Vận tải Hàng không, Học viện Hàng không Việt Nam
Email: khanhgiaohn@yahoo.com; Điện thoại di động: 0903306363
Trang 21 GIỚI THIỆU
Ngân hàng xanh là một khái niệm mới
trong lãnh vực tài chính trong vòng hai thập kỷ
qua Việc giao dịch qua ngân hàng đòi hỏi quá
nhiều giấy tờ hàng ngày dẫn đến một yêu cầu về
ngân hàng xanh Việc vận dụng ngân hàng xanh
cũng chính là một động thái khuyến khích công
chúng chuyển dần cuộc sống thân thiện với môi
trường hơn Khái niệm ngân hàng xanh gắn liền
với Ngân hàng Tridos (Triodos Bank) thành lập
năm 1980 tại Hà Lan (Dash, 2008), nơi cổ súy
cho tính bền vững môi trường trong ngành ngân
hàng từ những ngày đầu tiên Năm 1990, ngân
hàng này cho ra đời “Quỹ xanh” (Green Fund)
nhằm đầu tư cho những dự án thân thiện với môi
trường và những dự án có liên quan tiếp theo
Viện Nghiên cứu và Phát triển Công
nghệ Ngân hàng (Institute for Development and
Research in Banking Technology- IDRBT) định
nghĩa “Ngân hàng xanh là một thuật ngữ tổng
quát liên quan đến các ứng dụng và hướng dẫn
làm cho các ngân hàng được bền vững trong
các bối cảnh kinh tế, môi trường và xã hội Nó
nhằm làm cho các quy trình ngân hàng và các
nền tảng hạ tầng công nghệ và công nghệ thông
tin đạt được hiệu quả tốt nhất có thể, mà không
hoặc chịu ảnh hưởng thấp nhất từ môi trường”
(IDRBT, 2013)
Ngân hàng xanh có nghĩa là khuyến
khích các ứng dụng thân thiện với môi trường
và giảm thiểu các giấy mực in trong các hoạt
động ngân hàng Ngân hàng xanh có lợi cho cả
khách hàng, ngân hàng, các ngành công nghiệp,
và cả cho nền kinh tế nói chung Như vậy, ngân
hàng xanh bao gồm hai lãnh vực chính, thứ nhất,
sử dụng hợp lý tất cả các nguồn lực, nguồn năng
lượng và giảm thiểu các vật phẩm in ấn, thứ hai,
khuyến khích và tài trợ cho các hoạt động, các
dự án thân thiện với môi trường Vậy, ngân hàng
xanh không chỉ có ý nghĩa về sử dụng bền vững
các nguồn lực mà còn là cấp phát tín dụng cho
những dự án thân thiện với môi trường
Hoạt động của ngân hàng xanh có vẻ rất
hứa hẹn vì rằng nhiều sản phẩm và dịch vụ xanh được trông chờ xuất hiện trong tương lai Trên thế giới, đã có nhiều giải thưởng và vinh danh Xanh, các đại diện đánh giá Xanh, tính dụng Xanh, bảo hiểm Xanh, kế toán Xanh… cùng với nhiều ứng dụng khác đang được triển khai
và mong đợi trong tương lai Các ngân hàng có thể hành xử như một chỉ dẫn về một chuyển đổi kinh tế và tạo ra một nền tảng tạo nhiều cơ hội cho các chính sách tài trợ và đầu tư và đóng góp
để tạo ra một nền kinh tế ít mực in
Việt Nam cũng như nhiều quốc gia đã và đang hướng tới phát triển bền vững Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định 1393/QĐ -TTg phê duyệt chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh Có lẽ nhiều người nghĩ rằng, tăng trưởng xanh chỉ liên quan tới các lĩnh vực, ngành nghề hoạt động liên quan tới môi trường Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện thể chế tín dụng cho phù hợp với mục tiêu tăng trưởng xanh đã thúc đẩy các ngân hàng thương mại thực hiện một số hoạt động về ngâ hàng xanh (Chí Kiên, 2020)
Đến ngày 20/10/2015, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định 2183/QĐ-BTC phê duyệt Kế hoạch hành động của ngành tài chính thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020, trong đó chỉ ra rất
rõ việc phải hoàn thiện khung chính sách về thị trường vốn xanh, một Sở Giao dịch Chứng khoán bền vững với việc phát hành trái phiếu cho các dự án, chương trình và lĩnh vực xanh (Mai Thư và Thu Hương, 2015)
Ngày 12/09/2019, Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển TPHCM (HDBank) vừa được Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) trao giải thưởng “Green Deal Award” tại Singapore, đây là giải Ngân hàng xanh của ADB được trao cho duy nhất một trong các ngân hàng thành viên trên toàn cầu của chương trình Trade Finance Program (TFP) năm 2019 (M.H., 2019)
Điều đó cho phép các tổ chức tài chính
Trang 3Việt Nam, bao gồm cả các ngân hàng bắt đầu
cuộc hành trình hướng tới những tài chính xanh,
cổ phiếu xanh, trái phiếu xanh, ngân hàng xanh
và những khái niệm tương tự (Trần Trọng Triết,
2017) Và đó cũng là dự định phát triển chung
của nền kinh tế Việt Nam
2 CÁC SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ NGÂN
HÀNG XANH
2.1 Ngân hàng bán lẻ (retail banking):
• Cho vay có tài sản thế chấp xanh (Green
Mortgages): phương thức này giúp cho khách
hàng cá nhân, chuẩn bị mua nhà có các hiệu ứng
xanh, có được khoản vay xanh với lãi suất thấp
hơn lãi suất thị trường Phương phức này giúp
họ đầu tư các vật dụng tiết kiệm năng lượng
• Vay thế chấp tài sản nhà xanh (Green
Home Equity loans): có thể được coi là khoản
vay có tài sản thế chấp thứ cấp nhằm hỗ trợ các
gia đình lắp đặt các hệ thống công nghệ năng
lượng mới tại nhà
Commercial Building loans): bảo vệ môi trường
là nghĩa vụ của mỗi công dân, bao gồm cả các
khoản vay khi xây dựng các công trình xây dựng
xanh, ít tiêu tốn năng lượng, ít xả thải hơn các
công trình truyền thống
• Vay mua xe xanh (Green Car loans): lãi
suất thấp hơn lãi suất thị trường sẽ khuyến khích
các khoản vay mua xe xanh nhằm mua các loại
xe tiết kiệm nhiên liệu
• Thẻ xanh (Green Cards): một loạt các
sản phẩm xanh bao gồm thẻ thẻ tín dụng (credit
card) và thẻ ghi nợ (debit card) có liên quan đến
các hoạt động môi trường Loại thẻ xanh này
được nhiều công ty thẻ tín dụng cung cấp nhằm
tạo ra các khoản tài trợ từ các tổ chức phi chính
phủ tương đươngvới khoảng 1,5% mỗi khoản
mua hàng, khi chủ thể mua bằng tiền mặt hay
thanh toán chuyển khoản
2.2 Ngân hàng đầu tư doanh nghiệp
(Cor-porate Investment banking)
• Tài trợ dự án xanh (Green Project
Fi-nance): hiện nay, một số ngân hàng sẵn sàng chấp nhận các dự án tái tạo năng lượng lớn Vì vậy, họ có thể thiết lập cả những phòng ban liên quan nhằm hỗ trợ các công ty thực hiện các dự
án, hệ thống tái tạo năng lượng lớn
• Chứng khoán xanh (Green Securitiza-tion): nhiều kỹ thuật chứng khoán hóa môi trường bắt đầu nổi lên, bao gồm trái phiếu rừng (forest bond), chương trình thử nghiệm chứng khoán sinh thái (eco securitization pilot pro-gram) và chứng khoán bảo đảm xanh (green mortgage-backed securities)
• Quỹ đầu tư mạo hiểm xanh (Green Ven-ture Capital) và Quỹ cổ phần riêng xanh (Green Private Equity): Khi tung ra các khoản tài trợ trên thị trường vốn, chúng ta có thể thấy rằng có nhiều cân nhắc cho các vấn đề môi trường Một
số ngân hàng có thể đóng vai trò chủ chốt trong việc hỗ trợ phát hành cổ phiếu cho những nhà cung ứng công nghệ sạch, những nhà cung cấp những sản phẩm và dịch vụ có thức bảo vệ môi trường cao
• Chỉ số xanh (Green Index): Một số ngân hàng phát triển các chỉ số dao động theo các cơ hội và thách thức môi trường
2.3 Quản trị tài sản (Asset Manage-ment)
• Quỹ tài chính xanh (Green Fiscal fund): Bằng việc mua cổ phiếu của một quỹ xanh và đầu tư tiền vào một ngân hàng xanh, công dân
có thể được miễn trả thuế vốn và nhận được khoản giảm trừ thuế thu nhập
• Quỹ đầu tư xanh (Green Investment fund): các quỹ đầu tư bền vững đã tiến hóa qua
ba thế hệ, và tính phức tạp trong việc tiếp cận nguồn vốn từ các quỹ này ngày càng giảm đi nhiều
• Quỹ khí thải (Carbon Fund): sự hợp tác giữa các ngân hàng phát triển đa chiều với các thể chế tài chính tư nhân dẫn đến hình thành các quỹ khí thải nhằm tài trợ cho các dự án giảm khí thải nhà kính nhằm giảm thiểu ảnh hưởng xấu của biến đổi khí hậu
Trang 42.4 Bảo hiểm (Insurance)
• Bảo hiểm xanh (Green Insurance): Loại
bảo hiểm bao gồm hai lãnh vực sản phẩm
- Các sản phẩm bảo hiểm với mức phân
loại bảo hiểm dựa trên cơ sở các đặc trưng liên
quan đến môi trường
- Các sản phẩm bảo hiểm được điều chỉnh
đặc biệt cho công nghệ sạch và các hoạt động
giảm thiểu khí thải
• Bảo hiểm khí thải (Carbon Insurance):
Có nhiều rủi ro từ những vấn đề giảm thiểu khí
thải, cũng như những hoạt động phát triển và
đánh giá các dự án khí thải thấp Nhằm đáp ứng
điều đó, một số thể chế tài chính cung cấp sản
phẩm nhằm quản lý mức biến động từ các vấn
đề giảm thiểu khí thải
3 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
Từ khi ra đời, khái niệm ngân hàng
xanh đã thu hút nhiều nghiên cứu trên thế giới
(Morelli, 2011; Angelos and George, 2011; Broto
and Aarushi, 2013; Goodland, 1995; Goyal and
Joshi, 2011) Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên
cứu chuyên sâu về dịch vụ (Hà Nam Khánh
Giao, 2018), tuy vậy, chưa có nhiều nghiên cứu
về phát triển xanh, có một vài nghiên cứu về
tiêu dùng xanh (Hà Nam Khánh Giao & Đinh thị
Kiều Nhung, 2018), nhưng có có những nghiên
cứu đáng lưu ý về ngân hàng xanh
Trong những năm gần đây, các nhà
nghiên cứu Tây Á chú trọng nhiều đến ngân
hàng xanh: Deepa và Karpagam (2018) nghiên
cứu nhận biết của khách hàng về ngân hàng
xanh tại các ngân hàng tư nhân và nhà nước
tại bang Tirupu, Ấn độ cho thấy các nhóm tuổi
khác nhau có nhận biết khác nhau Subrata và
ctg (2017) nghiên cứu về nhận biết và nhận
thức của khách hàng về ngân hàng xanh tại
bang Sylhet, Bangladesh cho thấy khách hàng
nhận biết nhiều hơn về ngân hàng qua tin nhắn
(SMS banking) Prakash và Pappu (2017) cho
thấy khách hàng nhận biết và nhận thức tốt hơn
về ngân hàng xanh đối với các ngân hàng nhà nước lớn Satheesh (2017), Omid và ctg (2015) lại chỉ ra rằng khách hàng tại các ngân hàng tư nhân nhỏ cùng với nhân viên ngân hàng nhận biết và nhận thức tốt hơn về ngân hàng xanh so với công chúng, do vậy các ngân hàng nhà nước cần làm nhiều hơn nữa để giúp công chúng tiếp cận với hệ thống ngân hàng xanh Ganesan và Bhuvaneswari (2016) chỉ ra rằng học vấn tác động lớn đến nhận biết và nhận thức về ngân hàng xanh
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thống kê mô tả dùng trung bình có trọng số (weighted mean) và mode được
sử dụng cho nghiên cứu này, kết hợp việc sử dụng các phương tiện thống kê khác được dùng
là ANOVA, t-test và Chi-square test (Hà Nam Khánh Giao và Bùi Nhất Vương, 2019)
Nghiên cứu khảo sát trực tiếp các khách hàng tại các cơ sở của các ngân hàng Phát triển nhà TPHCM (HDB), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (Bank for Investment and Development of Vietnam- BIDV), Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank- VCB) trong giờ làm việc, bản thân nhà nghiên cứu phỏng vấn trực tiếp Khách hàng nói chung là tổng thể của nghiên cứu, trong khi mẫu được chọn thuận tiện từ các nơi làm việc của ngân hàng Tổng số cá thể trong mẫu
là 90, mỗi ngân hàng là 30 Việc khảo sát được thực hiện nhanh trong tháng 11 và 12/2019
5 PHÂN TÍCH KHẢO SÁT VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
Thống kê mô tả mẫu được trình bày trong Bảng 1 Bảng 2 đến Bảng 5 trình bày sự nhận biết của khách hàng về ngân hàng xanh Bảng 6 đến Bảng 11 trình bày nhận thức của khách hàng về ngân hàng xanh
Trang 5Bảng 1: Các yếu tố nhân chủng
Giới tính
Tuổi
Tình trạng gia đình
Trình độ học vấn
Nghề nghiệp
(Nguồn: xử lý dữ liệu thu thập)
5.1 Nhận biết (Awareness) về ngân hàng xanh
Bảng 2 cho thấy sự nhận biết về hoạt động ngân hàng xanh tại các ngân hàng
Bảng 2: Nhận biết về hoạt động ngân hàng xanh
Nhận biết các hoạt động ngân hàng xanh HDB BIDV VCB Total
(Nguồn: xử lý dữ liệu thu thập)
Bảng 2 cho thấy hơn 50% khách hàng
nhận biết về hoạt động ngân hàng xanh tại các
ngân hàng nhưng chưa sử dụng Chỉ 38% khách
hàng nhận biết và sử dụng hoạt động ngân hàng
xanh tại các ngân hàng
H 0 : không có sự khác biệt về mức độ nhận biết
và nhận biết qua các ngân hàng
H 1 : có sự khác biệt về mức độ nhận biết và nhận biết qua các ngân hàng
Trang 6Bảng 3: Anova hai nhân tố
TỔNG HỢP Lần Tổng Trung bình Phương sai
ANOVA
(Nguồn: xử lý dữ liệu thu thập)
Bảng 2 về ANOVA hai chiều cho thấy có
sự khác biệt về mức độ nhận biết, nhưng không có khác biệt về nhận thức qua các ngân hàng
Bảng 4: Nhận biết của khách hàng về các ứng dụng ngân hàng xanh
SỬ DỤNG và sử dụng Nhận biết nhưng không Nhận biết
sử dụng
Không nhận biết Tổng
(Nguồn: xử lý dữ liệu thu thập)
Bảng 4 cho thấy sự nhận biết của cơ cấu
6 dấu hiệu ngân hàng xanh chính của khách hàng
Như vậy, đa số khách hàng đều nhận biết rằng
dùng thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ, tránh dùng hóa
đơn giấy, và sử dụng mobile banking là nhưng
dấu hiệu của ngân hàng xanh Trong khi đó, đáng ngạc nhiên là việc sử dụng ngân hàng qua mạng, nhận thông tin điện tử, và dùng máy nạp tiền lại
có sự nhận biết khá kém của khách hàng rằng đây
là những dấu hiệu của ngân hàng xanh
Bảng 5: Tác động trước và sau của ngân hàng xanh về tiết kiệm năng lượng
Ngân hàng Tiết kiệm năng lượng Tỷ lệ tiết kiệm
Trước ngân hàng xanh Sau ngân hàng xanh
(Nguồn: xử lý dữ liệu thu thập)
Bảng 5 cho biết tác động của khái niệm
ngân hàng xanh đến tiết kiệm năng lượng Đáp
viên được yêu cầu cho điểm tiết kiệm năng lượng
một con số tương đối, tối đa là 100 và tối thiểu là
0 Kết quả cho thấy khách hàng tại cả 3 ngân hàng đều đánh giá khá tốt về tiết kiệm năng lượng
Trang 7H 0 : không có khác biệt trước – sau của các ứng
dụng ngân hàng xanh về tiết kiệm năng lượng H 1 : có khác biệt trước – sau của các ứng dụng ngân hàng xanh về tiết kiệm năng lượng.
Bảng 6: t-Test so sánh trung bình nhóm trước – sau về tiết kiệm năng lượng
Tham số Trước ngân hàng xanh Sau ngân hàng xanh
(Nguồn: xử lý dữ liệu thu thập)
Bảng 6 cho thấy có sự khác biệt trước- sau áp dụng ngân hàng xanh về tiết kiệm năng lượng
5.2 Nhận thức (Perception) của khách hàng về ứng dụng ngân hàng xanh
Bảng 7: Điểm trung bình của các ngân hàng về các thông số nhận thức Nhận thức về ngân hàng xanh HDB BIDV VCB Trung bình
(Nguồn: xử lý dữ liệu thu thập)
Bảng 7 cho biết điểm trung bình của các
ngân hàng về các thông số nhận thức ngân hàng
xanh, theo đó 0 là thấp nhất và 10 là tối đa Điểm
được tính trung bình từ 30 đáp viên mỗi ngân hàng
Điểm trung bình cao nhất 7,17 của tất cả
ngân hàng cho thấy các đáp viên nhận thức rằng
ngân hàng xanh giúp giảm chi phí, sau đó là tiết
kiệm năng lượng, sự sẵn có sản phẩm, thời gian
linh hoạt và dễ sử dụng HDB sắp đầu với điểm trung bình 7,04, theo đó là BIDV và VCB
H 0 : không có sự khác biệt về sự phụ thuộc của nhận biết khách hàng theo các yếu tố nhân chủng
H 1 : có sự khác biệt về sự phụ thuộc của nhận biết khách hàng theo các yếu tố nhân chủng.
Bảng 8: Nhận thức của khách hàng theo giới tính
Nhận thức về ngân hàng xanh Nam Nữ Tổng
(Nguồn: xử lý dữ liệu thu thập)
Trang 8Chi-square test được dùng để xem xét sự
khác biệt về sự phụ thuộc của nhận biết khách
hàng theo giới tính Kết quả cho thấy chấp nhận
giả thuyết H0 ở mức ý nghĩa 5%, không có sự khác biệt về sự phụ thuộc của nhận biết khách hàng theo giới tính
Bảng 9: Nhận thức của khách hàng theo độ tuổi
Nhận thức về ngân hàng xanh 20 - 29 30 - 39 40 - 49 Trên 50 Tổng
(Nguồn: xử lý dữ liệu thu thập)
Chi-square test được dùng để xem xét
sự khác biệt về sự phụ thuộc của nhận biết
khách hàng theo độ tuổi Kết quả cho thấy bác
bỏ giả thuyết H0 ở mức ý nghĩa 5%, có sự khác biệt về sự phụ thuộc của nhận biết khách hàng theo độ tuổi
Bảng 10: Nhận thức của khách hàng theo trình độ học vấn
Nhận thức về ngân hàng xanh thông Phổ Trung cấp, cao đẳng Đại học Sau Đại học Khác Tổng
(Nguồn: xử lý dữ liệu thu thập)
Chi-square test được dùng để xem xét sự
khác biệt về sự phụ thuộc của nhận biết khách
hàng theo trình độ học vấn Kết quả cho thấy bác
bỏ giả thuyết H0 ở mức ý nghĩa 5%, có sự khác biệt về sự phụ thuộc của nhận biết khách hàng theo trình độ học vấn
Bảng 11: Nhận thức của khách hàng theo nghề nghiệp
Nhận thức về ngân
hàng xanh
Kinh doanh Chuyên môn cao Nông dân
Viên chức Nội trợ Sinh viên Khác Tổng
(Nguồn: xử lý dữ liệu thu thập)
Chi-square test được dùng để xem xét sự
khác biệt về sự phụ thuộc của nhận biết khách
hàng theo nghề nghiệp Kết quả cho thấy bác bỏ
giả thuyết H0 ở mức ý nghĩa 5%, có sự khác biệt
về sự phụ thuộc của nhận biết khách hàng theo nghề nghiệp
Trang 96 NHỮNG PHÁT HIỆN CHÍNH
Đa số khách hàng nhận biết khái niệm
ngân hàng xanh, nhưng sử dụng chưa nhiều
(hơn 50%) Điều này có thể do trình độ văn
hóa trong mẫu nghiên cứu chưa cao, những
khó khăn trong thực hiện, thiếu những chương
trình khuyến mãi, thiếu nhận biết về nội dung
cơ bản của ngân hàng xanh Cũng có thể do các
ngân hàng trong mẫu nghiên cứu vận dụng cùng
những ứng dụng ngân hàng xanh, và tiếp cận
khách hàng theo cùng cách
Đa số (61 đáp viên) nhận biết và sử dụng
ngân hàng xanh nhằm tránh các hóa đơn giấy
Số ít (18 đáp viên) nhận biết và sử dụng ngân
hàng xanh dùng máy gởi tiền Trong số các đáp
viên nhận biết nhưng không sử dụng ngân hàng
xanh sử dụng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ (48 đáp
viên), ít nhất trong loại này là tránh sử dụng hóa
đơn giấy Đáp viên không nhận biết ngân hàng
xanh về nhận thông tin điện tử
Tiết kiệm năng lượng được nhận thức là
tốt sau khi ứng dụng ngân hàng xanh
HDB được nhận thức ngân hàng xanh tốt
nhất với số điểm 7,04, theo sau là BIDV 6,6 và
VCB 6,42
Mức độ nhận thức của khách hàng về
ngân hàng xanh phụ thuộc vào tuổi tác, trình độ
học vấn, nghề nghiệp, nhưng không chịu ảnh
hưởng bởi giới tính
7 ĐỀ XUẤT CÁC HÀM Ý QUẢN TRỊ
Đa số khách hàng nhận biết khái niệm
ngân hàng xanh, nhưng sử dụng chưa nhiều Do
vậy, trách nhiệm của các ngân hàng là hấp dẫn
khách hàng sử dụng ngân hàng xanh nhiều hơn,
có thể bằng việc huấn luyện phù hợp cho khách
hàng, làm ra các video hướng dẫn quy trình
sử dụng, và có thể dành hẳn một số nhân viên
chuyên trách lãnh vực này Đáp viên không chú
ý lắm đến thông tin điện tử, trong khi chính việc
này tránh nhiều giao dịch bằng giấy, ngân hàng
cần chú ý đến điều này để thực thi các chính
sách có liên quan về bắt buộc, hay khuyến khích
sử dụng càng nhiều giao dịch điện tử
Mức độ nhận thức của khách hàng về
ngân hàng xanh phụ thuộc vào tuổi tác, trình độ
học vấn, nghề nghiệp, nhưng không chịu ảnh
hưởng bởi giới tính Như vậy, các ngân hàng cần chú trọng khuyến mãi ngân hàng xanh đến các lứa tuổi thành niên, có học thức và có nghề nghiệp phụ thuộc công nghệ Đối với những thành phần khác, ngân hàng cũng cần chú ý hấp dẫn họ bằng các cách thức linh hoạt hơn như các đoạn phim hoạt náo, các chiến dịch nhận biết tại các vùng nông thôn, và xem xét chính sách chi phí phù hợp cho những nghề không phụ thuộc công nghệ
8 KẾT LUẬN
Xanh là một thuật ngữ mơ hồ, đã trở nên phổ biến trong những thập niên gần đây của thế kỷ 21 Thuật ngữ này càng gây chú ý nhiều hơn khi cảnh báo từ mực nước biển dâng cao do tình trạng tan chảy bang tại các cực, và nhiệt độ trung bình nóng dần lên Toàn thế giới đã đồng lòng cố gắng giảm thiểu các loại giấy mưc in sau Nghị định thư Kyoto (Kyoto Protocol) tại Tokyo Điều này dẫn dắt con người đến suy nghĩ tích cực về xanh trong từng bước đi Ngân hàng đóng vai trò to lớn trong cuộc sống hiện nay, do vậy, các hoạt động ngân hàng cũng phải xanh Nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ nhận biết và nhận thức của khách hàng đối với ngân hàng xanh Nghiên cứu có kết quả đa số khách hàng nhận biết nhưng chưa sử dụng ngân hàng xanh, vẫn còn có những khách hàng không ấn tượng gì với ngân hàng xanh Như vậy, không chỉ ngân hàng, cộng đồng cần hiểu biết tính nghiêm túc của vấn đề, và cần tìm mọi cách để công chúng hiểu rõ rằng đây chính là chi phí sống của từng người, từ đó mới có thể chung tay
có những hành động thích hợp
9 CÁC HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU
Mặc dù đã đạt được mục tiêu, nghiên cứu không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định: Thứ nhất, nghiên cứu dựa hoàn toàn vào thông tin sơ cấp, được chia đều cho 3 ngân hàng HDB, BIDV, VCB, với độ lớn mẫu 90, và phương pháp chọn mẫu thuận tiện, chưa bảo đảm tốt cho khái quát hóa kết quả Thứ hai, nghiên cứu này chỉ chú trọng đến nhận biết và nhận thức chứ không liên quan đến việc chẩn đoán các tác động Đó cũng chính là định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo
Trang 10TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Angelos Papastergiou & George Blanas
(2011) Sustainable Green Banking: The
Case of Greece Papastergiou-Blanas, pp
204-215
2 Broto Rauth Bhardwaj & Aarushi Malhotra
(2013) Green Banking Strategies:
Sustain-ability through Corporate Entrepreneurship
Greener Journal of Business and
Manage-ment Studies, 3 (4), pp 180-193.
3 Chí Kiên (2020) https://www.baovietbank
vn/vi/tin-tai-chinh-ngan-hang/tuong-lai-la-hoat-dong-cua-ngan-hang-xanh
4 Dash, R N (2008) Sustainable Green
Banking: The Story of Triodos Bank Cab
Calling, pp.26-29.
5 Deepa P & Dr Karpagam C R (2018) A
study on Customer’s awareness on green
banking in selected public and private
sector banks with reference to Tirupu
International Journal of Advanced Research
and Development, 3(1), pp 58-63.
6 Ganesan R & Bhuvaneswari A (2016)
Customer Perception towards Green
Banking Journal of Economics and Finance,
7(5), pp 5-17
7 Goodland, R (1995) The Concept of
Environment Sustainability Annual Review
of Ecology and Systematics, 26, pp 1-24.
8 Goyal, K.A & Joshi, V (2011) A Study
of Social and Ethical Issues In Banking
Industry International Journal Economic
Research, 2(5), pp.49-57.
9 Hà Nam Khánh Giao & Đinh thị Kiều
Nhung (2018) Một số yếu tố ảnh hưởng đến
hành vi tiêu dùng xanh tại TPHCM Tạp chí
Khoa học- Đại học Đồng Tháp, Số 30, tháng
2-2018, trang 46-55 DOI: 10.31219/osf.io/
sh7mf
khảo Đo lường chất lượng dịch vụ tại Việt
Nam- Nhìn từ phía khách hàng Nhà Xuất
bản Tài chính, Hà Nội DOI: 10.31219/osf
io/cqh68 ISBN: 978-604-79-1788-4
11 Hà Nam Khánh Giao & Bùi Nhất Vương
(2019) Giáo trình Cao học Phương pháp
nghiên cứu khoa học trong kinh doanh- Cập
nhật Smart PLS Nhà Xuất bản Tài chính,
Hà Nội DOI: 10.31219/osf.io/hbj3k ISBN:
978-604-79-2154-6
12 Institute for development and research in banking technology (2013) Green Banking www.idrbt.ac.in/ /Green%20Banking%20 Frame work%20 Truy cập 10/11/2019
13 M.H (2019) https://baodautu.vn/hdbank- tro-thanh-ngan-hang-viet-dau-tien-nhan-giai-ngan-hang-xanh-cua-adb-d107233 html Truy cập ngày 10/11/2019
14 Mai Thư & Thu Hương (2015) https:// tinnhanhchungkhoan.vn/chung-khoan/ phat-trien-chung-khoan-xanh-dan-tro-thanh-hien-thuc-133433.html Truy cập ngày 10/11/2019
sustainability: A definition for environmental
professionals Journal of Environmental
Sustainability, 1, pp 19-27.
16 Omid Sharifi, Bentolhoda Karbalaei Hossein (2015) Green Banking and Environment Sustainability by Commercial Banks in
India International Journal of Science
Technology and Management, 4(11), pp
294-304
17 Prakash Raj G and Pappu Rajan A (2017)
A study on the Customer Awareness on
Green Banking Initiatives Intercontinental
Journal of Finance Research Review, 5(7),
pp 54-65
18 Satheesh Kumar C (2017) A study on Customers Awareness on Green Banking Initiatives in Selected Private Sector Banks with reference to Kunnamkulam
Municipality International Journal of
Economics and Management Studies, 4(3),
pp 40-42
19 Subrata Koiry et.al (2017) Awareness and Perception of Bank Customers towards Green Banking in Sylhet District of
Bangladesh Asian Journal of Economics,
Business and Accounting, 5(2), pp 1-12.
20 Trần Trọng Triết (2017) http://tapchithue com.vn/doanh-nghiep-thi-truong/11075-trai-phieu-sanh.html Truy cập ngày 15/02/2020