3 CHƯƠNG MỞ ĐẦU BÀ RỊA - VŨNG TÀU VÙNG ĐẤT ĐỊA ĐẦUCỦA MIỀN ĐÔNG NAM BỘ --- 1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu: Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được thành lập theo Ngh
Trang 1BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HÀ NỘI - 2000
Trang 21
Chịu trách nhiệm nội dung
BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Ban chỉ đạo
TRẦN VĂN KHÁNH - VÕ NGỌC MINH PHẠM VĂN HY - LÊ THÀNH BA
LÊ VĂN THÂM - NGUYỄN VĂN NHÂN
Trang 32
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, đầy hào hùng và rực rỡ chiến công của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là vành đai xung yếu bao quanh Sài Gòn, là nơi tranh chấp ác liệt giữa ta và địch Vốn có truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm, nhân dân Bà Rịa - Vũng Tàu dưới
sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ tỉnh đã cùng nhân dân cả nước đứng lên kháng chiến, dũng cảm vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, hy sinh, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc, giải phóng quê hương, thống nhất đất nước
Ngày nay, quân và dân toàn tỉnh đang đoàn kết phấn đấu thực hiện đường lối đổi mới, xây dựng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phồn vinh, giàu đẹp trên vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Tổ quốc Nhằm góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng vẻ vang, nâng cao lòng tự hào và ý thức trách nhiệm trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và thiết thực kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; 25 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; 110 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; 55 năm ngày Cách mạng Tháng Tám và Quốc Khánh 2-9…, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia tổ chức
biên soạn và xuất bản cuốn sách: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tập I
(1930-1954)
Cuốn sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tập I (1930-1954) ra đời
nhằm ghi lại quá trình xây dựng và phát triển của Đảng bộ tỉnh, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ với phong trào đấu tranh cách mạng của quân và dân trong tỉnh giai đoạn 1930-1954, một giai đoạn cực kỳ quan trọng và vẻ vang của lịch sử cách mạng tỉnh nhà
Do các sự kiện lịch sử đã diễn ra quá lâu, trong điều kiện chiến tranh, tư liệu thành văn thiếu thốn, nhiều nhân chứng lịch sử đã qua đời, nên cuốn sách khó tránh khỏi thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc
Tháng 5-2000
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 43
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
BÀ RỊA - VŨNG TÀU VÙNG ĐẤT ĐỊA ĐẦUCỦA MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
-
1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu:
Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được thành lập theo Nghị quyết kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá VIII, ngày 12 tháng 8 năm 1991, gồm năm đơn vị hành chính: thành phố Vũng Tàu, huyện Côn Đảo (thuộc Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo) và các huyện: Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc (thuộc tỉnh Đồng Nai) Ngày 2 tháng 6 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 45/CP chia huyện Châu Thành thành ba đơn vị hành chính là thị xã Bà Rịa, huyện Châu Đức và huyện Tân Thành
Bà Rịa-Vũng Tàu là cửa ngõ phía Đông của Sài Gòn - Gia Định và miền Đông Nam Bộ Phần đất liền của Bà Rịa-Vũng Tàu được xác định trên toạ độ địa lý từ 10o20' đến 10o45' vĩ Bắc và từ 107o đến 107o35' Kinh Đông, phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía Nam là biển Đông, phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận và phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh Quần đảo Côn Lôn với tên thường gọi là Côn Đảo bao gồm 16 hòn đảo, cách Vũng Tàu 97 hải lý
Diện tích toàn tỉnh là 2047,66 km2, tương đương với thành phố Hồ Chí Minh, bằng một phần ba tỉnh Đồng Nai, chiếm gần 0,6% diện tích của cả nước, song tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu còn quản lý hơn 100.000 km2 thềm lục địa Nam biển Đông, vốn có tiềm năng kinh tế hết sức to lớn và quan trọng, đồng thời cũng là một vị trí chiến lược đối với
an ninh, quốc phòng Thềm lục địa và vùng biển Côn Đảo, Vũng Tàu tiềm tàng nguồn tài nguyên dầu khí, đồng thời là một ngư trường rộng lớn
Bà Rịa -Vũng Tàu nằm trên các trục đường giao thông quan trọng về cả thủy, bộ
và nằm gần các trung tâm kinh tế của miền Nam, là cửa ngõ giao lưu kinh tế, văn hoá của các vùng trong quá khứ cũng như hiện tại Với địa thế ấy, Bà Rịa-Vũng Tàu ở vào một vị trí rất năng động của khu vực, là đầu cầu quan trọng của vùng động lực, tam giác kinh tế-văn hoá thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hoà và Vũng Tàu Ưu thế vị trí ấy được nhân lên khi điều kiện tự nhiên, hệ sinh thái môi trường vốn cũng rất ưu đãi cho mảnh đất Bà Rịa-Vũng Tàu
Địa hình Bà Rịa-Vũng Tàu là sự chuyển tiếp giữa cao nguyên và đồng bằng cực Nam Trung bộ với châu thổ đồng bằng sông Cửu Long nên địa thế không cao lắm và có
xu hướng thấp dần theo quá trình chuyển tiếp từ Bắc xuống Nam Địa hình Bà Rịa-Vũng Tàu có sự phân biệt địa hình rõ rệt qua ba dạng: vùng đồi núi thấp, bậc thềm phù sa cổ
và đồng bằng ven biển
Miền đồi núi thấp của Bà Rịa-Vũng Tàu có độ cao từ 100 đến 300 mét so với mực nước biển Đó là phần cuối của miền cao nguyên đất đỏ cực Nam Trung bộ, thấp dần từ huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xuống Vùng đồi núi thấp của Bà Rịa-Vũng Tàu tập trung ở hai huyện Xuyên Mộc và Châu Đức Xen lẫn giữa dãy đồi núi thấp ấy là những núi đá hoa cương vươn cao như núi Mây Tàu cao hơn 700 mét, núi Dinh cao 504 mét, núi Thị Vải cao gần 470 mét Côn Đảo, một huyện xa đất liền của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, núi đồi chiếm hơn 80% diện tích Núi An Hải cao nhất (577m) Rừng Côn Đảo là vườn quốc gia, nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên với nhiều loài động thực vật
Trang 54
quý hiếm1 Nguồn gốc tên gọi của các ngọn núi ấy gắn liền với những chiến công oai hùng cùng những huyền thoại lưu truyền trong nhân dân địa phương Rừng núi Bà Rịa-Vũng Tàu là những căn cứ địa kháng chiến trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Miền núi thấp của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thuộc hệ núi già, nhưng trong điều kiện khí hậu phù hợp, miền đất ấy là môi trường tốt để các loại động thực vật sinh sôi và phát triển Bà Rịa-Vũng Tàu có hai khu vườn quốc gia là Côn Đảo và Bình Châu-Phước Bửu Điều đó nói lên giá trị của vùng đồi núi thấp Bà Rịa-Vũng Tàu, thuộc hệ sinh thái rừng ven biển và hải đảo, vốn rất hiếm ở Việt Nam
Bậc thềm phù sa cổ của Bà Rịa-Vũng Tàu có độ cao từ 50 đến 100 mét, là sự tiếp nối giữa miền núi cao và miền đồng bằng ven biển, trải dài từ Tây sang Đông, từ Tân Thành qua Châu Đức sang Long Đất và Xuyên Mộc Đây là vùng đất cao khá bằng phẳng, xen giữa là vùng đất đỏ Bazan màu mỡ, thích hợp với các loại cây công nghiệp
và cây ăn trái
Đồng bằng ven biển Bà Rịa-Vũng Tàu được kiến tạo từ phù sa màu mỡ ven bờ biển phía Nam, cao khoảng 50 mét so với mực nước biển Đây chính là nơi dừng chân đầu tiên của cộng đồng người Việt, trên đường khẩn hoang, lập nghiệp về phương Nam
từ hồi thế kỷ XVI - XVII Nối tiếp nhiều thế hệ, họ đã tạo ra những ruộng lúa, những đồng muối rộng lớn Xen giữa những cánh đồng ấy là những cồn cát hay bãi sình lầy mà ngày nay là những rừng dương mát rượi hay những đìa, ao đầm nuôi tôm, cua
Ven biển Bà Rịa-Vũng Tàu không hoàn toàn là đồng bằng Những ngọn núi Minh Đạm, Kỳ Vân, Núi Lớn, Núi Nhỏ, Núi Nứa xen giữa không gian bằng phẳng, án ngữ bên bờ biển tạo nên cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, kỳ thú, đồng thời là một địa thế chiến lược về quân sự Đó cũng là địa bàn sinh trưởng của rừng cây nước mặn Những rừng cây nước mặn ấy không những tạo thế cân bằng sinh thái, làm cho miền đất này giữ được vẻ nguyên sinh, huyền diệu, mà trong ba mươi năm chiến tranh giải phóng, Rừng Sác là địa bàn hoạt động của lực lượng võ trang địa phương, đặc công thủy của tỉnh và của miền, là căn cứ bàn đạp quan trọng để tiến công vào thị xã, thị trấn, vào thẳng hậu cứ, sào huyệt của kẻ thù
Bà Rịa-Vũng Tàu không có nhiều sông lớn và dài chảy qua, nhưng lại có hệ thống sông suối nhỏ khá dày, tạo nguồn nước ngọt dồi dào cung cấp cho đời sống và sản xuất
Đó là ba hệ thống sông Ray, sông Thị Vải và sông Dinh Cửa Vũng Tàu - Cần Giờ là nơi hội tụ của ba nguồn nước lớn sông Lòng Tàu, sông Đồng Nai và sông Sài Gòn đổ
về, tạo thế án ngữ cửa ngõ vào Sài Gòn và đồng bằng rộng lớn Nam Bộ
Sông Ray là con sông lớn nhất, bắt nguồn từ nhiều con suối nhỏ thuộc vùng rừng núi phía Bắc của tỉnh, chảy qua miền đồng bằng trù phú của huyện Long Đất với lưu vực 1500 km2, bằng hai phần ba diện tích của tỉnh Vùng thượng lưu Sông Ray là những căn cứ đóng quân và căn cứ hậu cần quan trọng của các lực lượng cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Cửa lộc An phía hạ lưu có rừng Sác dày che phủ, tiếp giáp với những cánh rừng già bạt ngàn Phước Bửu, Xuyên Mộc là nơi được chọn làm bến bãi tiếp nhận vũ khí chi viện bằng đường biển từ miền Bắc vào miền Đông Nam Bộ và Khu VI thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Trang 65
Sông Thị Vải có lưu vực hơn 700 km2, được tạo hợp từ sông Cả, suối Thái Phiên
và suối Phú Mỹ, chảy qua huyện Tân Thành, đổ ra Vịnh Ghềnh Rái Sông không rộng, không dài, nhưng sâu và có dòng chảy mạnh, mang nhiều phù sa, tạo cho vùng ven vịnh Ghềnh Rái một bãi sình lầy rộng lớn, là môi trường sinh trưởng của thảm thực vật nước mặn và các loại động vật nhuyễn thể: ốc, tôm, cua, sò Phía cửa sông rộng, có độ sâu trên 10 mét, thủy triều mạnh Đó là một trong những điều kiện quan trọng để xây dựng cảng Thị Vải, cảng lớn nhất của Nam Bộ, cho tàu có trọng tải hàng chục vạn tấn vào, ra bốc xếp hàng hóa
Sông Dinh bắt nguồn từ nhiều con suối nhỏ hợp lưu về Sông Xoài, chảy ngang qua vùng căn cứ địa Hắc Dịch - Châu Pha, đoạn chảy qua thị xã Bà Rịa mang tên Sông Dinh, đổ ra thành phố Vũng Tàu vào vịnh Ghềnh Rái Cùng tạo hợp với những kênh rạch khác, sông Dinh góp phần kiến tạo nên những dải đất phù sa lớn ở phía Bắc Vũng Tàu Đây là địa bàn của rừng cây nước mặn và các loại động vật nhuyễn thể sinh sôi, phát triển Sông Dinh có lưu vực hơn 300 km2, vùng hạ lưu nước sâu đã tạo điều kiện thuận lợi để hình thành một hệ thống cảng biển phục vụ cho kinh tế và quân sự
Biển và bờ biển Bà Rịa-Vũng Tàu thuộc thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc, tiềm ẩn nhiều giá trị kinh tế và tiềm năng phát triển du lịch Biển Bà Rịa-Vũng Tàu có đặc tính nắng ấm quanh năm, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26 đến 29oC Nước biển sạch, độ mặn đạt gần 3,5% lại ở vào vùng ít bão, có dòng hải lưu chảy qua nên biển Bà Rịa-Vũng Tàu là môi trường tốt cho các loại tôm cá sinh trưởng và phát triển
Bà Rịa-Vũng Tàu có bờ biển dài trên 100 km, trong đó 72 km có nhiều vũng, vịnh và bãi cát đẹp, lý tưởng với cơ sở dịch vụ-du lịch, nghỉ mát tiện nghi như Vũng Tàu, Long Hải, Hồ Cốc, Hồ Tràm, Hồ Linh, Bình Châu đã thu hút hàng triệu du khách trong và ngoài nước mỗi năm Thủy triều của biển Bà Rịa-Vũng Tàu theo chế độ bán nhật triều tương đối ổn định, với biên độ tối đa 4-5 mét cũng tạo cho vùng biển này thêm nhiều ưu thế Biển và bờ biển Bà Rịa-Vũng Tàu không những ẩn chứa nhiều tài nguyên
về hải sản, muối, cát trắng, bãi tắm, cảnh quan du lịch và đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt (trữ lượng khoảng 1,5 tỷ tấn) mà còn có tầm quan trọng to lớn trong an ninh-quốc phòng và giao lưu quốc tế
Thổ nhưỡng của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có hai loại chính Đó là hệ Peralit, chủ yếu trên nền đá của vùng đồi núi thấp, chiếm khoảng 58% diện tích đất tự nhiên (113.000 ha) Loại đất này tập trung ở các huyện Tân Thành, Châu Đức, Xuyên Mộc và Côn Đảo Xen lẫn trong hệ đất này có đất đỏ Bazan, thích hợp với các loại cây công nghiệp như cao su, chè, càfé, tiêu, điều và các loại cây ăn quả nhiệt đới Hệ phù sa được kiến tạo
từ sự bồi đắp của các con sông, suối và tập trung chủ yếu ở phía Nam tỉnh, chiếm hơn 42% diện tích đất tự nhiên (khoảng 83.000 ha) Những nhà nghiên cứu thổ nhưỡng Bà Rịa-Vũng Tàu đã chia hệ phù sa này làm nhiều loại, nhằm tìm kiếm sự thích hợp để bố trí các giống loại cây trồng, hầu mong thu được năng suất cao nhất từ nguồn tài nguyên vốn không nhiều này của tỉnh Đất phù sa mới bồi, phù sa cổ bạc màu, phù sa pha cát, phù sa phèn, nhiễm mặn, đều có giá trị riêng khi biết đầu tư và khai thác hợp lý
Rừng tự nhiên của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu hiện nay còn lại khoảng 27.000 ha, chiếm 13% diện tích toàn tỉnh Đó là một con số khiêm tốn so với tổng số 113.000 ha (58%) diện tích của đất đồi thấp hiện có Trong một thời gian dài, đất rừng, thảm thực vật Bà Rịa-Vũng Tàu bị chiến tranh tàn phá và sau đó là sự khai thác bừa bãi của con người Từ tháng 7 năm 1992, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã ra chỉ thị "đóng cửa rừng" trên phạm vi toàn tỉnh Dẫu còn lại không nhiều, nhưng rừng Bà Rịa-Vũng Tàu chứa đựng
Trang 76
nhiều tài nguyên quý giá về cả động vật lẫn thực vật, nhất là ở hai rừng quốc gia: Bình Châu-Phước Bửu (7720 ha) và Côn Đảo (6043 ha) còn lưu giữ nhiều động, thực vật quý hiếm Đó là những bảo tàng sống về hệ sinh thái môi trường rừng ven biển và động, thực vật quí hiếm không những của tỉnh mà còn của cả khu vực
Tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có một số loại phân bố khá tập trung, với trữ lượng lớn và có giá trị kinh tế đặc biệt quan trọng Dầu
mỏ và khí đốt ở thềm lục địa có trữ lượng lớn Công việc thăm dò, khai thác đã và đang được đẩy mạnh, thu hút sự chú ý của nhiều nhà đầu tư lớn trên thế giới Đó là nguồn tài nguyên khoáng sản chiến lược và đi tiên phong của Bà Rịa-Vũng Tàu Hiện nay vùng biển Bà Rịa-Vũng Tàu có nhiều công ty thuộc nhiều nước khác nhau trên thế giới đang cùng hợp tác với Việt Nam thăm dò và khai thác dầu khí, đưa về cho ngân sách nhà nước nhiều ngoại tệ Ngoài dầu khí, Bà Rịa-Vũng Tàu còn có nguồn nước khoáng Bình Châu, Suối Nghệ có giá trị chữa bệnh, giải khát và xuất khẩu Cát trắng Bình Châu là nguyên liệu để sản xuất các sản phẩm thủy tinh cao cấp, như pha-lê Các dãy núi đá hoa cương ở khu vực Núi Dinh - Thị Vải và khu vực núi Minh Đạm là nguyên liệu quan trọng cho nhu cầu xây dựng rất lớn trong tỉnh
Cảnh quan thiên nhiên được tạo lập từ bờ biển, rừng núi cũng là một tiềm năng lớn của Bà Rịa-Vũng Tàu Nằm trong vùng khí hậu cận xích đạo, gió mùa nóng, ẩm và
ổn định quanh năm, ít bão lụt, Bà Rịa-Vũng Tàu chịu ảnh hưởng trực tiếp của biển Đông, nên khí hậu ôn hoà, mát lành hơn Nhiệt độ trung bình của Bà Rịa-Vũng Tàu từ 26 đến 29oC Biên độ nhiệt dao động thấp, từ 3 đến 5oC Tháng tư là tháng nóng nhất ở Bà Rịa-Vũng Tàu, nhiệt độ trung bình cũng chỉ vào khoảng 28oC Tháng mát nhất là tháng giêng, nhiệt độ trung bình ở mức lý tưởng của vùng Đông Nam Á là 24,5oC
Bà Rịa-Vũng Tàu có chế độ gió mùa, tuy không gây biến động lớn cho chế độ nhiệt, nhưng ảnh hưởng mạnh đến chế độ mưa Trong mỗi năm, Bà Rịa-Vũng Tàu có 6 tháng mùa mưa và 6 tháng mùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây - Nam thổi từ Ấn Độ Dương qua, gây mưa khá lớn, từ 1300 đến 1700mm Mùa mưa thuận tiện cho việc sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt Mưa nhiều nhưng không kéo dài, nên ít ảnh hưởng đến tham quan du lịch, vốn là ngành kinh
tế mũi nhọn của tỉnh
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, do tác động của gió mùa Đông - Bắc (gió chướng) Gió mạnh có khi đạt cấp 5 cấp 6 gây khô hanh, trở ngại cho sản xuất nông nghiệp, nhưng lại rất thuận tiện cho thế mạnh của tỉnh là làm muối, xây dựng, đặc biệt
là tắm biển và tham quan, du lịch Vào mùa này, hầu hết các địa phương ở Nam Bộ đều nắng nóng, vì thế, với những tiện nghi sẵn có, vùng biển Bà Rịa-Vũng Tàu là điểm hẹn, là sự mong chờ kỳ nghỉ cuối tuần của hàng chục vạn du khách ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ
Tóm lại, Bà Rịa-Vũng Tàu là một tỉnh ở vào vị trí cửa ngõ của miền Đông Nam
Bộ, với điều kiện thiên nhiên thuận lợi, có nhiều tiềm năng kinh tế to lớn, đã và đang được khơi dậy Bà Rịa-Vũng Tàu sớm hội nhập vào quỹ đạo phát triển chung, xứng đáng là vùng động lực và cùng với thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, góp phần tạo nên
“đầu tàu kinh tế - văn hoá” của Nam Bộ và của cả nước
2 Khái quát về quá trình hình thành, phát triển của vùng đất Bà Rịa-Vũng Tàu
Những phát hiện khảo cổ học gần đây ghi nhận sự có mặt của con người ở trung tâm địa bàn tỉnh, có niên đại cách ngày nay chừng 2500-2700 năm Những chủ nhân này
Trang 87
đã ở vào giai đoạn phát triển văn hoá khá cao Họ sinh sống trên những ngôi nhà sàn, biết tạo khuôn đúc đồng với nhiều nét hoa văn tinh tế, biết dùng bàn xoay để làm đồ gốm, dùng đá, dùng đồng để làm đồ trang sức Một loạt các di chỉ khảo cổ học khác được phát hiện gần đây đã xác định nền văn hoá Óc Eo phát triển rực rỡ từ đầu công nguyên đến thế kỷ VII, mà đồng bằng Nam Bộ là trung tâm
Vùng đất Bà Rịa xưa là địa bàn người Việt đến cư ngụ sớm hơn so với những nơi khác ở Nam Bộ Cuối thế kỷ XVII, người Việt đã sinh sống rất nhiều ở xứ này Mô Xoài
- Bà Rịa, là vùng đất địa đầu, một thời nổi tiếng giàu có, gạo tốt nước trong: “Cơm Rịa, cá Rí-Rang” như dân gian vẫn lưu truyền Liên tục trong nhiều thế kỷ, những cư dân từ miền Trung đến vùng đất mới Bà Rịa-Vũng Tàu, cùng đồng bào các dân tộc bản địa đoàn kết một lòng, dựng làng, mở cõi, tạo nên những cánh đồng rộng lớn, xóm làng trù phú, xanh tươi
Nai-Bán đảo Vũng Tàu cũng là nơi cư dân người Việt dừng chân khá sớm Trong
sách Phủ biên tạp lục (1776), Lê Qúy Đôn đã chép chuyện một người ở Nam Bố Chánh
(Quảng Bình) thường buôn bán vào Gia Định kể lại: “ Đến đầu địa giới Gia Định là xứ Vũng Tàu, nơi hải đảo có cư dân Tới đây, người ta thu xếp thuyền buồm để nghỉ ngơi
và để hỏi thăm nơi được mùa, mất mùa như thế nào Sau khi đã biết chắc địa phương nào được mùa lúa thóc, những người buôn mới cho thuyền vào nơi ấy”2 Như vậy, khi
Lê Qúy Đôn viết Phủ biên tạp lục, Vũng Tàu đã là một đầu mối giao thông, nơi dừng
chân của các thương thuyền, là đầu mối thông tin thương mại, giúp cho các thương nhân nắm được tình hình sản xuất và nhu cầu của vùng đất Nam Bộ
Sách Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn) cũng cho biết, từ đầu
đời Trung hưng (1788), chúa Nguyễn đã cho lập Phong hỏa đài (đài quan sát, truyền tin)
ở núi Ngọa Ngưu (vị trí của Bạch Dinh bây giờ) để bảo vệ cửa biển và bán đảo quan trọng này
Nhiều tài liệu khác cho biết, nạn hải tặc là một mối đe dọa lớn đối với dân cư và ghe thuyền buôn bán qua lại Vũng Tàu Đầu đời vua Minh Mạng (1820), ba viên đội đã được phái đến trấn ải, lập đồn binh, dẹp yên nạn cướp biển Theo chính sách “ngụ binh
ư nông”, ông đội Phạm Văn Dinh lập làng Thắng Nhất; ông đội Lê Văn Lộc lập làng Thắng Nhì; ông đội Ngô Văn Huyền lập làng Thắng Tam Vũng Tàu thời ấy còn có tên
là Tam Thắng Ba ông đội ngày nay còn được thờ trong ba ngôi đình của ba làng Tam Thắng xưa
Làng Núi Nứa hình thành muộn hơn, trong kháng chiến chống Pháp thường được gọi là Bà Trao - Núi Nứa Núi Nứa là tên núi, Bà Trao là tên một vùng đất phía đông Núi Nứa, mang tên một người phụ nữ theo truyền thuyết, đã đến đây khai hoang, lập ấp không thành Đầu đời Minh Mạng (1820), một đồn binh được đặt tại Bến Đá, và người Việt đến định cư quanh vùng Bến Đá, Bến Điệp, Rạch Già ngày càng đông Vùng phía Đông Núi Nứa còn hoang vu, cho đến năm 1900, ông Lê Văn Mưu (thường gọi là ông Trần) về khai khẩn, lập ấp Bà Trao Nhiều người dân ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ đã theo ông về đây định cư sinh sống
Vốn có nguồn gốc từ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, ra đời giữa thế kỷ XIX do Đức Bổn
Sư Ngô Lợi sáng lập, nhằm tập hợp lực lượng chống Pháp ở miền Tây Nam Bộ, ông Lê Văn Mưu vừa tổ chức khai hoang, sản xuất, vừa truyền bá đạo Hiếu Nghĩa (dân trong vùng quen gọi là đạo ông Trần) Sự truyền tụng về những nét khác lạ, kỳ thú của phong
2. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Quyển 2
Trang 98
tục, tập quán, những công trình kiến trúc và lễ hội sinh động ở Núi Nứa được nhân dân nhiều tỉnh Nam Bộ biết tới Quá trình khai phá cù lao Bà Trao - Núi Nứa, cùng với sự hình thành và phát triển đạo ông Trần là một nét đặc sắc trong lịch sử hình thành vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu
Ở vào vị trí cửa ngõ của vùng đất Nam Bộ, Bà Rịa-Vũng Tàu có điều kiện phát triển sớm và thuận lợi hơn nhiều nơi khác trong vùng Suốt nhiều thế kỷ, mảnh đất Bà Rịa-Vũng Tàu đã ghi dấu những biến đổi thăng trầm của miền đất mới Nam Bộ Cùng với quá trình khai phá, những đơn vị hành chính cơ sở của Bà Rịa-Vũng Tàu hình thành,
có ranh giới xác định Dân số theo thời gian cũng dần dần tăng lên Cuối thế kỷ XVIII, vùng Mô Xoài, Bà Rịa đã có gần 60 làng, tập trung trong 7 tổng, số dân lên đến hàng vạn người, trong đó có nhiều người các dân tộc thiểu số Đó là kết quả của quá trình lao động bền bỉ, lâu dài của nhiều thế hệ nối tiếp nhau, là kết quả của bản tính lao động cần
cù, sáng tạo, giàu lòng yêu quê hương đất nước và nghĩa hiệp của những người đi mở đất Truyền thống đó được lưu giữ và phát huy trong các thế hệ kế tiếp trên vùng đất Bà Rịa-Vũng Tàu hôm nay
Cùng với quá trình lao động, xây dựng quê hương đất nước, nếp sống văn hoá, phong tục tập quán của quê hương xứ sở nơi quê cha đất tổ cũng được kế tục, phát triển trên quê hương mới, trong hoàn cảnh lịch sử mới Cư dân của mỗi làng đều dựng đình, chùa, đền miếu Đình là nơi sinh hoạt tinh thần của làng Đền là nơi thực hiện những lễ nghi đối với các nhiên thần và nhân thần - các vị anh hùng được tôn là thần thánh có công với làng, với nước Chùa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng truyền thống Một ngôi đình Long Phượng hay một ngôi chùa Long Bàn, chùa Quan Lớn, Linh Sơn Cổ Tự, Phước Lâm Tự đã lưu chút dấu ấn xưa còn đọng lại qua sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh
Cư dân sống bằng nghề biển, vốn có mặt sớm ở Bà Rịa-Vũng Tàu, họ lập miếu thờ Bà, thờ ông Nam Hải, Quan Thánh Đế Quân hay Bà Ngũ Hành, là những bậc giàu lòng nhân ái, sẵn sàng cứu khổ, cứu nạn cho người đi biển gặp chuyện không may Ngày nay, lễ tục ấy vẫn được gìn giữ và phát triển Các lễ hội hàng năm ở Dinh Cô Long Hải, miếu Bà Ngũ Hành, lăng Ông Nam Hải ở Thắng Tam (Vũng Tàu), Phước Tỉnh (Long Đất) và lễ hội tại các đình thần ở hầu khắp các làng xã trong tỉnh, cầu cho xóm làng bình yên, mưa thuận, gió hoà, được mùa tôm cá phản ánh phần nào nét sinh hoạt văn hoá đặc sắc, sôi động và có sức hấp dẫn đặc biệt của cư dân Bà Rịa-Vũng Tàu từ ngày xưa cũng như hiện nay
Trải qua nhiều thế kỷ, địa danh của tỉnh được thay đổi rất nhiều lần Từ năm
1698, Bà Rịa, bao gồm cả Vũng Tàu thuộc huyện Phước Long, dinh Trấn Biên; năm
1808 là huyện Phước An, trấn Biên Hoà, thành Gia Định Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), nhà Nguyễn cải cách hành chính, chia lại tỉnh, đặt quan cai trị từ trấn Quảng Nam trở vào thành 12 tỉnh, vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc huyện Phước An của tỉnh Biên Hòa, một trong sáu tỉnh của xứ Nam Kỳ
Năm 1837, nhà Nguyễn đặt phủ Phước Tuy (thuộc tỉnh Biên Hoà) gồm hai huyện Long Thành và Phước An Năm 1838, phủ Phước Tuy kiêm nhiếp thêm huyện Long Khánh; năm 1851 phủ Phước Tuy lại gồm hai huyện Long Thành và Phước An như năm
1837 Hiện trạng này được duy trì cho đến khi thực dân Pháp xâm lược các tỉnh miền Đông Nam Bộ
Năm 1865, thực dân Pháp chia toàn cõi Nam Kỳ thành 13 sở tham biện Phủ Phước Tuy của nhà Nguyễn bấy giờ là sở tham biện Bà Rịa Năm 1876, thực dân Pháp chia tỉnh Biên Hoà thành bốn tỉnh Phủ Phước Tuy cũ là tỉnh Bà Rịa mới Địa danh Bà
Trang 109
Rịa, với tư cách là tên gọi của một tỉnh tồn tại từ ngày đó đến năm 1956 mới đổi làm tỉnh theo tên phủ cũ Phước Tuy
Trong quá trình tồn tại và phát triển của vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu, với tư cách
là một đơn vị hành chính độc lập, từ đầu thế kỷ XIX đến nay, địa phận Vũng Tàu được nhiều lần tách ra và nhập vào với Bà Rịa Năm 1887, thực dân Pháp chia tỉnh Bà Rịa thành Bà Rịa và Cap Saint Jacques Ngày 1 tháng 5 năm 1895, thực dân Pháp thành lập
đô thị Cap Saint Jaques3 Kể từ đây Vũng Tàu phát triển độc lập theo mô hình, xu hướng của một đô thị du lịch và nghỉ mát của chính quyền thực dân Năm 1899, thực dân Pháp lập lại tỉnh Bà Rịa, bao gồm cả Vũng Tàu Năm 1929, Vũng Tàu lại được tách riêng thành một tỉnh mới có tên Cap Saint Jacques Tháng 10-1956, chính quyền Sài Gòn cải
tổ lại địa giới hành chính, nhập Vũng Tàu vào Bà Rịa, lập tỉnh mới, gọi theo tên phủ cũ của nhà Nguyễn là tỉnh Phước Tuy
Sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân (tháng 8-1945) với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chính quyền cách mạng ở Bà Rịa và Vũng Tàu cũng
đã nhiều lần thay đổi đơn vị hành chính thuộc phạm vi tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, nhằm tạo
ra điều kiện, phạm vi phù hợp để tổ chức lãnh đạo nhân dân thực hiện kháng chiến, chống xâm lược
Tháng 8 năm 1945, chính quyền cách mạng thành lập tỉnh Bà Rịa và tỉnh Cap (“Cấp”) Tháng 12-1945, tỉnh Cấp được nhập vào Bà Rịa Từ tháng 5 năm 1951, tỉnh
Bà Rịa và các huyện Long Thành, Cần Giuộc, Cần Đước, Nhà Bè được sáp nhập thành tỉnh Bà Rịa-Chợ Lớn (gọi tắt là tỉnh Bà-Chợ) Từ cuối năm 1954 đến ngày cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi, địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nhiều lần tách nhập cùng với tỉnh Biên Hoà, Long Khánh với nhiều tên gọi khác nhau Năm 1955: tỉnh Bà Rịa; năm 1963: tỉnh Bà-Biên; cuối năm 1963: tỉnh Bà Rịa; từ 1966-1967: tỉnh Long - Bà - Biên; tháng 10 năm 1967: tỉnh Bà Rịa - Long Khánh; tháng 5 năm 1971: phân khu Bà Rịa, tháng 8 năm 1972: tỉnh Bà Rịa-Long Khánh
Ngày 8 tháng 4 năm 1975, Vũng Tàu được tách riêng, trở thành thành phố trực thuộc Khu miền Đông Từ năm 1976, địa phận tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay thuộc tỉnh Đồng Nai Năm 1979, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam thành lập Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo, phần còn lại gồm Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc thuộc tỉnh Đồng Nai
Năm 1991, Quốc hội thành lập tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu bao gồm các thành phố, thị xã, huyện như hiện nay, mà đó cũng là địa bàn chủ yếu của phủ cũ Phước Tuy hay
tỉnh Bà Rịa xưa Như vậy, suốt nhiều thế kỷ, cùng với những biến động không ngừng
của lịch sử, đơn vị hành chính Bà Rịa-Vũng Tàu có nhiều lần thay đổi bằng các tên gọi khác nhau, song về cơ bản, vẫn được giới hạn như tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ngày nay Điều
đó phản ảnh một sự thống nhất trong quá trình tạo lập và phát triển trong đời sống kinh
tế cũng như văn hoá-xã hội và phong trào yêu nước, đấu tranh cách mạng của nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu từ trước đến nay
Địa danh Bà Rịa - Vũng Tàu là tên gọi ghép của hai địa bàn xác định là Bà Rịa
và Vũng Tàu Địa danh Vũng Tàu vốn là tên một vịnh biển nhỏ, là bến đỗ của tàu thuyền
Vị trí của vịnh biển này được Đại Nam nhất thống chí xác định như sau: “Núi Lãi Kỵ ở
đông nam huyện Phước An 26 dặm, đầu ghềnh thường có con rái biển bơi lặn ở đấy, nên gọi là Lãi Kỵ (Ghềnh Rái) Đột khởi ba hòn núi đá đứng sững như trụ biểu ở giữa
3 Commune mixte, đứng đầu là chức danh Résident maire (Đốc lý)
Trang 1110
biển, nên làm tiêu chí cho ghe thuyền nam bắc qua lại ( ) Đầu núi làm cửa hữu cho Ngọc Tỉnh, cuối núi làm ngoại hình cho Cần Giờ, ở trong có vũng lớn tục gọi là Vũng Tàu, vũng này bảo vệ cho ghe thuyền đậu nghỉ Trên núi có suối nước ngọt, dưới có dân chài nhóm ở đông đúc, làm chỗ cửa bể rất là xinh đẹp”4
Địa danh Bà Rịa được Trịnh Hoài Đức chép trong Gia Định thành thông
chí, cuốn địa chí đầu tiên của triều Nguyễn viết về Bà Rịa: “Bà Rịa là ở đầu trấn Biên Hòa, là đất có danh tiếng, cho nên các phủ phía Bắc có câu ngạn rằng: “Cơm Nai - Rịa, cá Rí - Rang là lấy xứ Đồng Nai và Bà Rịa đứng đầu mà bao gồm cả Bến Nghé, Sài Gòn, Mỹ Tho, Long Hồ cũng ở vào trong đó( ) Đất này dựa lưng vào núi, quay mặt ra biển, rừng rậm tre cao, trên có tuần - trường để chiêu dụ bọn man - mạch đến đổi chác, dưới có quan - tân để xem xét ghe thuyền lúc đi ra biển Đường trạm thủy lục giao thông, thổ sản núi rừng cung cấp Chế ngự Đê - man phòng ngừa đạo tặc, có huyện, nha, đạo, thủ chia giữ nhiệm vụ, vẫn là địa hạt xung yếu thứ nhất”5
Đại Nam Nhất thống Chí (chính sử của triều Nguyễn) quyển XXVII, Tỉnh Biên
Hòa, mục Núi Sông có chép rõ chuyện việc nhà Nguyễn đã đầu tư vào việc khai phá
vùng đất Bà Rịa: “Sông Xích Lam: ở cách huyện Phước An 31 dặm về phía đông Ở
bờ phía Đông trước kia bị úng hủy, không tiện cho việc nông, năm Minh Mệnh thứ 19 mới khơi cho nước úng theo sông mà tiêu, khẩn được hơn 300 mẫu ruộng hoang làm
ruộng công cho các xã thôn phụ cận.” 6
Sông Xích Lam được mô tả trong Đại Nam Nhất Thống Chí là Sông Ray mà hạ
lưu phía đông của nó bao gồm các xã vùng Long Điền, Đất Đỏ Khu vực này xưa nhiều
bàu trũng với câu ca trao duyên “Bao giờ Bưng Bạc hết sình, Bàu Thành hết nước chúng
mình hết thương”.Trong mục Từ Miếu (đền miếu), Đại Nam Nhất Thống Chí còn cho
biết rõ: “ông Hộ phủ Phạm Duy Hinh là người chỉ huy đào sông Xích Lam, khơi úng hủy”
Đại Nam nhất thống chí còn ghi một số địa danh có tên Bà Rịa là: Chợ Bà Rịa,
núi Bà Rịa (gần thôn Hắt Lăng, huyện Long Điền - Đất Đỏ ngày nay), một đồn binh ở làng Phước Bửu (huyện Xuyên Mộc hiện nay) trước đây cũng gọi là đồn Bà Rịa Ngày nay, Bà Rịa còn là tên của một ấp thuộc xã Phước Tân huyện Xuyên Mộc
Nhân dân ở địa phương còn có một cách giải thích khác về nguồn gốc địa danh
Bà Rịa, dựa theo truyền thuyết về một người phụ nữ tên là Rịa, quê ở miền Trung đã có công khai phá vùng đất Mỹ Khê, Phước Liễu (nay thuộc xã Tam An, huyện Long Đất) trong khoảng thời gian từ 1789 đến 1803 Tên gọi một vùng đất mà người Việt đã tới lập nghiệp từ khi xuất hiện truyền thuyết ít nhất trên một thế kỷ trùng tên với một đấng tiên hiền có công khai phá ở một làng thuộc vùng đất Mô Xoài có thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên của lịch sử
Sau Hoà ước Nhâm Tuất (5-6-1862), thực dân Pháp từng bước thiết lập nền thống trị của họ ở ba tỉnh miền Đông: Biên Hoà, Gia Định, Định Tường Tỉnh Biên Hoà, từ năm 1864 được chia thành 5 tỉnh hạt (sở Tham Biện) là: Thủ Dầu Một, Thủ Đức, Biên Hoà, Long Thành và Bà Rịa Tỉnh hạt Bà Rịa thâu tóm cả phần đất đai huyện Phước An đời Minh Mạng
4. Đại Nam nhất thống chí, tỉnh Biên Hoà
5. Trịnh Hòai Đức: Gia Định thành thông chí, Tập Thượng, quyển 1 và 2, Nha Văn hóa Phủ Quốc vụ khanh (Sài Gòn) xuất
bản 1972, tr.35
6. Đại Nam Nhất Thống Chí, Viện Sử học và NXB Thuận Hóa, 1992, Tập V, tr 60
Trang 1211
Nghị định ngày 5 tháng 6 năm 1871 của Phó Đô đốc Dupré đã sắp xếp 25 tỉnh hạt trong toàn cõi lục tỉnh lại thành 18 tỉnh hạt, trong đó, tỉnh hạt Bà Rịa bao gồm cả hai tổng Thành Tuy Thượng và Thành Tuy Hạ Từ khi Bà Rịa trở thành tên gọi một tỉnh hạt, người ta mới chú ý tìm cách giải thích địa danh này và sự tích Bà Rịa cũng khởi đầu
từ đó Vũng Tàu thuở đó với ba làng Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam thuộc tỉnh hạt
Bà Rịa, đến năm 1895, mới trở thành tỉnh hạt Vũng Tàu
Từ năm 1956, cùng với việc thành lập tỉnh Phước Tuy gồm đất Bà Rịa, Vũng Tàu và quần đảo Hoàng Sa, người ta không dùng địa danh Bà Rịa chỉ một tỉnh nữa Tháng 8 năm 1991 tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu được thành lập với cách gọi bằng tên ghép của hai địa danh đã từng ghi trong cổ sử
3 Chế độ thống trị của thực dân Pháp và phong trào yêu nước, đấu tranh cách mạng ở Bà Rịa - Vũng Tàu trước năm 1930
Bà Rịa- Vũng Tàu được hình thành trong những điều kiện lịch sử đặc biệt của quá trình khai phá của người Việt xuống phương Nam Lao động gian khổ và đấu tranh ngoan cường đã hun đúc những truyền thống tốt đẹp vốn có của người Việt nói chung
và con người Bà Rịa- Vũng Tàu nói riêng Đó chính là lòng yêu quê hương, đất nước, tinh thần lao động cần cù, đấu tranh anh dũng, ngoan cường và đoàn kết của nhân dân
Bà Rịa-Vũng Tàu suốt chiều dài lịch sử xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước
Năm 1858, thực dân Pháp do Trung tướng Rigault de Genouilly chỉ huy nổ súng vào Cửa Hàn - Đà Nẵng, mở đầu cuộc tiến công xâm lược nước ta Đà Nẵng được xem
là cửa ngõ quan trọng đánh vào kinh đô Huế Nhưng chiến lũy Liên Trì, chiến thuật vườn không nhà trống và khí hậu khắc nghiệt đã khiến Rigault de Genouilly thất bại trong chiến lược đánh nhanh thắng nhanh
Cuối cùng, Rigault de Genouilly đã quyết định đánh chiếm Nam Kỳ khi yêu cầu tăng viện của Ông không được Napoléon 3 đáp ứng, vì triều đình Pháp đang mở cuộc chiến chống Áo Nam Kỳ trong mắt người Pháp là nguồn dự trữ lương thực của cả nước, Sài Gòn
là trung tâm buôn bán ngay giữa một vùng phì nhiêu nhất Theo người Pháp, chiếm Sài Gòn
có thể chấm dứt sự xuất khẩu gạo và thuế, điều này giáng một đòn ác liệt vào triều đình Việt Nam Mặt khác, Sài Gòn lại nằm trên một con sông mà tàu chiến và tàu vận tải lưu thông được, dễ dàng cho việc tiến quân Đánh chiếm Nam Kỳ vào thời điểm ấy còn cắt đứt ngay được ý đồ xuất hiện của người Anh trong vùng hoạt động của Pháp
Ngày 2 tháng 2 năm 1859, Rigault de Genouilly đã đưa một phần lớn lực lượng vào đánh chiếm Nam Kỳ Sau 8 ngày chuyển quân, tối 9 tháng 2 năm 1859 (mồng 7 Tết
Kỷ Mùi), 12 chiếc thuyền do Đô Đốc Rigault de Genouilly chỉ huy tập kết ở Vịnh Hàng Dừa (Bãi Trước) Vũng Tàu
Suốt ngày 10 tháng 2 năm 1859, pháo đài Phước Thắng phòng thủ bờ biển bên sườn Núi Lớn (khu vực Bạch Dinh ngày nay) đã nã đạn vào đoàn chiến hạm của Liên quân thực dân Pháp - Tây Ban Nha, mở đầu cuộc kháng chiến của quân và dân Nam Bộ Thống chế Trần Đồng, Tổng chỉ huy lực lượng thủy, lục quân nhà Nguyễn đã huy động toàn bộ lực lượng, anh dũng và kiên quyết đánh địch Buổi chiều, Thống chế Trần Đồng
bị tử trận Cuộc đấu pháo giữa pháo đài Vũng Tàu và liên quân Pháp-Tây Ban Nha đã diễn ra quyết liệt, làm cho các chiến hạm Pháp suốt một ngày chỉ đi được 2km, tới cửa Cần Giờ Để đến được thành Gia Định, thực dân Pháp phải mất 7 ngày vì sự giáng trả của quân, dân các địa phương đã noi gương Vũng Tàu
Trang 1312
Ngày 7 tháng 2 năm 1862, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm tỉnh lỵ Bà Rịa Tháng 6 năm 1862, thực dân Pháp chiếm trọn ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, đánh dấu một thời kỳ bị ngoại bang đô hộ, bóc lột và cũng là thời kỳ đấu tranh quật khởi của nhân dân Bà Rịa-Vũng Tàu nói riêng và cả nước nói chung
Trong con mắt của kẻ thực dân, Bà Rịa-Vũng Tàu không những là vị trí chiến lược về khai thác nguồn lợi mà còn có ý nghĩa đặc biệt về quân sự Bởi vậy, sau khi "ổn định được tình hình", thực dân Pháp đã chú tâm xây dựng ở đây nhiều cơ sở hậu cần, cứ điểm quân sự và hệ thống phòng tuyến kiên cố nhằm bảo vệ cửa ngõ Nam Bộ nói chung, cũng như hậu cứ an toàn cho sự nghỉ ngơi, dưỡng bệnh và thông tin liên lạc của chúng
ở Vũng Tàu
Thực dân Pháp đã tăng cường mộ phu và huy động sức tù - những người Việt Nam yêu nước chống Pháp bị bắt, vào những công việc khổ sai nặng nhọc Bà Rịa-Vũng Tàu là khu vực thực dân Pháp xây dựng nhiều nhà tù nhất và sớm nhất Việt Nam bấy giờ như Khám Bà Rịa, khám Vũng Tàu và đặc biệt là ngục Côn Đảo Tại Côn Đảo, từ năm 1862, thực dân Pháp đã xây một nhà tù đầu tiên với quy mô lớn ở xứ Đông Dương, ngay trong lúc tiếng súng xâm lược còn đang nổ ở nhiều tỉnh Nam Bộ Không chịu ách
nô lệ, nhân dân Bà Rịa-Vũng Tàu đã đoàn kết một lòng đứng lên đấu tranh chống Pháp
Họ tích cực tham gia các cuộc kháng chiến chống Pháp do các sỹ phu yêu nước, là lực lượng tiến bộ nhất bấy giờ, lãnh đạo
Năm 1862, nhân dân Bà Rịa- Vũng Tàu tại nhiều địa phương đã gia nhập nghĩa quân Trương Định chống Pháp Nhân dân các làng Long Xuyên, Long Kiên, Long Lập, Long Nhung (khi ấy thuộc tổng An Phú Hạ) đã ủng hộ tích cực cho cuộc khởi nghĩa Trương Định, về cả sức người và sức của Đây là khu vực có ưu thế về địa hình trong tiến công và phòng thủ Nhân dân địa phương đã góp sức cùng nghĩa quân dựng đồn, đào hào, đắp lũy, đánh địch Nghĩa quân Trương Định tại Bà Rịa- Vũng Tàu đã tổ chức nhiều trận đánh lớn, làm cho thực dân Pháp phải hoảng sợ Nổi bật là trận đánh ngày 1 tháng 1 năm 1863, từ căn cứ ở Khu vực Tứ Long, nghĩa quân đã xuất kích đánh địch, tiêu diệt một bộ phận quan trọng của Tiểu đoàn pháo dã chiến Coquer Pháp tại Bà Rịa Những địa danh Xóm Lũy, Ruộng Đồn tại ấp Bắc xã Long Phước còn lưu lại chiến công của quân và dân trong vùng từ ngày đầu đánh Pháp
Phong trào kháng chiến chống Pháp do Tri phủ địa phương là Nguyễn Thành Ý khởi xướng cũng được đông đảo nhân dân trong vùng hưởng ứng Các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Bà Rịa-Vũng Tàu cuối thế kỷ XIX mặc dù không thành công, nhưng gây được tiếng vang lớn, uy hiếp được quân thù và quan trọng hơn là đã tạo ra bước chuyển tiếp cho các phong trào chống Pháp ở những giai đoạn sau
Đầu thế kỷ XX, phong trào chống Pháp của Nam Bộ nói chung, Bà Rịa-Vũng Tàu nói riêng chuyển hướng bằng việc tổ chức các hội kín, nhằm bảo toàn lực lượng, gây dựng cơ sở, điều kiện để chống Pháp lâu dài Hội kín do Phan Văn Khoẻ tổ chức, lãnh đạo hoạt động vũ trang chống Pháp trên địa bàn Long Điền - Đất Đỏ, Bà Rịa được nhân dân địa phương tích cực ủng hộ, đóng góp nhiều sức người, sức của đã làm thực dân Pháp phải nhiều phen khiếp sợ
Ở Núi Nứa, vào đầu thế kỷ XX, với sự xuất hiện của “Đạo ông Trần” do ông Lê Văn Mưu khởi xướng, thực chất cũng là một dạng hội kín tập hợp những nông dân lao động yêu nước khắp nơi quần tụ về đây vừa làm ăn sinh sống, vừa tập dượt võ nghệ chờ thời cơ đứng lên đánh Pháp Đây là cơ sở để Núi Nứa trở thành chỗ dựa vững chắc cho phong trào cách mạng trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ sau này
Trang 1413
Cũng vào thời điểm ấy, sư tổ Huệ Đăng (tên thật là Lê Quang Hóa) đã khởi công xây dựng chùa Thiên Thai ở địa phận Long Điền Lê Quang Hóa quê ở Bình Định, từng tham gia phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp, sau bị khủng bố, ông ông lánh vào Nam tu hành, nhưng hoài niệm cứu nước và ý chí chống Pháp vẫn không nguôi Chùa Thiên Thai là một trong những trung tâm chấn hưng Phật giáo vào cuối những năm 1920, đầu những năm 1930 với khuynh hướng đưa Phật giáo “nhập thế” cứu khổ cứu nạn, gắn với số phận của chúng sinh đang quằn quại dưới ách áp bước bóc lột của chủ nghĩa thực dân Thiên Thai thiền giáo tông Liên hữu hội do sư tổ Huệ Đăng sáng lập có nhiều đệ tử tăng ni yêu nước tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ
Bà Rịa-Vũng Tàu vốn là địa bàn đặc biệt trong công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp Đây không chỉ là vùng đất để thành lập các đồn điền cao su (dọc theo lộ 2), các
sở muối (ở Bà Rịa, Núi Nứa), các đội quân khai thác hải sản ven biển, mà còn là cửa ngõ của Nam Bộ giàu có, thực dân Pháp đang tận lực khai thác, và là nơi nghỉ ngơi cho đội quân viễn chinh và thực dân châu Âu Chính vì vậy, Bà Rịa-Vũng Tàu là một nơi có sức thu hút lao động lớn do thực dân Pháp điều tới Trong một tài liệu, người Pháp đã thú nhận: “Một phần lớn lãnh thổ (Vũng Tàu) gồm những công trình quân sự hoặc những công trình xây dựng đường sá đã được tiến hành bởi nhân công dân sự”7
Sức lao động của thường dân vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu của người Pháp ở
Bà Rịa-Vũng Tàu Vì thế, thực dân Pháp đã đưa tù nhân yêu nước, bị bắt về Vũng Tàu xây dựng các trận địa pháo, các an dưỡng đường, các nhà nghỉ cho các quan chức thực dân Ngày 12-7-1891, Toàn quyền Đông Dương De Lanessan ban hành Nghị định nói rằng: “Các phạm nhân có án sẽ được đưa đi bất cứ nơi nào trong toàn xứ Đông Dương
để dùng vào việc công ích”; “Hàng ngày từ 6 - 700 tù nhân ra khỏi nhà tù phơi mình trên những xưởng khác nhau và mang lại những công trình đáng kể do tính liên tục, đều đặn và kỷ luật nghiêm ngặt Những tù nhân đã làm nên những cơ sở lớn và đem lại một nguồn lợi lớn”8
Đối với công nhân làm ở sở muối, ngoài công việc nặng nhọc, còn bị áp bức, lăng
nhục, bị xem như thú vật Trong Bản án chế độ thực dân Pháp, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
đã ghi lại rằng: “Tháng 3 năm 1922, một nhân viên nhà đoan ở Bà Rịa (Nam Kỳ) đã đánh gần chết một phụ nữ An Nam làm phu đội muối, lấy cớ chị đã làm ồn ào dưới hiên nhà hắn làm hắn mất giấc ngủ trưa Tuyệt hơn nữa là người phụ nữ ấy còn bị đe dọa đuổi khỏi công trường muối nếu chị kêu kiện”9
Bà Rịa-Vũng Tàu là nơi có nhiều hải cảng của thực dân Pháp Do đó, tập trung một lực lượng đông đảo những thủy thủ người Việt làm việc cho Pháp Họ bị cưỡng bức làm đủ mọi thứ việc trên tàu và bị ngược đãi như nô lệ Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang
hoạt động ở Pari, qua các nguồn tin và báo chí đã ghi lại trong Bản án chế độ thực dân
Pháp: “Một viên tây đoan ở Bà Rịa (Nam Kỳ) cũng say rượu, phang một gậy trúng lá
lách một thủy thủ An Nam thuộc quyền hắn, làm anh ta chết tươi”10
Đất Bà Rịa - Vũng Tàu vốn thích hợp cho các loại cây công nghiệp, nhất là cao
su, nguồn nguyên liệu cần thiết cho tư bản Pháp Để có đất lập đồn điền, thực dân Pháp
đã cướp hàng ngàn hécta đất của nông dân và đồng bào dân tộc vùng Đông và Tây lộ 2,
7. Monographie de la province de Baria et de la Ville du Cap Saint Jacques, Saigon, Impr, L Ménard, 1902
8. Nguyễn Ái Quốc, Bản án chế độ thức dân Pháp, NXB Sự Thật, Hà Nội, tr46
9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 2, tr 106
10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 2, tr 60
Trang 1514
vùng phía Bắc lộ 23 để lập đồn điền, đẩy nông dân và đồng bào dân tộc vào tình trạng bần cùng Một bộ phận nông dân còn lại, do mất mùa thường xuyên xẩy ra, mặt khác, lại phải gánh chịu bao thứ sưu cao thuế nặng mà thực dân Pháp và chính quyền phong kiến áp đặt, vì vậy cuộc sống rất cơ cực, lầm than
Năm 1908, thực dân Pháp lập đồn điền cao su đầu tiên trên địa bàn Bà Rịa tại Bình Ba, mang tên Gallia Theo tài liệu của Công ty cao su Bà Rịa, tính đến năm 1930, đồn điền Bình Ba có 1598 công nhân Năm 1935, Đồn điền Bình Ba phát triển thêm các phân xưởng Xà Bang, Xuân Sơn, Sông Cầu Số lượng công nhân cao su tăng nhanh, từ
2 nguồn chính: đồng bào trong vùng bị cướp đất, bần cùng hoá và nguồn phu mộ từ các tỉnh Bắc Kỳ Tình cảnh cùng cực, lầm than của công nhân cao su đã được phản ánh sống động trong những câu thơ đẫm lệ của Tố Hữu:
“Cha trốn ra Hòn Gai cuốc mỏ
Anh chạy vào Đất Đỏ làm phu
Bán thân đổi mấy đồng xu
Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng”
Trong những năm 1918-1935, bọn chủ Pháp đã mộ phu, chặt hạ hàng ngàn ha rừng già để mở rộng đồn điền, trồng cao su Công cụ thô sơ, thiếu kinh nghiệm, nên số người bị cây đổ đè chết hoặc gẫy chân, gẫy tay rất nhiều Ngày nào cũng có những tốp
xe bò chở người bị thương từ rừng về sở và chở người chết ra chôn ở nghĩa địa Láng Lớn Bọn chủ Pháp bóc lột thậm tệ Công nhân cạo mủ chỉ được hưởng 30 xu một ngày (sau tăng 35 xu), trong khi chúng kí giao kèo là 50 xu/ngày Những người làm việc tạp
vụ chỉ được nhận 20 xu/ngày, đó là chưa kể cúp, phạt và bị hành hạ đủ điều Nhiều người
bị đánh chết chỉ vì bọn chủ thấy họ làm chưa đổ mồ hôi
Khổ đau chồng chất, mang nặng mối thù giai cấp và dân tộc, công nhân cao su đã sớm giác ngộ cách mạng, sát cánh cùng nông dân và nhân dân lao động chống thực dân Pháp Từ khi Chi bộ Cộng sản đầu tiên của tỉnh ra đời tại Phước Hải (1934), cùng với Long Điền, Đất Đỏ, vùng công nhân cao su đã trở thành địa bàn hoạt động tin cậy của Đảng, góp phần đắc lực vào việc phát triển phong trào cách mạng ở Bà Rịa-Vũng Tàu
Kể từ cuối thế kỷ XVIII, cộng đồng người Việt định cư ở Bà Rịa-Vũng Tàu được hình thành chủ yếu từ những nông dân gốc miền Trung, theo chính sách di dân và khẩn hoang của các chúa Nguyễn Vốn có truyền thống đoàn kết, trong quá trình "khai sơn phá thạch", chinh phục thiên nhiên, nhân dân Bà Rịa-Vũng Tàu đã sát cánh trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm
Từ pháo đài Vũng Tàu, tiền đồn của miền Đông Nam Bộ, quân và dân Bà Vũng Tàu đã mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ bằng trận tiến công đoàn chiến hạm của Liên quân Pháp - Tây Ban Nha ngày 8 tháng giêng năm Kỉ Mùi (10-2-1859) Địa thế hiểm trở ở Bà Rịa-Vũng Tàu từng là nơi hoạt động hữu hiệu của nghĩa quân Trương Định và những hội kín, nuôi dưỡng tư tưởng chống Pháp trong nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Rịa-Công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, nhất là từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã làm biến đổi sâu sắc cơ cấu dân cư và phân hoá xã hội ở Bà Rịa-Vũng Tàu Đội ngũ công nhân cao su hình thành từ 1908 đã phát triển lên hàng ngàn người vào năm 1930 Bên cạnh đó, lực lượng công nhân các trại cưa, công nhân xây dựng các công trình quân sự, dân sự ở Bà Rịa-Vũng Tàu, Long Hải cũng phát triển ngày càng đông đảo
Trang 1615
Một phần lớn trong lớp công nhân, lao động trong đợt di dân lớn lần thứ 2 này là lực lượng phu mộ từ Bắc-Trung Kỳ Đây là một lực lượng lao động mới: công nhân và lao động dịch vụ ở Bà Rịa-Vũng Tàu Vừa phải chịu ách áp bức nô dịch dân tộc, vừa chịu sự bóc lột và áp bức trực tiếp của bọn chủ tư bản Pháp, công nhân và người lao động Bà Rịa-Vũng Tàu chất chứa tinh thần phản kháng và sớm giác ngộ cách mạng, tích cực đón nhận sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Phụ lục 1:
DÂN SỐ CÁC TỔNG VÀ LÀNG THUỘC TỈNH BÀ RỊA NĂM 1901
TỔNG LONG XƯƠNG gồm các làng Anh Mao, Cụ Bị, Lâm Xuân, Hương
Sai, Thanh Toá, Xuân Sơn
TỔNG AN TRẠCH gồm các làng: Bằng La, Cụ Khánh, Hích Dịch, La Vân,
Phước Chí, La Sơn
TỔNG LONG CƠ gồm các làng: Bình Ba, Bình Giã, Điền Giả, Ngãi Giao,
Quạn Giao, Trình Ba
Dân số các tổng Long Xương, An Trạch, Long Cơ khi đó theo thống kê tổng cộng là 3.659 người, hầu hết là đồng bào dân tộc
Trang 1716
CHƯƠNG I TRUYỀN BÁ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, XÂY DỰNG CHI BỘ ĐẢNG, LÃNH ĐẠO QUẦN CHÚNG ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN
Trước năm 1930, ở Bà Rịa đã có hoạt động của Thiên Địa Hội tuyên truyền và
tổ chức lực lượng chống Pháp mà một số nhân vật tiêu biểu là Hòa thượng Pháp Trí (chùa Báo Ân, đệ tử của sư tổ Huệ Đăng), ông Hai Tâm (Long Điền), ông Của, ông Khuê (Long Phước) Từ năm 1930, các tổ chức quần chúng dưới ảnh hưởng của Đảng cộng sản bắt đầu hình thành, gắn với các hoạt động truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin và xây dựng chi bộ Đảng cộng sản
Người cộng sản đầu tiên của đất Bà Rịa - Vũng Tàu là Dương Bạch Mai, quê ngoại ở Long Mỹ, sinh trưởng tại Phước Lễ (thị xã Bà Rịa), là con một điền chủ lớn ở
Bà Rịa, thư ký tòa Thống đốc Nam Kỳ Tốt nghiệp Cao đẳng Thương mại Hà Nội (1924), Dương Bạch Mai làm việc ở Nhà in Nguyễn Văn Của (Sài Gòn) rồi đi Pháp, hoạt động trong phong trào công nhân ở Aix en Provence từ năm 1925, là đảng viên Đảng cộng sản Pháp (1927), được Đảng Cộng sản Pháp giới thiệu sang Liên Xô học tại trường Đại học Phương Đông (8-1929) với bí danh Bounov, trở về Sài Gòn (1931) và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Bà Rịa - Vũng Tàu qua những mối quan hệ thân quen
Học cùng khoá với Dương Bạch Mai ở Đại học Phương Đông còn có Nguyễn Văn Phải tự Thanh Phong, bí danh Gubin, quê ở Long Điền Học xong, Nguyễn Văn Phải về quê, tham gia chi bộ Bà Rịa (6-1945), là một trong những người lãnh đạo cuộc cách mạng Tháng Tám 1945 tại Bà Rịa
Theo tư liệu của Huyện ủy Cần Giờ, đồng chí Huỳnh Văn Hát, sinh trưởng tại Cần Giờ11 là một thanh niên sớm được giác ngộ Từ năm 1929 đồng chí đã tham gia hoạt động trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, bị địch bắt và đày đi Côn Đảo Đồng chí Huỳnh Văn Hát được giác ngộ tại nhà lao và trở thành người đảng viên cộng sản trong lao tù
Sau khi đàn áp xong cuộc khởi nghĩa Yên Bái 1930, thực dân Pháp đưa một số đơn vị lính khố xanh có liên quan đến cuộc khởi nghĩa về giam lỏng tại trại Bến Đình Ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa Yên Bái cùng luồng tư tưởng yêu nước của những nghĩa quân này đã góp phần hun đúc thêm truyền thống yêu nước của các tầng lớp nhân dân
Bà Rịa - Vũng Tàu, nhất là trong thanh niên Một số người trong binh lính khố xanh sau
11 Nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh Khi ấy, tổng Cần Giờ và tổng Vũng Tàu thuộc đô thị Cap Saint Jacques (Commune mixte)
Trang 18Bà Rịa - Vũng Tàu còn là một trong những nơi thực dân Pháp lưu đày và khai thác sức lao động khổ sai của tù nhân, trong đó có nhiều tù chính trị Những chiến sĩ cộng sản từ nhiều miền đất nước trên đường lưu đày qua đây và những người tù chính trị bị giam ở đây là lớp người tiên phong truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin vào Bà Rịa
- Vũng Tàu Không ít lần, người dân Vũng Tàu được biết đến những truyền đơn cách mạng, khẩu hiệu cách mạng và tận mắt nhìn thấy cờ đỏ búa liềm tung bay Chuyến tàu Claude Chape ngày 23 tháng 6 năm 1930 từ Hải Phòng lưu đày trên 200 tù chính trị, trong đó có hơn 40 đảng viên cộng sản đã dừng chân tại cảng Rạch Dừa Trong lúc chuyển tù chính trị từ tàu Claude Chape sang tàu Harmand Rousseau (chở tù chính trị
từ Khám Lớn Sài Gòn ra Côn Đảo), những chiến sĩ cộng sản đã hiên ngang phất cao lá
cờ đỏ búa liềm, và đanh thép hô những khẩu hiệu cách mạng:
- Công nông binh đoàn kết lại!
- Phản đối bắn giết tù đày!
- Đả đảo đế quốc chủ nghĩa Pháp và phong kiến địa chủ!
- Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!
- Cách mạng Đông Dương thành công muôn năm!
Hình ảnh lá cờ đỏ búa liềm cùng những khẩu hiệu cách mạng và khí phách hiên ngang của các chiến sỹ cộng sản đã gieo vào lòng nhân dân một niềm tin vào một lực lượng cách mạng mới sẽ lật đổ chế độ thống trị của thực dân Pháp, giành lại nền độc lập
Là một đầu cầu, cửa ngõ trên con đường giao thông thủy bộ từ Bắc vào Nam, Bà Rịa - Vũng Tàu từng lưu lại dấu chân của nhiều chiến sỹ cách mạng từ nhiều địa phương
về hội tụ, gieo những hạt giống cách mạng vào lòng những người dân lao khổ, trên một mảnh đất đã từng đi đầu chiến đấu chống thực dân Pháp ở Nam Bộ
Đồng chí Hồ Tri Tân là người đầu tiên xây dựng những tổ chức cách mạng ở Bà Rịa Hồ Tri Tân sinh năm 1908 tại Quảng Trị Ông tham gia cách mạng từ năm 1929, giác ngộ Cộng sản, trở thành liên lạc viên của Tỉnh ủy Việt Nam Cộng sản Đảng tỉnh Quảng Trị Đợt khủng bố trắng của thực dân Pháp tháng 5 năm 1931, trên 500 cán bộ đảng viên và quần chúng ở Quảng Trị bị bắt Tỉnh ủy Quảng Trị tan rã, các đảng viên phải phân tán, tránh sự khủng bố của thực dân Pháp
Cuối năm 1931, Hồ Tri Tân cùng hai người bạn thợ mộc là Lương Tống và Lương Nậy từ Quảng Trị vào Bà Rịa làm ăn Hồ Tri Tân sinh sống hợp pháp và mở một trại cưa nhỏ tại Phước Hải, một làng đông dân, trù phú, nghề cá phát triển, quần tụ nhiều
ngư dân miền Trung Mang theo được một số tài liệu bí mật gồm: Điều lệ tổ chức Công
hội, Nông hội, Phương pháp hoạt động bí mật Hồ Tri Tân đã tập hợp những người
tốt để giác ngộ cách mạng
Mùa xuân 1932, Hồ Tri Tân cùng các anh Trần Văn Ý (thợ mộc) ở Long Hương, Nguyễn Văn Lăng (vận tải xe bò) ở Lò Vôi Phước Tỉnh tổ chức lễ kết nghĩa tại chùa Châu Viên, thề cùng nhau “hoạn nạn tương cứu, sinh tử bất ly”, gọi là nhóm Châu Viên
Trang 1918
kết nghĩa Mỗi người trong nhóm lại tìm bạn, tập hợp thêm Trần Văn Hóa, Trần Văn Thiên, Hồ Thị Trinh, Mười Còn, Thợ Quy, Lương Xưởng là những người lao động có tinh thần chống Pháp vùng Đất Đỏ mở rộng thành Hội Châu Viên kết nghĩa Năm 1933, Hội Châu Viên kết nghĩa phát triển được 10 hội viên Hồ Tri Tân từng bước giác ngộ, đưa tài liệu bí mật cho anh em đọc và cùng thảo luận
Đêm 13 tháng 7 năm 1933, Hội Châu Viên kết nghĩa đã treo được 6 lá cờ đỏ búa liềm tại địa phận xã Long Hương, thị xã Bà Rịa; thị trấn Long Điền; Nhà kiểm lâm Đất Đỏ; Nhà hội làng Long Nhung; Nhà hội làng Long Mỹ và đỉnh núi Hòn Ngang tại địa phận ấp Lò Vôi, Phước Tỉnh12 Gần một ngàn truyền đơn ký tên Việt Nam cộng sản Đảng đã được rải ở nhiều địa điểm từ thị xã Bà Rịa đến Long Điền, Đất Đỏ với các nội
dung: "Bỏ thuế thân; Giảm thuế điền thổ trạch; Chống tham quan ô lại; Công nông binh
liên hiệp lại.” Cờ đỏ búa liềm và truyền đơn cách mạng xuất hiện ở Bà Rịa, Long Điền
và Đất Đỏ ngay trong ngày Quốc khánh Pháp khiến bọn thực dân hết sức hoang mang, còn những người yêu nước thì phấn khởi, hy vọng đón chờ
Bà Rịa Vũng Tàu khi ấy là một trong những trung tâm Phật giáo lớn ở miền Đông Nam Bộ Phong trào Chấn hưng Phật giáo phát triển mạnh mẽ từ năm 1931 với sự ra đời của các Hội nghiên cứu Phật học và các tạp chí Phật học ở khắp ba kỳ13 đã ảnh hưởng sâu sắc đến giới tăng ni phật tử Bà Rịa Thiên Thai cổ tự (Long Điền) là một trong những trung tâm Phật giáo lớn ở Bà Rịa Kế thừa tư tưởng yêu nước của Sư tổ Huệ Đăng, các môn đệ Thiên Thai cổ tự sôi nổi tham gia cuộc tranh luận về Phật giáo, hướng về quan điểm “Phật tự Tâm” của Sư Thiện Chiếu (chùa Linh Sơn, Sài Gòn) phê phán thuyết “Thượng đế toàn năng”, phê phán sự u mê về thiên đường hay cõi Tây phương cực lạc; hướng Phật giáo nhập thế với mục đích cứu khổ, cứu nạn chúng sinh
Đó chính là khuynh hướng tích cực của phong trào Chấn hưng Phật giáo
Hồ Tri Tân tổ chức Nhóm nghiên cứu Phật giáo gồm: Hồ Tri Tân, Trần Văn Cừ (Ba Thẹo), Nguyễn Văn Long, Lương Tống, Trần Bá Thiên, Nguyễn Văn Lăng, Chín Xướng và chị Tư Minh Nhóm nghiên cứu Phật giáo là một hình thức hoạt động công khai, vận động tăng ni phật tử theo chánh đạo, chống tà thuyết14, đồng thời là phương thức hữu hiệu để Hồ Tri Tân, Trần Văn Cừ, Nguyễn Văn Long bí mật hoạt động cộng sản Trần Văn Cừ là đảng viên ở Cà Mau, Nguyễn Văn Long là đảng viên của hãng xe buýt Sài Gòn, cả hai đang bị thực dân Pháp truy lùng, tạm lánh về Bà Rịa
Sau một thời gian tìm hiểu, Hồ Tri Tân cùng Trần Văn Cừ, Nguyễn Văn Long đã
tổ chức cuộc họp tại nhà ông Trần Bá Thiên, xã Phước Hải (Đất Đỏ) vào tháng 2 năm
1934, tuyên bố thành lập chi bộ gồm 3 đảng viên: Trần Văn Cừ (bí thư), Nguyễn Văn Long, Hồ Tri Tân Nguyễn Văn Long tích cực tham gia vào Hội Phật học và phái Tịnh độ
12. Hồ Tri Tân: Hồi ký, bản đánh máy lưu tại Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Đồng Nai, tr 5 Về thời gian, nhiều tài liệu
trước đây viết ngày 14-7-1931 là không chính xác, vì cuối năm 1931, đồng chí Hồ Tri Tân mới vào Long Điền Lá cờ trên đỉnh Hòn Ngang lớn nhất, do ông Lê Minh Châu (thợ may ở làng Phước Tỉnh) may và cùng các đồng chí của ông treo trong đêm 13-7-1933
13. Năm 1931, Hội nghiên cứu Phật học Nam Kỳ ra đời và tháng 1-1932 xuất bản tạp chí Từ bí âm; Tháng 6-1933, nguyệt san Viên âm ra đời ở Huế, là cơ quan nghiên cứu của Hội Phật học Trung kỳ; Hội Phật học Bắc kỳ thành lập tháng 11-1934
và năm sau ra tờ Đuốc Tuệ
14 Sáng lập ra Thiên Thai cổ tự là Hoà thượng Thích Huệ Đăng, tên thật là Lê Quang Hoá, từng tham gia phong trào Cần Vương ở Bình Định, bị đàn áp phải lánh vào Bà Rịa tu hành và tiếp tục truyền bá tư tưởng yêu nước Các đệ tử của ông nhiều người tham gia Hội Phật giáo cứu quốc như Thích Minh Nguyệt, Thích Thiện Hào, Thích Pháp Trí Thích Minh Nguyệt là hạt nhân của Thiên Thai Thiền tông Liên hữu Hội, có nhiều đóng góp trong cuộc chấn hưng Phật giáo tại địa phương, đấu tranh chống các quan điểm duy tâm, thần bí Sau cách mạng tháng Tám 1945, ông tham gia kháng chiến, được bầu làm Hội trưởng Hội Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ
Trang 2019
Cư sỹ, dựa vào triết lý Phật giáo để vạch rõ những bất công trong xã hội mà nguồn gốc từ chế độ cai trị của thực dân Pháp xâm lược câu kết với bọn phong kiến phản động Trần Văn Cừ vận động công nhân cao su và nông dân vùng Tứ Long Hồ Tri Tân vận động giới thợ mộc, thợ hồ, quần chúng lao động và buôn bán ở Long Điền, Đất Đỏ Trong một thời gian ngắn, chi bộ Phước Hải kết nạp được chị Nguyễn Thị Sanh (Sáu Mười Mẫu) và anh Minh Rỗ (công nhân cao su), chị Hồ Thị Trinh, anh Trần Văn Hóa (ở làng Phước Hải), anh Võ Văn Thiết, anh Lê Công Cẩn (quê làng Long Mỹ, quận Đất Đỏ)
Cũng trong thời gian này, lực lượng tù chính trị bị giam ở các nhà tù Bà Rịa và Vũng Tàu (Cap Saint Jacques) tiếp tục tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, phát động những cuộc đấu tranh chính trị, gây tiếng vang đối với quần chúng Nhiều báo cáo của mật thám Nam Kỳ đã báo động về việc tuyên truyền cộng sản và đấu tranh của tù chính trị ở hai nhà tù này
Báo cáo số 4097-S ngày 22 tháng 11 năm 1933 của mật thám Nam Kỳ gửi Thống đốc Nam Kỳ cho biết, ngày 10 tháng 11 năm 1933, tại nhà tù Cap Saint Jacques, Nguyễn Văn Sang và Lê Văn Cư cùng một số tù chính trị nổi tiếng bị kết án ngày 1 tháng 9 năm
1933 đã cổ vũ đồng phạm rời bỏ lao dịch 14 tù chính trị đã tuyệt thực đến ngày 14 tháng 11 năm 1933 Một nhóm thứ hai gồm 16 tù nhân đã từ chối không đi làm (khổ sai) vào sáng 12 tháng 11 năm 193315
Bản báo cáo số 2120-S ngày 4 tháng 7 năm 1934 cho biết, 5 tù chính trị nổi tiếng
và 1 tù thường phạm đã từ chối không đi làm khổ sai Bị phạt xà lim, họ đã tuyệt thực
từ 26 tháng 6 năm 1934 đến 30 tháng 6 năm 193416 Tại nhà tù Bà Rịa, 23 phạm nhân vừa chuyển từ nhà tù Châu Đốc đến đã đấu tranh tuyệt thực chống lại việc phạt Trần Văn Quân, Nguyễn Nanh, Nguyễn Văn Lợi và 3 tù khổ sai vào ngục (BáoL`Inpatial ngày 15 tháng 12 năm 1933 đã đưa tin trên trang 8 cột 1)
Các cuộc đấu tranh chống lao dịch và tuyệt thực ở các nhà tù Bà Rịa và Vũng Tàu sôi nổi trong những năm 1934-1935 Trương Văn Bang, nguyên Bí thư Xứ ủy Nam
Kỳ (1932) và một số người bị coi là cầm đầu các cuộc đấu tranh này đã bị chuyển về Khám Lớn (Sài Gòn)
2 Phát triển các tổ chức quần chúng, phát động đấu tranh dân sinh dân chủ, thành lập Ban cán sự Đảng tỉnh Bà Rịa
Ngày 3 tháng 5 năm 1936, Mặt trận nhân dân Pháp giành thắng lợi lớn trong cuộc bầu cử Quốc hội Pháp Tháng 6 năm 1936, Chính phủ phái tả của Mặt trận nhân dân Pháp lên cầm quyền do Lêông Bơlum (Léon Blum) làm Thủ tướng và Mariuýt Mutê (Marius Moutet), đảng viên Đảng Xã hội làm Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Ra đời trong cao trào nhân dân đấu tranh chống phát xít, Chính phủ phái tả đã giải quyết một số quyền lợi cho quần chúng lao động trong nước và các thuộc địa theo cương lĩnh của Mặt trận nhân dân Pháp Lợi dụng tình hình chính trị đang thuận lợi, ngày 26 tháng 7 năm 1936 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta quyết định thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương và chủ trương chuyển hình thức hoạt động bí mật sang hoạt động công khai, nửa hợp pháp nhằm tập hợp, hướng dẫn quần chúng đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, chống thực dân và bè lũ tay sai
15 Tài liệu của Cục lưu trữ Trung ương Đảng, Hà Nội, khối tài liệu chính quyền cũ, Đơn vị bảo quản 186, tờ 22
16 Tài liệu đã dẫn, tờ 29
Trang 2120
Những hoạt động công khai, hợp pháp của một số đảng viên như Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyễn, Dương Bạch Mai ở Sài Gòn, kết hợp với nhà trí thức yêu nước Nguyễn An Ninh trong những năm 1935-1936 đòi tự do dân chủ, cải tiến thể chế chính trị ở thuộc địa, có ảnh hưởng tích cực đối với phong trào cách mạng ở các tỉnh Nam Bộ nói chung, ở Bà Rịa nói riêng Qua báo chí tiến bộ, Đảng ta đã đưa ra 12 yêu cầu đòi quyền tự do dân chủ cho các tầng lớp nhân dân, đòi đại xá tù chính trị Trung ương Đảng gửi thư kêu gọi cả nước thành lập Ủy ban hành động để tập trung lực lượng trong các tầng lớp nhân dân, tích cực chuẩn bị Đại hội Đông Dương
Ngày 13 tháng 8 năm 1936, Ủy ban trù bị Đại hội Đông Dương được thành lập tại Sài Gòn Trong vòng 2 tháng, tháng 8 và tháng 9 năm 1936, toàn Nam Bộ có trên
600 Ủy ban hành động Cuộc vận động Đông Dương Đại hội khởi xướng từ Sài Gòn giữa năm 1936 đã nhanh chóng lan về Bà Rịa
Hưởng ứng phong trào Đông Dương Đại hội do Đảng ta phát động, Hồ Tri Tân
tổ chức Ủy ban hành động17 gồm: Hồ Tri Tân, Trần Văn Cừ, Trần Văn Hoá, Trần Bá Thiên, Nguyễn Thị Sanh Trụ sở của Ủy ban đóng tại Phước Hải Ủy ban in nhiều truyền đơn phát hành công khai, cổ động quần chúng nhân dân tập hợp nguyện vọng, chuẩn bị
cử đại biểu đưa lên phái đoàn thanh tra của Mặt trận nhân dân Pháp sắp sang Đông Dương điều tra
Nhiều Ủy ban hành động ở các huyện lần lượt được thành lập Ủy ban hành động Long Điền gồm các đồng chí Nguyễn Văn Phải, Nguyễn Văn Lê , Ủy ban hành động Đất Đỏ gồm các đồng chí Võ Văn Thiết, Lê Công Cẩn, Đỗ Văn Nhàn (Bảy Nhàn) Cùng với việc tập hợp nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, Ủy ban hành động còn tích cực vận động nhân dân đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, đòi giảm thuế, nhất là thuế thân, thuế muối
Hội Lỗ Ban tương tế được tổ chức công khai theo sáng kiến của Hồ Tri Tân vào ngày 2-9-1936 (17-7 âm lịch), ngày cúng Lỗ Ban tiên sư, ông tổ của ba ngành thợ mộc, thợ nề, thợ cưa Điều lệ do Hồ Tri Tân dự thảo theo nguyên tắc của Điều lệ Công Hội
đỏ Tên hội công khai được đặt là Lỗ Ban tự tương thân tương tế Hội18, sử dụng Lỗ Ban
tự (nơi thờ tự Lỗ Ban) làm trụ sở hoạt động công khai và tương thân tương tế làm nội dung vận dụng tổ chức các hội biến tướng Ban trị sự công khai gồm: ông Trần Văn Hữu, thợ mộc ở Phước Lễ làm Hội trưởng; ông Lê Văn Tập, thợ mộc ở Phước Lễ làm Hội phó; ông Hồ Tri Tân, thợ mộc ở Phước Hải làm thư ký kiêm thủ quỹ
Ban trị sự chịu sự lãnh đạo của Ban chỉ đạo Lâm thời tỉnh Bà Rịa gồm có Hồ Tri Tân, Nguyễn Thị Sanh (công nhân cao su), Nguyễn Văn Lăng (đánh xe bò), Nguyễn Văn Nhàn (Năm Nhàn, thợ nề ở Phước Hải) và Lê Văn Viết (thợ mộc ở Phước Lễ) Mỗi làng, tổ chức công khai một phân hội, có phân hội trưởng và thư ký, có sổ thu tiền hội phí hàng tháng Cuộc họp mặt ngày giỗ tổ 2 tháng 9 năm 1936 (17-7 âm lịch) tổ chức công khai tại nhà ông Lê Văn Tập (Phước Lễ) có trên 300 người tới dự Lần đầu tiên,
ba giới thợ (thợ mộc, thợ cưa, thợ nề) họp mặt thờ chung một ông tổ, thảo luận Điều lệ của Lỗ Ban tương thân tương tế Hội, sau đó có 150 người tự nguyện ghi tên, đóng hội phí và nhận điều lệ Thực chất, đó là một cuộc mít tinh của giới thợ Bà Rịa, tuyên truyền
ý thức giác ngộ giai cấp, đoàn kết đấu tranh chống áp bức bóc lột
Trang 2221
Ngoài các chi hội thợ mộc, thợ nề, thợ cưa công khai như Điều lệ Hội được tham biện tỉnh cho phép, Ban chỉ đạo còn chọn những thanh niên tốt, hăng hái hoạt động, tổ chức ra các chi hội bí mật, cứ ba người lập một chi hội theo giới thợ, hoạt động bí mật theo sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh Hội Làng nào có hai ba giới thợ thì tổ chức hai hoặc
ba chi hội Trong năm 1936, hai hệ thống Phân hội (công khai) và Chi hội (bí mật) đã song song hình thành:
Phân hội (công khai) có:
1- Phân hội Long Điền: ông Sáu Đô, chủ xưởng thủ công là Phân hội trưởng; 2- Phân hội Phước Tuy 1: ông Lê Văn Tập là Phân hội trưởng, Lê Văn Viết là thư ký;
3- Phân hội Phước Tuy 2: ông Trần Doanh là Phân hội trưởng;
4- Phân hội Phước Hải: ông Nguyễn Văn Nhàn (Năm Nhàn), thợ nề là Phân hội trưởng; 5- Phân hội An Nhứt: ông Sáu Ngói (Sáu Môn) là Phân hội trưởng;
6- Phân hội Phước Thọ;
7- Phân hội Ngư nghiệp Phước Tỉnh: ông Hai Cận (Hai Tròn) là Phân hội trưởng;
Chi hội (bí mật) gồm:
1- Chi hội thợ nề Phước Hải: ông Nguyễn Văn Nhàn (Năm Nhàn) là Chi hội trưởng; 2- Chi hội thợ mộc Phước Hải: ông Trần Đình Xướng là Chi hội trưởng;
3- Chi hội thợ mộc Phước Tuy 1: ông Trần Văn Viết là Chi hội trưởng;
4- Chi hội thợ mộc Phước Tuy 2: ông Trần Ngọc Trân là Chi hội trưởng;
5- Chi hội thợ mộc An Nhứt: ông Ngói là Chi hội trưởng;
6- Chi hội thợ cưa Long Điền: ông Lê Văn Tư là Chi hội trưởng;
7- Chi hội thợ mộc Phước Thọ;
8- Chi hội thợ mộc Long Nhung;
9- Chi hội thợ mộc Long Lập;
Lỗ Ban tương thân tương tế Hội làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh đòi quyền sống ở vùng Bà Rịa, Long Điền, Đất Đỏ, quy tụ cả bà con nông dân, các ngành nghề, phu làm muối, chị em buôn bán ở các chợ Phước Hải, Long Điền Nhiều hội nghề nghiệp trực thuộc Ban chỉ đạo tỉnh được thành lập như: Hội tương tế nấu rượu lậu ở Long Mỹ (5 người)
do ông Võ Văn Thiết phụ trách; Hội tương tế thợ may Phước Tỉnh do ông Ba Cụt (tức Lê Minh Châu) phụ trách; Hội tương tế vận tải Phước Tỉnh do ông Nguyễn Văn Lăng phụ trách Cuối năm 1936, số hội viên các chi hội, phân hội tăng lên trên 200 người
Theo báo cáo ngày 25 tháng 9 năm 1936 của hương lý làng Phước Hải, tổng Phước Hưng, chủ tỉnh Bà Rịa báo cáo Thống đốc Nam Kỳ (ngày 26-9-1936): “Trong làng Phước hải, tổng Phước Hưng có tên Hồ Tuy, 28 tuổi, quán làng An Long, tổng Bích
La, tỉnh Quảng Trị, mang thẻ căn cước số A 120.583, còn có tên là Tri Tân, vợ là Hồ Thị Trinh, lập Ủy ban hành động, đề nghị cho trục xuất.”19
Tập Hồ sơ IIA.45/181 về hoạt động của phong trào Đông Dương Đại hội, hiện lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Nhà nước II cho biết, tỉnh trưởng các tỉnh đã tổ chức theo dõi rất sát hoạt động của Ủy ban hành động tại địa phương
19. Nguyễn Thành: Cuộc vận động Đông Dương Đại hội năm 1936, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh 1985, tr: 96-97
Trang 23Công văn 131c ngày 25 tháng 9 năm 1936 của Chủ tỉnh Bà Rịa Bartoli báo cáo tiếp: Trần Văn Thiên vừa bị tòa án Bà Rịa xử 4 tháng tù và 5 năm quản thúc Trong suốt thời gian căng thẳng của tên Trần Văn Thiên, Hồ Tuy tức Hồ Tri Tân, tỏ ra hoạt động hăng, vận động trong tỉnh và Sài Gòn nhằm tha cho Thiên Đề nghị đuổi Hồ Tuy về nguyên quán
Công văn 154c ngày 16 tháng 10 năm 1936 cho biết thêm: Trần Văn Thiên, Hồ Tuy tức Tri Tân và Nguyễn Thị Sanh, lập các Ủy ban hành động ở tỉnh Ngày 20 tháng
9 vừa rồi, ở căn nhà thuê ở Phước Hải, Nguyễn Thị Sanh đã có mặt trong cuộc họp, nêu các yêu sách, khoảng 20 người đứng chung quanh Vì không xin phép, Sanh bị nhà cầm quyền bản xứ bắt Trần Văn Thiên đã bị xử 4 tháng tù và 5 năm quản thúc Còn Hồ Tuy
đề nghị trục xuất
Ngày 15 tháng 10 năm 1936, Quận trưởng Long Điền Vivan gửi báo cáo số 28c Báo cáo chủ tỉnh việc theo dõi các Ủy ban hành động như sau: “Tiếp theo báo cáo mật số 22c ngày 30 tháng 9 năm 1936, cung cấp thêm về các Ủy ban hành động Long Điền và Phước Hải, do các tên: Nguyễn Văn Thiên (tức Trần Văn Thiên) đã bị kết án vì “lang thang” (không nghề nghiệp) ngày 22 tháng 9 năm 1936 (4 tháng tù và 5 năm quản thúc) Hồ Tuy tức Tri Tân, nguyên quán Quảng Trị và Nguyễn Thị Sanh nguyên quán Tân Uyên (Biên Hòa), nhưng không thể hoạt động vì đã có những biện pháp kiên quyết chặn kịp thời
( ) Ủy ban hành động Xà Bang - Ngãi Giao được ghi trên truyền đơn màu xanh
là do Nguyễn Thị Sanh tạo ra, dùng danh nghĩa culi Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam Kỳ làm
ở đồn điền Trần Kim Tỵ, mà chồng là Huỳnh Văn Sinh làm xu ở đồn điền bên cạnh Xà Bang thuộc hãng Gallia (Sosiété Gallia) nhằm tỏ lòng đoàn kết với Ủy ban (hành động) Trung ương ở Sài Gòn Truyền đơn này in ở nhà in Bảo Tồn, phân phát cho công nhân đồn điền và vùng xa trung tâm (Tổng Mọi ở Cơ Trạch), cách Long Điền 31km và cách Toà bố Bà Rịa 33 km
Tôi đã đến nhà Nguyễn Thị Sanh, nơi Thị Sanh khai hoang và trồng 4 ha thuộc làng Ngãi Giao không xin phép, men theo lộ số 2 và có thể dính với nhượng địa của Ô Caffort để thu thập tin tức, nhưng không gặp Thị Sanh Tôi buộc phải sang đồn điền Trần Kim Tỵ, ở cùng làng cách 3 km Tại đây tôi đã gặp Thị Sanh và chồng, họ đã khẳng định 13 tên ghi phía dưới truyền đơn là công nhân đồn điền, không ghi rõ địa chỉ
Xu Sinh khẳng định với tôi rằng, từ khi biết những hoạt động của vợ kể trên, cảnh sát đã theo dõi Sanh, cho nên y phải đưa vợ về ở cạnh và ngăn thị đừng quan tâm những gì không dính tới mình (Nguyễn Thị Sanh đã bị tạm giữ một đêm ở nhà việc Phước Hải vì có
âm mưu hội họp công cộng) Ủy ban Ngãi Giao, Xà Bang, Bà Rịa chỉ kí tên trên giấy”
Ngày 28 tháng 10 năm 1936, Chủ tỉnh Bartoli gửi Công văn số 164c báo cáo với Thống đốc Nam Kỳ: Hiện Trần Văn Thiên đã bị đưa đi tù 4 tháng và 5 năm quản thúc;
Hồ Tuy bị canh chừng ngặt ở tỉnh, thỉnh thoảng đi Sài Gòn liên lạc với Ủy ban hành động Trung ương; Nguyễn Thị Sanh ở đồn điền cũng bị bắt về ở nhà, không cho liên hệ chính trị
Trang 2423
Trần Văn Cừ và Trần Văn Hoá bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam ở khám
Bà Rịa, khép vào tội “du thủ du thực” với lý do hai người vừa lưu lạc từ nơi khác tới, chưa có công ăn việc làm Ủy ban lâm thời Đông Dương Đại hội ở Sài Gòn cũng như
Ủy ban hành động ở các địa phương bị đình chỉ hoạt động Tuy nhiên, Đảng ta vẫn chỉ đạo đẩy mạnh phong trào đấu tranh đòi các quyền dân sinh dân chủ, thành lập các tổ chức nghiệp đoàn, tương tế, ái hữu, tiến tới thành lập một Mặt trận nhân dân thống nhất chống phản động thuộc địa, chống phát xít, đòi tự do, cơm áo, hòa bình
Cuối năm 1936, đồng chí Lê Văn Sô, tù chính trị ở Côn Đảo mãn án, bị thực dân Pháp đưa về chỉ định an trí ở Bà Rịa Trong thời gian tìm nơi cư trú và việc làm, thực dân Pháp cho đồng chí tạm trú tại khám Bà Rịa Lê Văn Sô liên lạc được với Trần Văn
Cừ và Trần Văn Hoá đang bị giam ở đây, nhờ đó liên lạc với Hồ Tri Tân, hoạt động trong chi bộ Phước Hải, đẩy mạnh việc phát triển cơ sở Đảng và các đoàn thể quần chúng Vận dụng những kinh nghiệm chỉ đạo phong trào ở miền Tây Nam Bộ và những kinh nghiệm tích lũy được trong nhà tù Côn Đảo, Lê Văn Sô đã góp phần nâng cao chất lượng và đẩy mạnh các hoạt động của chi bộ Phước Hải20
Làm phu cho một chủ xe đò đưa cá, mắm từ Phước Hải lên bán ở các chợ vùng cao su lộ 2, Lê Văn Sô đã cùng chị Nguyễn Thị Sanh và anh Minh Rỗ xây dựng nhiều hội tương tế trong công nhân cao su Hồ Ngọc Hạ (em ruột Hồ Tri Tân) cũng được giác ngộ và được cử đi cùng Lê Văn Sô phát triển cơ sở trong công nhân cao su Chi bộ liên
sở cao su Bình Ba - Xà Bang - Láng Lớn được thành lập gồm các đồng chí Nguyễn Thị Sanh (Sáu Mười Mẫu), Minh Rỗ, Hồ Ngọc Hạ do đồng chí Lê Văn Sô trực tiếp chỉ đạo Trong vai người đi buôn cá, Lê Văn Sô vừa trực tiếp hoạt động, vừa giữ mối liên lạc giữa Phước Hải với vùng cao su
Các đảng viên được Xứ ủy phân công chỉ đạo phong trào đấu tranh công khai thường xuyên theo dõi và chỉ đạo hoạt động của Ủy ban hành động Bà Rịa, trực tiếp là các đồng chí Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Lộng (tức Chùa) Dương Bạch Mai hoạt động công khai trong giới báo chí, trí thức, nghị trường, được phân công chỉ đạo địa bàn vùng Biên Hòa, Bà Rịa
Qua sự giới thiệu của Dương Bạch Mai, Hồ Tri Tân liên lạc được với đồng chí Nguyễn Văn Phải (tức Thanh Phong), đảng viên Đảng cộng sản Pháp đang hoạt động ở thị trấn Long Điền và phát triển thêm được nhiều cơ sở mới như Chín Thừa (Phước Tỉnh), Nguyễn Văn Lê (An Ngãi), Đỗ Văn Nhàn (Bảy Nhàn ở Tam Phước) Nhóm của Nguyễn Văn Lê (Ba Lê ở An Ngãi) tập hợp thêm Ba Cụt (Lê Minh Châu, ở Phước Tỉnh), Hai Khai và nhiều thanh niên hăng hái ở Long Điền
Cuối năm 1936, Lê Văn Sô và Hồ Ngọc Hạ được điều về Mỹ Tho hoạt động Những nỗ lực của Hồ Tri Tân cùng những đóng góp tích cực của Lê Văn Sô đã góp phần củng cố các cơ sở Đảng Năm 1937, Chi bộ Phước Hải phát triển thêm nhiều đảng viên như Trần Văn Hoá, Hồ Thị Trinh, Hồ Thị Tường, Lương Tống (ở Phước Hải); Lê Văn Hay tức Hà Du (Long Điền), Võ Văn Thiết, Lê Công Cẩn, Trương Văn Tân (Long Mỹ) Chi bộ Long Mỹ được thành lập do Võ Văn Thiết làm Bí thư
Đầu năm 1937, đồng chí Trương Văn Bang vừa ra tù, được Liên Tỉnh ủy miền Đông cử về củng cố các cơ sở Đảng ở Biên Hòa và Bà Rịa Trương Văn Bang từng bị bắt giam ở Khám Lớn (Sài Gòn), khám Vũng Tàu, khám Bà Rịa, từng tổ chức nhiều
20 Lê Văn Sô nguyên là học sinh trường Collège de Cần Thơ, được đi dự lớp huấn luyện của đồng chí Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (1927), là Ủy viên Ban Chấp hành Đặc Ủy hậu Giang An Nam cộng sản Đảng (1930)
Trang 2524
cuộc đấu tranh của tù chính trị Bà Rịa và Vũng Tàu Ban cán sự lâm thời tỉnh Bà Rịa được thành lập giữa năm 1937, Trương Văn Bang làm Bí thư, Ban cán sự có Võ Văn Thiết, Hồ Tri Tân, Nguyễn Văn Tư, Lương Tống, Nguyễn Thị Sanh21 Khi ấy, trên địa bàn Bà Rịa - Vũng Tàu đã có ba chi bộ: chi bộ Phước Hải, Chi bộ Long Mỹ, chi bộ Bình
Ba - Xà Bang - Láng Lớn và một số đảng viên lẻ ở Long Điền Hầu hết các làng vùng Long Điền, Đất Đỏ, Long Hương, Phước Lễ, khu Tứ Long, Khu vực lộ 2 đã có các cơ
sở Đảng và các Hội tương tế
Trần Thị Vân, Hồ Ngọc Hạ, Hồ Thị Trinh thường làm giao liên, đưa Trương Văn Bang đến các cơ sở Đảng Trục giao liên chính là con đường từ nhà Hồ Tri Tân (Phước Hải) đến nhà Võ Văn Thiết (Long Mỹ) và nhà Nguyễn Thị Sanh (Bình Ba) Võ Văn Thiết tiếp tục đưa Trương Văn Bang đến các cơ sở vùng Long Điền, Đất Đỏ Nguyễn Thị Sanh đưa Trương Văn Bang đi tuyên truyền, phát triển cơ sở trong công nhân cao
su Hai vợ chồng chị đều là đảng viên, rất tích cực hoạt động
Ban chỉ đạo phong trào đấu tranh dân sinh dân chủ và tổ chức các nghiệp đoàn ở
Bà Rịa được củng cố lại gồm 5 người: Nguyễn Văn Tư là thư ký, Hồ Tri Tân, Nguyễn Văn Nhàn (Năm Nhàn), Võ Văn Thiết và chị Tư Móm Hồ Tri Tân và Nguyễn Văn Nhàn phát triển các chi hội thợ mộc, thợ nề, thợ cưa; Võ Văn Thiết phụ trách tổ chức các hội tương tế khác; chị Tư Móm phụ trách tổ chức các hội phụ nữ buôn gánh bán bưng ở chợ Phước Hải Hội phụ nữ tương tế đầu tiên được thành lập ở Phước Hải do chị
Tư Móm phụ trách; Nguyễn Văn Tư phụ trách việc liên lạc với Sài Gòn
Đầu năm 1937, Xứ ủy cử một số đảng viên hoạt động công khai để chỉ đạo phong trào dưới danh nghĩa là Ban Công đoàn Ban Công đoàn lúc đó gồm: Nguyễn Thị Phụng, Nguyễn Văn Lộng tự Chùa, Nguyễn Thành A, Nguyễn Công Trung, Nguyễn Công Trực, Văn Công Khai, sau đó bổ sung thêm đồng chí Trần Văn Cừ, từng hoạt động ở Bà Rịa Qua đồng chí Nguyễn Văn Lộng, đồng chí Nguyễn Văn Tư nhận chỉ thị của Xứ ủy về việc phát động một phong trào đấu tranh ở các địa phương phối hợp với phong trào ở Sài Gòn
Tháng 6 năm 1937, Ban chỉ đạo tỉnh đã phát động cuộc đấu tranh trong giới thợ cưa Bà Rịa Bà Rịa khi ấy có nhiều trại cưa, trại cưa Thủ Lựu lớn nhất, có khoảng 100 thợ; Long Điền có trại cưa của Giáo Tòng và vài trại nhỏ tổng cộng khoảng 100 thợ; Phước Hải có 2 trại nhỏ hơn; Đất Đỏ có vài trại cưa lẻ; Bà Rịa còn có trại Ba Chim, nhưng lúc đó ít hoạt động Ba Chim đang trúng thầu nhiều công trình xây cất các nhà nghỉ ở Long Hải Các trại cưa lúc đó đều đã có chi hội tương tế
Trên 200 thợ cưa ở hầu hết các trại cưa Thủ Lựu, Long Điền, Phước Hải đã đồng loạt hưởng ứng cuộc bãi công với yêu sách nâng giá cưa gỗ dầu từ 0,10đ/m2 lên 0,12 đ/m2, gỗ sao từ 0,13 đ/m2 lên 0,15 đ/m2 Đồng chí Hồ Tri Tân trực tiếp chỉ đạo cuộc đấu tranh này Các chi hội thợ mộc, thợ nề đều hưởng ứng bằng dư luận, sẵn sàng hỗ trợ cuộc bãi công Nhờ sự đoàn kết đấu tranh của giới thợ cưa và sự khéo léo của đồng chí
Hồ Tri Tân (cũng là một chủ trại cưa), sau ba ngày bãi công, các chủ trại cưa đã họp lại, nhất trí nhượng bộ giới thợ
Cuộc ra quân qui mô của giới thợ cưa thắng lợi đã thôi thúc giới thợ mộc, thợ nề Ngay sau đó, các chi hội thợ mộc, thợ nề sở Ba Chim ở Long Hải tổ chức đấu tranh với
các yêu sách: “Thi hành Luật lao động, ngày làm 8 giờ; Tăng lương 10%; Phản đối
đánh đập thợ; Phản đối cúp lương thợ ”
21 Hồi ký của đồng chí Trương Văn Bang lưu tại Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Đồng Nai, tr 3
Trang 26Thắng lợi liên tiếp trong hai cuộc bãi công của giới thợ đã cổ vũ các tầng lớp nhân dân trong tỉnh Tháng 6 năm 1937, Ban chỉ đạo đã vận động chị em buôn bán ở chợ Phước Hải đấu tranh chống tên Chà lạm thu thuế chợ và đánh đập chị em Ban chỉ đạo cuộc đấu tranh gồm đồng chí Nguyễn Văn Tư làm Trưởng ban và các thành viên: chị Tư Móm, chị Nguyễn Thị Nga, Hồ Tri Tân, Võ Văn Thiết
Các chị Hồ Thị Trinh, Hồ Thị Tường, Hồ Thị Đức được phân công vận động chị
em buôn bán ở chợ; Võ Văn Thiết vận động các chi hội tương tế các xã lân cận hỗ trợ đấu tranh bằng dư luận; Hồ Tri Tân cùng Nguyễn Văn Nhàn vận động các chi hội thợ mộc, thợ nề tại Phước Hải đến chợ mua bán để trực tiếp hỗ trợ và chỉ đạo cuộc đấu tranh
Mở đầu cuộc đấu tranh, một số chị em tạo cớ bằng cách không chịu đóng tiền chỗ khi tên Chà đến thu, lấy lý do là chưa bán được hàng Giống như mọi khi, tên Chà xông vào
đánh đập, cả chợ đồng thanh la: "Phản đối tên Chà đánh đập chị em” và xếp hàng lại,
kéo đến nhà việc gặp lý trưởng tố cáo tên Chà thu tiền quá qui định, đánh đập chị em
Trong khi đó, chị Nguyễn Thị Nga dẫn đầu một đoàn đại biểu thuê xe lên Bà Rịa đưa yêu sách cho chủ tỉnh Tên chủ tỉnh hứa hẹn sẽ xem xét, sau 4 ngày bãi thị, chủ tỉnh cùng chánh tổng Tri và lý trưởng Phước Hải đã đến chợ giải quyết các yêu sách, xử phạt tên Chà, tuyên bố mức thu thuế đúng như quy định Sau cuộc đấu tranh, bọn Pháp kiếm
cớ bắt giam chị Nguyễn Thị Nga 7 ngày tại khám Bà Rịa Chi hội phụ nữ tương tế Phước Hải đã cử người thăm nuôi, động viên, giúp đỡ gia đình chị và bán hàng giúp chị Thắng lợi của cuộc đấu tranh đã củng cố thêm tình đoàn kết của các hội tương tế và lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Thợ bạn lưới rê, lưới cản ở Phước Hải cũng tập hợp thành Hội tương tế bạn lưới, đoàn kết nhau chống sự áp bức, bóc lột của bọn chủ
Các đảng viên ở Long Mỹ, Long Điền đã giao cho đồng chí Nguyễn Văn Lê (An Ngãi) vận động thanh niên có ý thức tốt ở vùng Long Điền tham gia hoạt động phong trào, tổ chức Đội tự vệ mật làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ hoạt động cách mạng, khống chế và diệt bọn lính kín, tề điệp, các đội lính khố xanh (mã tà) lùng sục xóm làng bắt bớ cán bộ khủng bố đồng bào Được đồng chí Nguyễn Văn Lê giao nhiệm vụ, trong một thời gian ngắn, Phạm Văn Tỷ, một thanh niên hăng hái đã tập hợp được vài chục thanh niên ở các làng Long Điền, An Ngãi, Hắt Lăng, Phước Hưng (Tam Phước), Long Mỹ vào tổ chức tự vệ Đội thanh niên tự vệ hàng đêm tụ tập, luyện võ thuật (ông Chín Quì huấn luyện) và tổ chức trừng trị bọn lính kín thường lùng sục, dò la bắt bớ cán bộ và dân làng (nấu rượu, gánh muối lùi); tổ chức đánh cậu Hai Bùi Thế Thượng (con Hội đồng quản hạt Bùi Thế Khâm) hạ uy thế hội đồng và quan chức làng tổng; đánh 3 tên Hương quản làng An Ngãi Chợ Bến
Thanh niên vùng Long Điền sôi nổi tham gia phong trào học võ, dẹp bọn trộm cướp đâm chém giết người Một số tù thường phạm (án hình sự) vượt ngục về dựa vào Hương quản Bảy, trú ngụ tại cầu Cỏ May, ức hiếp, ăn chặn đồng bào nghèo ở xóm Cát, Long Điền, An Ngãi, An Nhứt, Hắt Lăng, Tam Phước, nhất là số phu làm muối Lực
Trang 2726
lượng thanh niên tự vệ bí mật bố trí anh em đi gánh muối, bảo vệ các cán bộ đi vận động đồng bào, bênh vực đồng bào làm muối chống lại bọn quan tây và đám lưu manh Do hoạt động sôi nổi của thanh niên tự vệ, uy tín của các cán bộ cách mạng ngày càng có ảnh hưởng rộng hơn trong quần chúng lao động
Nhiều tờ báo công khai của Đảng ra đời tại Sài Gòn trong thời kỳ này như: L`Avant-garde (Tiền Phong) phát hành bằng tiếng Pháp, Le Peuple (Nhân Dân); Phổ Thông, Lao Động Mới, Tạp chí Đông Dương đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào cách mạng ở Bà Rịa - Vũng Tàu Với tính chiến đấu cao, những tờ báo được Đảng chỉ đạo phát hành với nội dung lên án chế độ thuộc địa phong kiến, phản ảnh nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, phổ biến đường lối của Đảng, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, kêu gọi nhân dân đấu tranh đã được nhân dân chuyền tay nhau đọc Báo chí công khai của Đảng đã trở thành vũ khí đấu tranh và tuyên truyền cách mạng hữu hiệu trong thời kỳ cách mạng này
Từ năm 1937, báo chí công khai của Đảng về Bà Rịa ngày càng nhiều, đưa tin các cuộc đấu tranh của nhiều địa phương trong nước cổ vũ cho phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân Bà Rịa - Vũng Tàu Tháng 7 năm 1938, báo Dân Chúng, cơ quan ngôn luận công khai của Đảng bằng tiếng Việt ra đời tại Sài Gòn và được quần chúng lao động Bà Rịa - Vũng Tàu nhiệt tình đón nhận Báo Dân Chúng, số ra ngày 22 tháng
7 năm 1938 đã đưa tin về đời sống khổ cực của anh em binh lính người Việt tại Vũng Tàu Tờ báo đã gây nhiều phẫn nộ trong nhân dân và binh lính khắp nơi đối với chế độ thực dân
Mạng lưới phát hành báo Dân Chúng về Bà Rịa được mở rộng qua các anh Dương Văn Xá, Nguyễn Văn Phải ở Long Điền; Hồ Tri Tân ở Đất Đỏ Đồng chí Lê Văn Phỉ, đảng viên của Đảng bộ Biên Hòa chuyển vùng về Bà Rịa tập hợp được nhiều quần chúng tích cực như Trần Văn Đắc, anh Khoái ở Long Xuyên, Hoàng Thọ Chân, Mười Châu, Hai Ngã, Mười Bảo ở Long Kiên, mở tiệm chữa xe đạp Đồng Tâm làm cơ sở liên lạc và phát hành báo Dân Chúng Các đồng chí Dương Văn Xá, Nguyễn Văn Phải đã chỉ đạo
tổ chức tiệm may mang tên Đồng Tâm ngay tại thị trấn Long Điền, trong tiệm có nhiều sách báo công khai của Đảng phục vụ cho khách hàng, nhất là tờ Dân Chúng Ông Ba Cụt (Lê Minh Châu) đưa báo Dân Chúng, Lao Động về bán ngay tại nhà, phục vụ bà con lao động ở Phước Tỉnh Các chi hội tương tế đều đặt mua báo Dân Chúng, nhiều hội viên còn đặt mua riêng, thường kỳ
Qua tin tức báo chí công khai của Đảng, phong trào đấu tranh ở Bà Rịa được cổ
vũ mạnh mẽ Cuộc đấu tranh chống bọn tề tham nhũng tại Tam Phước tháng 9 năm 1938
do đồng chí Đỗ Văn Nhàn (Bảy Nhàn) lãnh đạo được đông đảo đồng bào ở Long Mỹ, Long Điền, Phước Hải tham gia, báo Dân Chúng cử phóng viên (đồng chí Trần Văn Lai)
về phối hợp đưa tin
3 Đấu tranh chống khủng bố, khôi phục lực lượng
Năm 1939, tình hình thế giới ngày càng xấu đi Phe trục phát xít ráo riết chuẩn
bị cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 Bọn phản động thuộc địa tăng cường khủng bố phong trào cách mạng Các quyền tự do dân chủ giành được trong cao trào Mặt trận dân chủ Đông Dương bị chúng tước đoạt
Thực dân Pháp tăng thuế, bắt dân đi làm xâu, bắt thanh niên vào lính (lính tập) đưa sang Pháp làm bia đỡ đạn Dưới sự lãnh đạo của những đảng viên cộng sản, phong trào chống bắt lính ở vùng Long Điền, Đất Đỏ phát triển mạnh Nhiều người trốn vào
Trang 2827
rừng, không đi khám, người uống mực tàu cho đen hết vòm họng, người chặt ngón tay trỏ, người chặt ngón chân cái để khỏi đi lính chết thay cho “nước mẹ” thực dân Trong khi đó, Ban cán sự Đảng bố trí cho hai đồng chí Hà Du và Trương Văn Tân vào lính để xây dựng cơ sở nội tuyến trong binh lính
Giữa năm 1939, Trưởng Ban cán sự Đảng tỉnh Bà Rịa Trương Văn Bang triệu tập hội nghị tại nhà Võ Văn Thiết (Long Mỹ), có hơn mười đảng viên từ các cơ sở đảng trong tỉnh về dự Đó là cuộc họp toàn thể đầu tiên và sau đó mỗi người một ngả Thực dân Pháp bắt đầu một thời kỳ khủng bố trắng
Ngày 1 tháng 9 năm 1939 phát xít Đức tiến công Ba Lan, mở đầu cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 Tại Đông Dương, thực dân Pháp thi hành chính sách kinh tế thời chiến nhằm vơ vét sức người, sức của phục vụ cho chiến tranh đế quốc Chúng thẳng tay bóc lột, tăng thuế, sung công tài sản của nhân dân phục vụ cho quốc phòng Bên cạnh đó chúng bắt hàng loạt cán bộ, đảng viên cộng sản, những người tham gia phong trào Mặt trận dân chủ, cấm nhân dân hội họp, cấm lưu hành sách báo tiến bộ và giải tán các hội ái hữu, nghiệp đoàn Về quân sự, chúng ra lệnh tổng động viên bắt lính, bắt phu xây dựng các công trình quân sự phòng thủ
Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VI từ ngày 6 đến ngày 11-1939 do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì, đã đánh giá tình hình một cách toàn diện và đề ra những quyết nghị kịp thời Hội nghị chỉ rõ: “Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả các ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng, để tranh lấy độc lập”22 Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11-1939) đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong sự chỉ đạo chiến lược của Đảng ta, mở đầu cho một thời kỳ mới, không chỉ là đấu tranh dân sinh dân chủ mà bước vào thời kỳ trực tiếp chuẩn bị lực lượng, tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi có thời cơ
8-Ngày 22 tháng 6 năm 1940, nước Pháp bại trận Nhân cơ hội này, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương Đêm 22 tháng 9 năm 1940, Nhật tiến đánh Lạng Sơn, mở đầu cuộc xung đột Pháp - Nhật Chỉ qua vài trận, bọn thực dân Pháp ở Đông Dương đã bạc nhược đầu hàng và câu kết với phát xít Nhật để duy trì quyền lợi Nhân dân ta phải chịu
2 tầng áp bức: thực dân Pháp và phát xít Nhật Đời sống của các tầng lớp nhân dân lún sâu vào cảnh bần cùng Thực dân Pháp tăng cường vơ vét lương thực, thực phẩm, bắt lính ra mặt trận làm bia đỡ đạn cho chúng Mâu thuẫn giữa nhân dân ta với bọn thực dân
- phát xít thêm gay gắt
Xứ ủy Nam Kỳ chủ trương chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang Công tác binh vận được đẩy mạnh Xứ ủy xác định Bà Rịa và Vũng Tàu là vùng trọng điểm của công tác binh vận và thành lập Tiểu ban Các đồng chí Phạm Hồng Thám, Xứ ủy viên Trưởng tiểu ban binh vận vùng 2 (Biên Hòa - Bà Rịa - Vũng Tàu), Bùi Thị Trường, Nguyễn Tấn Khương,
Hà Thị Lan trong Ban binh vận Xứ ủy về Vũng Tàu hoạt động, đẩy mạnh tuyên truyền giác ngộ cách mạng, xây dựng cơ sở trong anh em binh lính
Hội nghị toàn xứ được triệu tập tại xã Tân Hương (Mỹ Tho) vào hạ tuần tháng 7 năm 1940, nhận định phong trào đấu tranh của quần chúng đang lên cao, công tác binh vận phát triển và thu nhiều kết quả Hội nghị quyết định phát động cuộc khởi nghĩa Nam
Kỳ và chỉ thị cho các Đảng bộ địa phương chuẩn bị tiến hành khởi nghĩa khi có lệnh Hội nghị Xứ ủy tháng 9 năm 1940 đã kiểm điểm việc chuẩn bị khởi nghĩa và quyết định
22. Văn Kiện Đảng 1930-1945, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương xuất bản, Hà Nội, 1977, Tập 3, tr 55-56
Trang 2928
cử đồng chí Phan Đăng Lưu ra Bắc dự Hội nghị lần thứ VII của Trung ương, xin ý kiến
về cuộc khởi nghĩa
Nhận chủ trương của Xứ ủy, Liên Tỉnh ủy miền Đông Nam Bộ đã phổ biến cho các tỉnh chủ trương chuẩn bị khởi nghĩa thành lập Ban quân sự, Ban khởi nghĩa các cấp, củng cố các đoàn thể quần chúng cách mạng và tăng cường công tác binh vận Khi ấy, Ban cán sự Đảng tỉnh Bà Rịa không còn hoạt động, song một số đảng viên sống bất hợp pháp trong công nhân cao su ở vùng lộ 2 nắm được tin tức cũng tích cực chuẩn bị khởi nghĩa Ở các đồn điền Bình Ba, Xà Bang, Hàng Gòn, Ông Quế, Láng Lớn, công nhân bí mật tổ chức các đội tự vệ, trang bị các loại vũ khí thô sơ như gậy tầm vông, giáo, mác, luyện tập quân sự, háo hức chờ lệnh
Song cũng như tình hình ở các tỉnh Nam Bộ, phong trào cách mạng ở Bà Rịa và Vũng Tàu đang đứng trước những khó khăn thử thách ngày càng gay gắt Trương Văn Bang phải chuyển vùng; Hồ Tri Tân bị bắt đày ra Côn Đảo Dương Bạch Mai bị kết án
5 năm tù, 10 năm biệt xứ; Hồ Hạ bị kết án 3 năm tù giam, 5 năm biệt xứ23 Hồ Thị Trinh,
Hồ Thị Tường, Chín Thừa bị đày đi Bà Rá, Tà Lài; Lê Minh Châu (Ba Cụt) bị đày đi Châu Đốc; Nguyễn Thị Sanh phải tạm lắng một thời gian, bí mật củng cố các cơ sở trong công nhân cao su; Võ Văn Thiết dựng lán trong rừng Long Mỹ sống bất hợp pháp
Tại Vũng Tàu, các đồng chí trong tiểu ban binh vận Xứ ủy tích cực hoạt động, tuyên truyền giác ngộ cách mạng, móc nối xây dựng cơ sở trong anh em binh lính Truyền đơn cách mạng với nội dung kêu gọi binh lính chống điều quân ra biên giới, không đi đàn áp cách mạng xuất hiện tại các trại lính Các anh Lê Đình Y, Bùi Cửu, Nguyễn Ngoạn là cơ sở cách mạng nòng cốt trong anh em binh lính người Việt đóng tại đây, tích cực chuẩn bị hưởng ứng khởi nghĩa
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 được tổ chức tại Đình Bảng (Bắc Ninh) ngày 6 tháng 11 năm 1940, nhận định tình hình thế giới đang có lợi cho cách mạng, khẳng định nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc và xác định kẻ thù chính của cách mạng Việt Nam là thực dân Pháp và phát xít Nhật Hội nghị thảo luận và quyết định 2 vấn đề chính cấp thiết trước mắt là duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn và hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ
Sáng 22 tháng 11 năm 1940, khi đồng chí Phan Đăng Lưu dự Hội nghị Trung ương về đến Sài Gòn thì ngày giờ phát động khởi nghĩa đã được quyết định và lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy đã xuống các địa phương trước đó 2 ngày, không còn cách nào hoãn lại được Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 11 năm 1940 khởi nghĩa Nam Kỳ đã nổ ra, được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, nhưng do điều kiện cách mạng chưa chín muồi, ngày giờ khởi nghĩa bị lộ, nên thất bại Tuy thất bại nhưng cuộc khởi nghĩa đã nêu cao tinh thần cách mạng quật cường của nhân dân Nam Bộ, tác động mạnh mẽ đến tinh thần yêu nước, quyết giành độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam
Cuộc khởi nghĩa không nổ ra tại Bà Rịa - Vũng Tàu, vì phương án khởi nghĩa dựa vào cơ sở binh vận và binh lính giác ngộ không thành Trung tuần tháng 11 năm
1940, nhiều binh lính người Việt tại Vũng Tàu đã bị điều động lên Sài Gòn Đêm 22 tháng 11 năm 1940, thực dân Pháp ra lệnh cấm trại, đổi phiên gác, tước vũ khí toàn bộ binh lính bản xứ và tăng cường quân lính canh gác khắp các nơi Nhiều cơ sở binh vận
bị bắt
23 Phiên toà ngày 21 tháng 5 năm 1940 Hồ sơ lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Nhà nước II, Phông Toà đại biểu chính phủ Nam Việt, Ký hiệu D5-95
Trang 3029
Mặc dù cuộc khởi nghĩa đã không nổ ra tại Bà Rịa-Vũng Tàu, nhưng trong cuộc khủng bố trắng, nhiều cán bộ đảng viên ở Bà Rịa đã bị thực dân Pháp bắt đày đi căng Tài Lài, Bà Rá, Côn Đảo Hai đảng viên Trương Văn Tân và Hà Du trước đó được Ban cán sự Đảng tỉnh Bà Rịa bố trí vào lực lượng lính khố xanh để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ cũng bị địch phát hiện và bị bắt đày đi an trí Số cán bộ còn lại phải lánh
đi nơi khác hoặc nằm im hoạt động Phong trào cách mạng ở Bà Rịa-Vũng Tàu lắng xuống
Từ sau khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, các cơ sở và phong trào cách mạng
ở những cơ sở vùng đồn điền cao su dọc lộ 2 vẫn được duy trì và bảo vệ tốt, các cuộc đấu tranh của công nhân cao su liên tiếp nổ ra; ngoài ra công nhân cao su và quần chúng nhân dân kể cả đồng bào dân tộc còn nhiệt tình nuôi và bảo vệ những cán bộ, đảng viên
từ nhiều nơi lánh về đây24 Các sở cao su Bình Ba, Xà Bang, Láng Lớn đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho phong trào cách mạng của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong giai đoạn khó khăn và thử thách, đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân
Dưới sự lãnh đạo của các đảng viên cộng sản, phong trào đấu tranh của công nhân cao su ở các đồn điền trong tỉnh vẫn tiếp tục phát triển Ngày 29 tháng 12 năm
1940, hơn 1.000 công nhân cao su Bình Ba, Xà Bang, Sông Cầu cùng nhân dân địa phương đồng loạt nổi dậy tổ chức đình công đòi ngày làm 8 giờ, nghỉ chủ nhật, không được đánh đập cúp phạt, phu mãn hạn công-tra phải được trả về xứ, không phát gạo mục, cá thối Bọn chủ Pháp trong tình thế đang hoang mang, đã hoảng sợ và chúng cho lính đàn áp dã man Cuộc đình công của công nhân cao su bước sang ngày thứ hai quyết liệt hơn Trước khí thế đấu tranh quyết liệt của công nhân các phân sở, tên chủ đồn điền Bình Ba đã phải nhượng bộ, giải quyết các yêu sách về cấp đủ lương thực và hứa không đánh đập công nhân Cuộc đấu tranh kết thúc thắng lợi
Giữa năm 1941 ở sở Cuộctơnay, nhân vụ tên xu Lu đánh chết anh công nhân cạo
mủ số 70 ở Láng Lớn, các đồng chí cán bộ cách mạng bí mật sáng tác bài vè tố cáo tội
ác của bọn xu xếp ác ôn, kêu gọi công nhân đoàn kết đấu tranh Bài vè nhanh chóng lan truyền khắp các phân sở Nha Trào, Suối Cả, Láng Lớn, Xà Bang Tên chủ sở Bu Du ra lệnh cấm không cho hát bài này Nếu ai hát sẽ bị tù Tàn nhẫn hơn, chúng còn cho tay chân san bằng nấm mộ người công nhân mang số 70 và cấm công nhân không được hương khói
Sự bất bình của công nhân đã dâng lên tột độ, vào một buổi tối rằm tháng bảy 9-1941), người công nhân mang số 3388 đã vận động công nhân ở phân sở Láng Lớn ra viếng mộ người công nhân mang số 70 để tuyên truyền, vạch trần tội ác của bọn chủ tư bản thực dân và kêu gọi công nhân đứng lên đấu tranh Sáng 10 tháng 9 năm 1941, hơn
(9-500 công nhân ở sở Cuộctơnay đình công kéo xuống tỉnh Bà Rịa yêu cầu tên tỉnh trưởng người Pháp phải can thiệp, buộc chủ sở chấm dứt đánh đập, hành hạ công nhân trong khi chúng bắt trồng lại mấy lô cao su ở Nha Trào, Láng Lớn
Khi đoàn người đến Xà Bang thì bọn lính ở Bà Rịa lên chặn lại theo yêu cầu của tên chủ sở Bu Du Năm công nhân đi đầu bị lính đánh kiệt sức ngã gục Đoàn biểu tình vẫn tiến lên, tiếp tục khiêng 5 người bị thương đến dinh tỉnh trưởng Bà Rịa đấu tranh Bọn lính dùng gậy gộc, báng súng đánh công nhân thật tàn nhẫn, họ vẫn không lùi bước
Từng nhóm nhỏ công nhân lao tới đám lính, hai tay đưa thẳng lên trời và thét lớn: “Đây
các bạn cứ giết chúng tôi đi Các bạn hãy giết những người chỉ đòi hỏi sự công bằng và
24 Sau cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ, đồng chí Trần Văn Trà về hoạt động ở sở cao su Cuộctơnay
Trang 3130
yêu cầu chấm dứt đánh đập tàn nhẫn”, “Đây các bạn lính người Việt Nam, các bạn cứ bắn chúng tôi đi, bắn những người lao động khổ sở nhất đời, những kẻ ruột thịt của các bạn ”
Các nhóm biểu tình có tổ chức, tập hợp thành đoàn ngày càng đông Đám lính dịu dần, nhiều tên đã dạt qua một bên đường cho công nhân tiến tới Dọc đường đến thị
xã Bà Rịa, họ được công nhân các sở cao su Xà Bang, Bình Ba, nông dân vùng Long Kiên, Long Xuyên mang cơm nước ủng hộ Cuộc đấu tranh giành được thắng lợi Tỉnh trưởng Bà Rịa hứa can thiệp với chủ sở bồi thường thiệt hại cho công nhân, chấm dứt tình trạng đánh đập cúp phạt, cấp đủ lương thực, thực phẩm, thuốc men cho số công nhân đang trồng các lô cao su mới
Mùa xuân năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước đã trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam Người triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Pắc Bó (Cao Bằng), đặt trên hết, nhiệm vụ cấp bách trước mắt của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập,
tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”25
Hội nghị quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh gọi tắt là Việt Minh, thay cho Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương và đặc biệt chú trọng vấn đề xây dựng Đảng, gấp rút đào tạo cán bộ, chuẩn bị đón thời cơ vũ trang khởi nghĩa Hội nghị lần thứ 8 họp trong lúc Đảng bộ Nam Kỳ đang đứng trước những thử thách cực kỳ gắt gao, lực lượng bị tổn thất và phân tán, mất liên lạc với Trung ương
Trong thời gian này, quân Nhật đã triển khai lực lượng tại Bà Rịa và Vũng Tàu Tháng 8 năm 1941, phát xít Nhật đã đổ bộ lên Phước Tỉnh (nay thuộc huyện Long Đất)
và Cầu Đá (Bãi Trước - Vũng Tàu) và mở rộng các điểm đóng quân, chốt giữ các vị trí quan trọng ở Bà Rịa và Vũng Tàu Sở chỉ huy quân Nhật ở Vũng Tàu đặt tại nhà Đoan (Sở tài chính tỉnh hiện nay) Các kho súng đạn của quân Pháp trên Núi Lớn, Núi Nhỏ đều bị quân Nhật chiếm giữ Chúng gấp rút củng cố hệ thống phòng thủ, biến Vũng Tàu thành căn cứ quân sự phục vụ công cuộc xâm lược Quân Pháp bị buộc phải thu quân về hai trại: thành RIC và thành RAC26
Tại Bà Rịa, Bộ chỉ huy quân đội Nhật đóng quân tại Sở Thương chánh27 Quân Nhật chiếm đóng các thị trấn quan trọng Long Hải, Long Điền Phát xít Nhật và bọn tay sai thân Nhật mới nổi lên ra sức tuyên truyền thuyết “Đại Đông Á”, “đồng văn đồng chủng”, tuyên bố “Châu Á là khu vực thịnh vượng chung” và thành lập các tổ chức thân Nhật Những thủ đoạn mị dân đó không thể che giấu được bộ mặt xâm lược của phát xít Nhật
Tình cảnh “một cổ hai tròng” của các tầng lớp nhân dân Bà Rịa - Vũng Tàu ngày càng bi đát: hàng hóa thiết yếu khan hiếm; đồng bạc mất giá, sản xuất ách tắc, ngưng trệ; tiểu thương tiểu chủ buôn bán ế ẩm, nhiều nhà buôn phải đóng cửa vì người mua ít, trộm cướp gia tăng; đời sống khó khăn, nhiều đợt phu Bắc bị Nhật đưa vào không có việc làm cùng nhiều công nhân tại các đồn điền cao su thất nghiệp, các công xưởng nhỏ
bị phá sản đổ dồn về Vũng Tàu Trong khi đó máy bay đồng minh thường xuyên oanh
25. Văn kiện Đảng 1930-1945, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, xuất bản, Hà Nội,1977, T3, tr 196
26 Thành RIC (Régiment Infanterie Colonial: Trung đoàn bộ binh thuộc địa): nay là trụ sở Ủy ban nhân dân tỉnh; thành RAC (Régimant Artilleri Colonial: Xưởng sửa chữa pháo binh) nay là trụ sở liên doanh dầu khí Việt – Xô
27 Nay là Thị đội Bà Rịa
Trang 3231
kích vào những nơi đóng quân và chiến hạm của quân Nhật đậu ngoài khơi làm cho tình hình càng thêm rối ren Không khí chiến tranh bao trùm Bà Rịa - Vũng Tàu Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động và phát xít Nhật, Pháp càng thêm sâu sắc
Phát xít Nhật củng cố sân bay Vũng Tàu, xây dựng sân bay Phú Mỹ, đào công sự
và tuyến phòng thủ bờ biển Long Hải, ráo riết chuẩn bị cho cuộc chiến tranh Thái Bình Dương Trong khi đó tình hình thế giới ngày càng chuyển biến sâu sắc Phát xít Đức bội ước tiến công Liên Xô (tháng 6-1941), Hồng quân Liên Xô đã phá tan kế hoạch "chiến tranh chớp nhoáng" của Hítle và giành thế chủ động trên chiến trường Ở Châu Á và Thái Bình Dương, phát xít Nhật tăng quân đánh chiếm các thuộc địa của Anh, Mỹ, Pháp
ở Thái Bình Dương Đêm mồng 7, rạng ngày 8 tháng 12 năm 1941, Nhật bất ngờ tiến công cảng Trân Châu trên quần đảo Haoai của Mỹ Cùng ngày, quân Nhật đổ bộ vào Malaixia và tuyên chiến với Anh, Mỹ Trong vòng sáu tháng, Nhật đã chiếm được Malaixia, Hương Cảng, Miến Điện, Indonêxia, Xingapo và thâm nhập tỉnh Vân Nam (Trung Quốc)
Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương khiến cho tình hình Đông Dương hết sức khó khăn Phát xít Nhật ra sức vơ vét nhân tài vật lực ở Đông Dương cung cấp cho cuộc chiến Gạo, vải, dầu, diêm quẹt và những hàng tiêu dùng thiết yếu vô cùng khan hiếm Bọn Nhật ra sức bắt thanh niên vào lính (lính hây hô), bắt nhân dân làm xâu, xây dựng các công trình phòng thủ ven biển Đồng chí Võ Văn Thiết, một đảng viên trung kiên còn trụ lại Long Mỹ đã lãnh đạo thắng lợi nhiều cuộc đấu tranh chống bắt lính ở vùng Long Điền, Đất Đỏ, tiêu biểu là cuộc đấu tranh của 50 thanh niên làng Long Mỹ chống
đi lính cho Nhật, năm 1943
Chiến tranh thế giới và chiến tranh Thái Bình Dương đã thúc đẩy các mâu thuẫn giữa phe phát xít và phe dân chủ, giữa Nhật và Pháp, giữa nhân dân ta và phát xít Nhật
và thực dân Pháp thêm sâu sắc, thúc đẩy tình thế cách mạng mau chín muồi Thời cơ giành thắng lợi cho cách mạng nước ta đang tới gần Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng từ ngày 25 đến ngày 28 tháng 2 năm 1943 tại Võng La (Đông Anh - Hà Nội)
đã chủ trương mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất và xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang
Phong trào cách mạng tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ giữa năm 1943 đã từng bước được khôi phục Một số đồng chí đảng viên tạm lánh hoặc bị bắt đi an trí một thời gian
đã trở về Phước Hải, Long Mỹ, Long Điền, Đất Đỏ và khu vực lộ 2 tiếp tục hoạt động Các đồng chí Dương Bạch Mai, Phạm Ngọc Thạch nhiều lần đi về Bà Rịa - Vũng Tàu vận động xây dựng lại các tổ chức cách mạng
Hội truyền bá quốc ngữ được thành lập ở Bà Rịa và Vũng Tàu Các Hội viên Hướng đạo sinh tham gia tích cực và mở được nhiều lớp xóa mù chữ ở Vũng Tàu, và các xã Long Hương, Phước Lễ (thị xã Bà Rịa), tuyên truyền văn nghệ, vận động đồng bào ủng hộ tiền mua sách cho những người nghèo học chữ quốc ngữ Thanh niên trí thức hăng hái tham gia truyền bá quốc ngữ và tuyên truyền văn nghệ, phổ biến các bài hát,
vở kịch có nội dung yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc Nhiều khẩu hiệu như “Học
truyền bá quốc ngữ là bảo vệ quốc hồn, bảo tồn quốc túy”, “Đoàn kết trí thức với công nông” cổ vũ cho phong trào truyền bá quốc ngữ
Nhiều đoàn thể quần chúng được thành lập như Hội Lương Hữu, Hội bóng đá, Hội bóng bàn, nhóm biểu diễn văn nghệ được thành lập, tập hợp nhiều trí thức, thanh niên, học sinh, nông dân hướng vào các hoạt động xã hội, tương trợ giúp đỡ đồng bào
Vở ca “Hội nghị Diên Hồng” ra trình diễn tại rạp hát Long Hương, đông đảo các tầng
Trang 3332
lớp nhân dân nhân dân đã tới tham dự Phong trào tập luyện võ thuật của thanh niên phát triển sôi nổi ở nhiều địa phương Thanh niên hăng hái vận động bài trừ cờ bạc, văn hóa đồi trụy, mê tín dị đoan và vận động tiêm thuốc phòng bệnh, tiêm phát thuốc cho nhân dân khắp thành thị nông thôn, đồng thời vận động mua gạo đem về bán cứu đói cho đồng bào trong lúc chiến tranh Thái Bình Dương đang diễn ra ác liệt
Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Dương Bạch Mai, một nhóm Thanh niên cứu quốc Vũng Tàu đã được thành lập đầu năm 1944, gồm 5 đoàn viên: Trần Văn Quan (giáo viên trường công lập), Nguyễn Văn Thừa (công chức ngành Bưu điện), Nghiêm Xuân Bích, Nguyễn Văn Ảnh, Trần Văn Tịnh Nhóm Thanh niên Cứu quốc dựa vào tổ chức hướng đạo sinh (Scout) để tuyên truyền tinh thần yêu nước, căm thù thực dân và bè lũ tay sai bán nước Địa bàn và hình thức hoạt động của nhóm còn hạn chế, nhưng nhóm đã góp phần thúc đẩy phong trào yêu nước, nhiệt tình cách mạng trong tầng lớp thanh niên, học sinh và một số công chức thời kỳ tiền khởi nghĩa ở Vũng Tàu
4 Giành chính quyền ở Bà Rịa - Vũng Tàu tháng 8-1945
Đầu năm 1945, Hồng quân Liên Xô liên tiếp giành thắng lợi trên các chiến trường Ở mặt trận Thái Bình Dương, quân đội Nhật liên tiếp bị thất bại, tinh thần hoang mang Trong khi đó, quân Pháp âm mưu chờ đồng minh vào để ngoi đầu dậy khôi phục quyền thống trị tại Đông Dương Đêm 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật nổ súng làm đảo chính, hất cẳng thực dân Pháp trên toàn cõi Đông Dương, độc chiếm Việt Nam và Đông Dương
Tại các đồn điền cao su, bọn chủ Tây đều bị quân Nhật bắt giam hết, chúng giao đồn điền cho một số cai ký thân Nhật quản lí Lính Nhật giam bọn chủ sở cao su và lính Pháp ở nhà gần Nhà lầu 64 (nhà tên chủ sở đồn điền Bình Ba) Một số chủ sở quốc tịch Pháp trốn lên núi Mây Tàu Toàn bộ máy móc, xe cộ, kho tàng, tài sản của các sở đồn điền cao su do quân Nhật chiếm giữ hết Các sở đóng cửa, công nhân thất nghiệp, một
số đi nơi khác tìm việc làm, số đông còn ở lại đồn điền hoặc vào bưng, rẫy trồng trọt, chăn nuôi kiếm sống cho bản thân và gia đình
Công nhân trong các đồn điền Bình Ba, Xà Bang, Láng Lớn cũng không tránh khỏi cảnh đi xâu cho Nhật, như dân chúng các làng, các tổng Đời sống nhân dân vùng
lộ 2 nói riêng, cũng như nhân dân Bà Rịa - Vũng Tàu nói chung hết sức cơ cực, lầm than, gia đình ly tán Tuy không còn những cảnh hà hiếp, đánh đập của bọn tư bản thực dân và cai xu như trước đây nhưng nhân dân đã thấy được bản chất và ý đồ xâm lược của thực dân tư bản Pháp và phát xít Nhật Cảnh bắt lính, bắt xâu, hà hiếp dân chúng, giết người mổ bụng của bọn lính Nhật, khiến nhân dân Bà Rịa - Vũng Tàu sớm nhận ra
bộ mặt thật của phát xít Nhật, cũng một lòng lang sói như thực dân Pháp trước kia
Lực lượng lính khố xanh (garele civile, còn gọi là lính thủ hộ hay mã tà) của Pháp (khoảng 120 tên) đóng rải rác tại các thị trấn bị phát xít Nhật quản thúc và cải tổ thành lực lượng bảo an binh, làm ngụy quân cho chính quyền tay sai thân Nhật Phát xít Nhật bắt công nhân đi làm xâu, đào hầm, đi xây dựng công sự trên tuyến lộ 2 (Xuân lộc - Bà Rịa), làm sân bay Phú Mỹ, đắp tuyến phòng thủ ven biển Long Hải, một số khác bị bắt
đi vận tải lương thực, vận tải vũ khí phục vụ quân đội Nhật Cuộc sống của nhân dân Bà Rịa - Vũng Tàu càng thêm khó khăn Một số người trước đây còn mơ hồ tin theo luận điệu tuyên truyền nay càng hiểu rõ thêm dã tâm xâm lược đất nước ta của phát xít Nhật
Giữa lúc Nhật nổ súng tiến công Pháp, Hội nghị mở rộng của Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại Đình Bảng (Bắc Ninh) ngay trong đêm 9 tháng 3 năm 1945
Trang 34Sau cuộc đảo chính (9-3-1945), chính quyền thân Nhật tại Bà Rịa được thành lập
do Lê Thành Long làm tỉnh trưởng Lê Thành Long mang quốc tịch Pháp, từng làm cho Pháp đến chức Đốc Phủ sứ, đã nghỉ hưu tại Bà Rịa Tri huyện Tạ Nhất Tứ được Nhật đưa lên làm Tỉnh trưởng Cấp (Vũng Tàu) Quan một Dương Văn Minh được cử phụ trách cảnh sát và Nguyễn Văn Hùng phó cảnh sát ở Vũng Tàu Ít lâu sau, Đốc phủ sứ Lâm Văn Huê lên làm Tỉnh trưởng thay tri huyện Tạ Nhất Tứ29
Theo lệnh của các sỹ quan Nhật, Lê Thành Long đốc thúc các chánh tổng huy động tối đa nhân dân địa phương xung công các xe bò, bắt lý trưởng các làng xã phải đích thân điều động dân phu cho các công trình làm sân bay Phú Mỹ, đào hầm hào, xây dựng tuyến phòng thủ vững chắc ở bờ biển Phước Hải, xây dựng các trạm quan sát ven các sườn núi nhằm đối phó với các cuộc tiến công của thực dân Pháp và Đồng Minh
Tỉnh trưởng Lê Thành Long bắt tất cả số người Pháp đưa về Sài Gòn giam tại các trại tập trung của Nhật Thất bại của người Pháp kéo theo sự phá sản của hàng loạt đồn điền, công xưởng, nhà thầu, nhà nghỉ, làm hàng vạn người thất nghiệp Sưu cao, thuế nặng, thất nghiệp, hàng tiêu dùng khan hiếm, đời sống nhân dân điêu đứng chưa từng thấy; song sự thất bại thảm hại của thực dân Pháp sau 80 năm đô hộ làm cho quần chúng
vô cùng phấn khởi Tinh thần dân tộc trỗi dậy mạnh mẽ, không chỉ trong các tầng lớp công nông mà ngay cả trong giới trí thức, công chức, tiểu chủ và binh lính Những yếu
tố đó đã trở thành tiền đề trực tiếp cho cuộc vận động cách mạng, giành chính quyền tháng 8 năm 1945
Phong trào truyền bá quốc ngữ được khởi xướng ở Bà Rịa và Vũng Tàu từ giữa năm 1944, phát triển mạnh sau ngày Nhật đảo chính Pháp Ở Long Điền, Dương Văn
Xá tổ chức một số thanh niên, học sinh tham gia truyền bá quốc ngữ, tuyên truyền văn nghệ, giáo dục truyền thống từ tháng 7 năm 1944 Đầu năm 1945, nhiều nhóm truyền
bá quốc ngữ được thành lập ở tỉnh lỵ và nhiều thị xã thị trấn trong toàn tỉnh Nhóm ở Phước Lễ có ông Hồ Đắc Thăng, Nguyễn Văn Tình; nhóm ở Long Hương có Võ Văn
Ấn, Võ Văn Ngỡi; nhóm ở Long Phước có các anh Dương Văn Giỏi, Dương Văn Mạnh,
Võ Ngọc Hải Nhóm Đất Đỏ do anh Trương Văn Khâm đứng đầu, tập hợp được nhiều nhà giáo, thanh niên trí thức, đẩy mạnh truyền bá quốc ngữ và tuyên truyền văn nghệ, phổ biến các bài hát, vở kịch có nội dung yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc
Nhóm Thanh niên Cứu quốc ở Vũng Tàu do đồng chí Dương Bạch Mai tổ chức cũng tích cực tham gia phong trào truyền bá quốc ngữ Nhóm truyền bá quốc ngữ Vũng Tàu mà hạt nhân là các anh Trần Văn Quan, Ngô Đồng Thịnh, Nghiêm Xuân Điền đã
tổ chức được gần hai mươi lớp, xóa mù chữ cho trên một ngàn người lao động ở Vũng Tàu Học quốc ngữ, nói tiếng Việt, tuyên truyền cội nguồn văn hoá Việt Nam lúc này không chỉ là vấn đề văn hoá mà đã trở thành một bộ phận của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, trên địa bàn Bà Rịa-Vũng Tàu
28. Văn kiện Đảng 1930-1945, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương xuất bản, Hà Nội, 1977, T3, tr 386
29 Tạ Nhất Tứ chuyển đi làm tri huyện Gò Vấp Ông giác ngộ cách mạng, tham gia kháng chiến, trở thành đảng viên cộng sản và có nhiều thành tích trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Trang 3534
Phong trào Thanh niên Tiền Phong khởi xướng từ Sài Gòn (5-1945), phát triển mạnh và lan rộng về các tỉnh Thanh niên Tiền Phong Bà Rịa ngay từ đầu đã do các đảng viên cộng sản tổ chức và lãnh đạo Ban thủ lĩnh gồm Dương Văn Xá (đảng viên, nhà báo)30, Nguyễn Văn Phải (đảng viên, ở Pháp về) và nhà giáo yêu nước Lưu Văn Vầy
Bên cạnh Ban thủ lĩnh Thanh niên Tiền Phong tỉnh, còn có một đội ngũ thanh niên hăng hái hình thành “một bộ tham mưu” như Lê Thành Duy, Đoàn Thuật, Trần Thượng Thu, Lưu Văn Quy, Huỳnh Công Vinh, Võ Văn Nghĩa, Lê Văn Quang Đoàn Thuật và Lưu Văn Vầy vận động vùng Cơ Trạch - Ngãi Giao (từ Long Kiên, Long Xuyên đến sở Courtenay) Nguyễn Văn Phải vận động thanh niên Long Điền và tổng
An Phú Thượng Lê Thành Duy là Tráng trưởng Thanh niên Tiền Phong tỉnh Bà Rịa Trần Thượng Thu phụ trách Thiếu nhi tiền phong Dương Văn Xá là thủ lĩnh, thường giao thiệp với Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Văn Tiểng ở Sài Gòn
Nhân cơ hội phát xít Nhật hất cẳng Pháp, nhiều cán bộ bị đày ở các căng an trí
đã vượt ngục trở về, cùng các đảng viên còn bám trụ xây dựng lại phong trào Chi bộ
Bà Rịa được thành lập lại tại Long Mỹ (5-1945), khôi phục tổ chức và phát triển phong trào, Võ Văn Thiết là bí thư, tập hợp các đảng viên cũ như Trương Văn Tân (Năm Trắng), Hà Du, Hồ Thị Trinh, Hồ Thị Tường, Lê Công Cẩn, Nguyễn Văn Phải, Nguyễn Văn Lê Chi bộ giao cho Phạm Văn Tỷ xây dựng một đội thanh niên tự vệ (hơn 20 đội viên) làm nhiệm vụ bảo vệ Mặt trận Việt Minh và cán bộ lãnh đạo
Các đảng viên cũ ở Bà Rịa lâu nay tạm lánh sự khủng bố, hoặc mới vượt ngục Tài Lài, Bà Rá về đều hoạt động trở lại, là nòng cốt hoặc thủ lĩnh Thanh niên Tiền phong
ở các tổng, xã Chi bộ chỉ đạo Thanh niên Tiền phong thông qua Nguyễn Văn Phải (trong Ban thủ lĩnh) và qua các đảng viên đã nắm Thanh niên Tiền phong ở các cơ sở
Phong trào Thanh niên Tiền Phong được bổ sung thêm một số cốt cán mới: Phan Kim Chung và Tăng Văn Lành vận động quần chúng ở tổng Phước Hưng Thượng; Trương Văn Khâm31 tập hợp được nhiều trí thức ở Đất Đỏ; Lê Thị Tuyết vận động chị
em phụ nữ ở Bà Rịa; tháng 7 năm 1945 tập hợp thêm Dương Ngọc Văn (Nguyễn Văn Đường), vận động trong Liên đoàn công chức Tháng 8 năm 1945, nhóm cộng sản Đất
Đỏ gồm Võ Văn Thiết, Hồ Thị Trinh, tham gia phong trào, đẩy mạnh việc vận động quần chúng ở Đất Đỏ
Ở nhiều làng, cả Ban Hội tề đều tham gia Thanh niên Tiền phong Khẩu hiệu:
“Gia nhập Thanh niên Tiền phong là yêu nước” có sức cổ vũ, thôi thúc các tầng lớp
nhân dân sôi nổi tham gia Thanh niên Tiền phong ở Phước Lễ (Bà Rịa) và Thanh niên Tiền phong ở Vũng Tàu đã vận động nhiều đội viên ngành y làm trong bệnh viện tham gia công tác xã hội, phát thuốc chữa bệnh và hướng dẫn vệ sinh, phòng bệnh cho đồng bào
Phạm Văn Tỷ được giao nhiệm vụ tập hợp số thanh niên hoạt động trong phong trào Mặt trận bình dân trước đây, tổ chức thành Đội tự vệ vũ trang với nhiệm vụ gấp rút huấn luyện và tự trang bị vũ khí, bảo vệ cán bộ đảng viên làm công tác vận động quần chúng, đánh bọn Nhật đang hung hăng khủng bố đồng bào và trừng trị bọn Việt gian ngóc đầu dậy đánh phá cách mạng Nguyễn Văn Khang (tự Lọp) 13 tuổi, quê ở Vũng
30 Dương Văn Xá quê ở Long Điền, viết báo ở Sài Gòn từ 1933, được nhìn nhận là đảng viên cộng sản thuộc nhóm
Le Peuple từ năm 1939 Tháng 9-1939, Dương Văn Xá về Long Điền buôn bán tránh địch khủng bố Khoảng tháng 5-1945, Nguyễn Văn Trấn đến Long Điền, giao cho Dương Văn Xá tổ chức Thanh niên Tiền Phong ở Bà Rịa Thời chống Mỹ, Dương Văn Xá bị bắt và đầu hàng địch
31 Trương Văn Khâm đã tập hợp được nhiều nhà giáo, thanh niên, trí thức trong phong trào truyền bá quốc ngữ
Trang 36ở Núi Lớn, Núi Nhỏ, Long Hải, xây dựng Sân bay Phú Mỹ, sửa chữa và nâng cấp Sân bay Vũng Tàu được tăng cường nhân công Theo lệnh của quan Nhật, Lê Thành Long bắt các chánh tổng phải lập tại mỗi làng một đội thanh niên để tuần tra canh gác, phát hiện số kiều dân Pháp còn lẩn trốn, lập các chòi canh để phát hiện máy bay Đồng Minh, kịp thời phát hiện quân Đồng Minh nhảy dù hoặc đổ bộ, báo cho quân Nhật
Trong một số báo cáo gửi Thống đốc Minođa, Tỉnh trưởng Lê Thành Long đã đề nghị quân đội Nhật trang bị vũ khí và huấn luyện quân sự cho Thanh niên Tiền phong Nhiều lần Long đã đi cùng với nhà giáo Lưu Văn Vầy trong Ban thủ lĩnh Thanh niên Tiền phong tỉnh đến từng làng, kiểm tra sự bố phòng và cổ vũ Thanh niên Tiền phong tại cơ sở Cuộc kinh lí tại Long Phước vào trung tuần tháng 6 năm 1945, trước sự chứng kiến của tỉnh trưởng Lê Thành Long, Thủ lĩnh Lưu Văn Vầy đã đọc một bài diễn văn hùng hồn, kêu gọi Thanh niên Tiền phong và các hương lí phải tích cực canh gác, tự tạo
vũ khí để chống lại kẻ thù32
Nhờ biết lợi dụng chủ trương thành lập các đội thanh niên tự vệ của chính quyền thân Nhật, tổ chức Thanh niên Tiền phong đã phát triển nhanh chóng Trong một thời gian ngắn, các tổng, xã đều lập được tổ chức Thanh niên Tiền phong Đội Thanh niên Tiền phong ở mỗi xã tập hợp từ vài chục đến hơn trăm đội viên, do các thanh niên trí thức, có khi là thầy giáo, thầy cai, thầy kí, hoặc hương chức làm thủ lĩnh
Nắm được chủ trương của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Tổng bộ Việt Minh
và chỉ thị của Xứ ủy về việc tích cực chuẩn bị lực lượng, tiến tới Tổng khởi nghĩa, Chi
bộ chủ trương tăng cường sự chỉ đạo Thanh niên Tiền phong, lập các đội thanh niên xung kích, sưu tầm vũ khí, luyện tập quân sự, làm lực lượng nòng cốt giành chính quyền khi có thời cơ
Lực lượng Thanh niên Tiền phong các sở cao su thực sự làm chủ đồn điền, giữ gìn trật tự an ninh, sưu tầm vũ khí, tập luyện quân sự chuẩn bị khởi nghĩa Thanh niên Tiền Phong đồn điền Bình Ba do các đồng chí Hồ Ngọc Hạ và Trịnh Khắc Phùng tổ chức tự quản, tập hợp hàng trăm thanh niên, vũ trang bằng gậy tầm vông, vũ khí thô sơ
tự tạo và một số súng kíp, súng săn, súng trường chiếm được của bọn chủ Tây Thanh niên Tiền phong làm chủ đồn điền, tổ chức tuần tra, canh gác, giữ trật tự an ninh, lùng bắt bọn chủ Tây còn lẩn trốn Nhiều người trước làm thầy xu, cai, ký cũng tham gia Thanh niên Tiền Phong, tham gia các tổ chức công nhân tự quản và truyền đạt những chủ trương và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới cho công nhân Thanh niên dân tộc Châu Ro trong các làng hăng hái chế tạo nhiều cung, ná, tích cực chuẩn bị khởi nghĩa
Đội tự vệ chiến đấu ở Bình Ba tổ chức được trên 10 thanh niên tham gia do anh Trịnh Khắc Phùng chỉ huy làm nhiệm vụ tự quản, giữ gìn an ninh trật tự, sưu tầm vũ khí, tập luyện quân sự chuẩn bị khởi nghĩa Đội tự vệ đã phục kích giết 2 tên lính Nhật
đi trên đường từ Cuộctơnay về, thu 2 súng, trang bị thêm vũ khí cho tự vệ chiến đấu
32 Hồ sơ gốc của Phòng lục sự, Toà Thượng thẩm Đông Dương, về vụ án Lê Thành Long trang 17
Trang 3736
Thanh niên Tiền phong ở các sở cao su lộ 2 tích cực sưu tầm thêm vũ khí, trang
bị gậy tầm vông, giáo mác, ná, ngày đêm hăng say luyện tập và háo hức chờ lệnh khởi nghĩa Trước khí thế cách mạng đang dâng lên ngày càng mạnh mẽ, bọn lính Nhật hoảng
sợ, đã rút chạy về Tỉnh Lực lượng Thanh niên Tiền phong, tự vệ chiến đấu đã thực sự quản lý, giữ gìn trật tự, bảo quản các kho tàng, tài sản, kho lương thực ở các đồn điền
Giống như nhiều địa phương ở Nam Bộ, phong trào Thanh niên Tiền phong là một cuộc chạy đua giữa các đảng viên cộng sản và các đảng phái thân Nhật trong việc xây dựng lực lượng quần chúng rộng rãi Ở Vũng Tàu, chính quyền thân Nhật chỉ định Dương Văn Minh (cảnh sát trưởng) làm thủ lĩnh Thanh niên Tiền phong Lực lượng Thanh niên Tiền phong đông đảo nhất Vũng Tàu lúc đó là Thanh niên Tiền phong xã Thắng Tam do hai anh em Lê Tấn Thông và Lê Tấn Ngôn tổ chức Lê Tấn Thông từng
là tù chính trị thuộc phái thân Nhật, bị thực dân Pháp bắt giam tại Côn Đảo, nhưng đại
đa số Thanh niên Tiền phong Thắng Tam đều là những thanh niên yêu nước nhiệt thành, được khơi dậy ý thức dân tộc, được cuốn hút trong phong trào truyền bá quốc ngữ, hướng dẫn vệ sinh phòng dịch, cứu trợ đồng bào, sưu tầm vũ khí, tuần tra canh gác, bảo
vệ trật tự trị an
Một nhóm thanh niên khác gồm Nguyễn Văn Thạch, Võ Văn Tần, Lê Duy Nhất, Nguyễn Văn Khẩu, Nguyễn Văn Phá từng tham gia phong trào học sinh yêu nước tại Sài Gòn trong những ngày sôi sục cách mạng này nhận nhiệm vụ của đồng chí Mai Văn
Bộ33 trở về Vũng Tàu gây dựng phong trào Các anh đã kết hợp cùng với nhóm Thanh niên Cứu quốc của Trần Văn Quan và đông đảo nam nữ thanh niên Vũng Tàu hoạt động sôi nổi tại khu vực khóm Chợ, khóm Vườn Hội hướng đạo Vũng Tàu do Trần Văn Quan phụ trách đã sửa lại lời thề của Hướng đạo, đưa nội dung yêu nước thiết thực vào hoạt động hướng đạo:
1 Trung thành với Tổ quốc Việt Nam
2 Giúp ích mọi người
3 Tuân theo luật hướng đạo
Hội quy định trong ngày sinh hoạt của Hội cấm nói tiếng Pháp và vận động đội viên tham gia phong trào Hội truyền bá quốc ngữ, phân công hội viên đến từng khu dân
cư lao động vận động ghi tên người theo học, tổ chức biểu diễn văn nghệ và quyên góp tiền mua sách vở và bút mực cho người học chống mù chữ Hàng chục lớp xóa mù chữ
đã được tổ chức ở Vũng Tàu, mỗi lớp thường từ 50 đến 60 người Các bài hát cổ vũ cho phong trào xóa mù chữ được truyền bá rộng rãi trong nhân dân Vũng Tàu34
Ở khu vực Bến Đình, Bến Đá có hai đội Thanh niên Tiền phong Ngày 15 tháng
8 năm 1945, nghe tin Nhật Hoàng đầu hàng Đồng Minh, Đội Thanh niên Tiền phong Bến Đá do Nguyễn Hoài Đức làm thủ lĩnh đã tuyên thệ trung thành với Tổ quốc Việt Nam và thành lập Đội cảm tử quân Bến Đá, có 60 đội viên, trang bị được 08 khẩu súng trường, một số lựu đạn và mã tấu Đó là một trong những tiền thân của lực lượng võ trang Vũng Tàu
33. Một trong những đồng chí lãnh đạo Tổng bộ Thanh niên Tiền phong, Chủ nhiệm báo Tiến của Thanh niên Tiền phong
34 Hai bài hát phổ biến nhất lúc ấy là:
Bài thứ nhất (Điệu mãi tạp hóa): A cùng Ê suốt ngày mà lòng không chán; Chúng ta cố công học hành, trí càng
ngày càng thêm sáng; Thấm thoát được vài ba tháng; Biết coi viết thơ tinh tường, làm xong vài ba phép toán; Sống vui hát ca lên đường, sắc đời tươi hơn
Bài thứ hai: Ta người Nam, vốn dòng là dòng văn hiến; Tiếng ta khá thông cho tường; Một mai toàn dân sáng
suốt; Gấm hoa nước non can trường; Hát đời mạnh vui
Trang 3837
Chỉ trong vòng ba tháng, Thanh niên Tiền phong phát triển nhanh chóng, tập hợp hầu hết các tầng lớp nhân dân, trong đó có cả thanh niên, phụ nữ, người già, người trẻ, công chức, hương chức các làng, cai ký trong các sở cao su Hoạt động chính của Thanh niên Tiền Phong là tuần tra canh gác, giữ trật tự trị an trong làng xóm, dàn xếp các vụ xích mích, tự trang bị vũ khí thô sơ và luyện tập quân sự, sẵn sàng chiến đấu Thanh niên Tiền Phong đã làm nhiều chức năng về trật tự an ninh, văn hóa xã hội ở làng xã, thay cho hệ thống tề xã đã rệu rã từ khi Nhật đảo chính Pháp
Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng quân Đồng Minh, Trung ương Đảng đã quyết định phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào đã bầu ra Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc do Cụ
Hồ Chí Minh đứng đầu Tình hình cách mạng và phong trào có nhiều chuyển biến mau
lẹ Ở Bà Rịa - Vũng Tàu, bọn lính Nhật hoang mang, co cụm lại trong các trại tập trung,
lo lắng về số phận của chúng, chưa biết sẽ ra sao
Hội nghị Xứ ủy Nam Kỳ mở rộng tại Chợ Đệm từ ngày 17 đến ngày 20 tháng 8 năm 1945 đã quyết định khởi nghĩa tại Tân An làm thí điểm và khẩn trương huy động lực lượng, chuẩn bị giành chính quyền tại Sài Gòn-Gia Định và các tỉnh Hai đồng chí Huỳnh Văn Hớn và Dương Bạch Mai được cử về chỉ đạo giành chính quyền tại Bà Rịa
bộ trong ngày tổng khởi nghĩa, phân tán lực lượng theo sát từng đoàn tuần hành và bảo
vệ cán bộ cách mạng lúc diễn thuyết Thanh niên xung kích các xã Long Hương, Phước
Lễ làm nhiệm vụ thường trực, sẵn sàng nhận nhiệm vụ của Ủy ban khởi nghĩa
Ngày 24 tháng 8 năm 1945, anh Lê Văn Quang đã đưa lá “Cờ đỏ sao vàng” từ Tổng bộ Thanh niên Tiến phong ở Sài Gòn về Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Trần Ngọc Anh, người thợ hớt tóc đã được anh Võ Văn Nghĩa, Đoàn trưởng Thanh niên Tiền phong Phước Lễ được trao nhiệm vụ tổ chức treo lá cờ đỏ sao vàng trên đỉnh lầu nước trung tâm tỉnh lỵ, trước khi trời sáng Ủy ban khởi nghĩa huy động các cơ sở thợ may tranh thủ may thêm cờ đỏ sao vàng ngay trong đêm để kịp phục vụ cuộc mít tinh giành chính quyền vào sáng hôm sau Lực lượng xung kích khẩn trương dựng khán đài, vẽ biểu ngữ
và luân phiên thức suốt đêm, bố trí canh phòng cẩn mật địa điểm mít tinh là khu vực Lầu Nước, nhằm đảm bảo thắng lợi cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền
Rạng sáng ngày 25 tháng 8 năm 1945, một vạn người hàng ngũ chỉnh tề tập hợp tại trung tâm tỉnh lỵ Lực lượng thanh niên xung kích canh gác bảo vệ lễ đài, án ngữ các ngả đường vào tỉnh lỵ Một tiểu đội thanh niên xung kích hộ tống Dương Văn Xá, thủ lĩnh Thanh niên Tiền phong, đại diện Ủy ban khởi nghĩa đến Toà tham biện, thông báo cho tỉnh trưởng Lê Thành Long biết, chấp hành lệnh của Ủy ban khởi nghĩa Trung ương, nhân dân Bà Rịa đã đồng tâm nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền Lê Thành Long chấp nhận yêu cầu của Ủy ban khởi nghĩa, trao toàn bộ ấn tín và Hồ sơ cho cách mạng
Trong khi đó, một tiểu đội thanh niên xung kích khác hộ tống Lưu Văn Vầy, trong ban thủ lĩnh đến gặp Satô, chỉ huy quân đội Nhật, yêu cầu quân Nhật không can
Trang 3938
thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam, binh lính Nhật không được ra khỏi trại, riêng Satô được mời đến dự mít tinh Sau bài diễn văn hùng hồn của Thủ lĩnh Thanh niên Tiền phong, thay mặt cho Ủy ban khởi nghĩa tuyên bố nền độc lập của nhân dân
Bà Rịa, tỉnh trưởng Lê Thành Long đã xin từ chức, trao lại chính quyền cho nhân dân Anh Huỳnh Công Vinh thay mặt cho lực lượng Thanh niên Tiền phong đọc lời tuyên thệ suốt đời trung thành với Tổ quốc Việt Nam, nguyện bảo vệ vững chắc độc lập, tự do của dân tộc
Sau cuộc mít tinh, Thanh niên Tiền phong dẫn đầu các đoàn tuần hành quanh tỉnh
lỵ, rồi tỏa về từng cơ sở giành chính quyền Tổ Thanh niên Tiền phong xóm Lưới do Hoàng Sơn Hải làm tổ trưởng đã tổ chức lực lượng chiếm giữ Dinh tỉnh trưởng, hạ lá cờ quẻ ly của Nhật, kéo lá cờ đỏ sao vàng lên nóc dinh tỉnh trưởng, xác nhận độc lập, chủ quyền của dân tộc Việt Nam Các tổ Thanh niên Tiền phong Phước Lễ chia nhau chiếm giữ và canh gác các công sở
Một tổ Thanh niên xung kích khác được giao nhiệm vụ mở cửa khám giải phóng cho tù chính trị Thanh niên Tiền phong các xã tập hợp thành từng đoàn trở về giải tán toàn bộ tề xã, thành lập chính quyền cách mạng Thanh niên Tiền phong Phước Lễ tổ chức canh gác bảo vệ trụ sở của Ủy ban hành chính tỉnh Tại Long Điền, đoàn Thanh niên Tiền phong vũ trang bằng dao, mác, tầm vông vạt nhọn đã vây nhà việc, bắt quận
trưởng Giỏi, thu ấn tín Hồ sơ và hô vang các khẩu hiệu: Việt Nam độc lập muôn năm; Đả
đảo thực dân Pháp; Chính quyền về tay Việt Minh
Tại Đất Đỏ, tình hình cũng diễn ra tương tự Sau khi giành chính quyền ở quận, lực lượng Thanh niên Tiền phong là đạo quân xung kích, trở về từng làng, bắt bọn hương
lý phải nộp hết ấn tín, sổ sách cho nhân dân Khí thế cách mạng hừng hực từ phố xá đến thôn quê
Các xã ven lộ 2 cũng hừng hực khí thế cách mạng Thanh niên Tiền phong các
sở cao su truy bắt những tên tay sai thân Nhật, thân Pháp từng hà hiếp công nhân đưa ra cảnh cáo Các xã vùng Long Xuyên, Long Kiên, Long Phước, Long Tân sau khi giải tán Ban hội tề đã cử người đại diện lên tổ chức chính quyền cách mạng ở xã và tổ chức canh gác bảo vệ trật tự an ninh trong làng xóm Thanh niên hăng hái luyện tập võ thuật và tham gia phong trào bình dân học vụ
Với lực lượng Thanh niên Tiền phong có vũ trang làm đạo quân chủ lực, Chi bộ
Bà Rịa đã lãnh đạo thắng lợi cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh lỵ cùng ngày với Sài Gòn-Gia Định, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Tây Ninh và nhiều tỉnh miền Tây Nam Bộ, góp phần vào thắng lợi quyết định của Cách mạng Tháng Tám ở Nam Bộ
Ở Vũng Tàu lúc ấy chưa có tổ chức Đảng Thanh niên Tiền phong Vũng Tàu do
Dương Văn Minh, viên chức cảnh sát của chính quyền thân Nhật làm thủ lĩnh Trên danh nghĩa, Dương Văn Minh là thủ lĩnh, nhưng thực tế, Dương Văn Minh không chi phối hoạt động của Thanh niên Tiền phong ở các xã Mặt khác, Minh cũng không quan
hệ trực tiếp với Hội đồng quản trị Trung ương Thanh niên Tiền phong tại Sài Gòn do
Xứ ủy (Tiền Phong) chỉ đạo Đồng bào Vũng Tàu còn rất ngỡ ngàng, trong khi ngày 25 tháng 8 năm 1945, hàng triệu người ở Sài Gòn, Bà Rịa và các tỉnh đã hân hoan trong ngày hội lớn của tự do độc lập
Các cơ sở binh vận do Tiểu ban binh vận Vùng II của Xứ ủy (Biên Hoà-Bà Vũng Tàu) tổ chức trước đó vẫn tích cực hoạt động, theo dõi tin tức và tìm cách liên lạc với các cơ sở Đảng ở Sài Gòn Những cơ sở binh vận tích cực hoạt động là Lê Đình Y,
Trang 40Rịa-39
Nguyễn Ngoạn, Bùi Cửu theo dõi sát những diễn biến của thời cuộc và sốt sắng chuẩn
bị giành chính quyền
Ngoài nhóm binh vận, Vũng Tàu còn có nhóm Việt Minh mà Nguyễn Ngọc Bảo,
Hồ Sĩ Ninh (Hồ Sỹ Nam) và Nguyễn Xuân Nhật là hạt nhân Nguyễn Xuân Nhật nguyên
là đảng viên Đảng Tân Việt; Hồ Sĩ Ninh là cán bộ trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh;
cả hai người bị địch khủng bố, lưu lạc nhiều nơi rồi vào Vũng Tàu với nghề thầu xây cất
và sửa chữa các công trình nhỏ cho quân đội Nhật Nguyễn Ngọc Bảo là tù chính trị Côn Đảo, được ân xá (1936), quản thúc tại quê (Thanh Hoá), sau đó trốn quản thúc, bán cơm gánh trên tàu hoả Bắc-Nam và đảm nhiệm một đầu mối liên lạc của Xứ ủy, thông qua người bác ruột làm ở Sở hoả xa Sài Gòn Cuối năm 1941, Nguyễn Ngọc Bảo về Vũng Tàu, mở quán cơm ở Bến Đình, kết nối với Hồ Sĩ Ninh và Nguyễn Xuân Nhật, tuyên truyền tài liệu Việt Minh trong số phu làm cho Nhật, gốc Trung-Bắc Kỳ Sinh hoạt trong nhóm Việt Minh Vũng Tàu còn có hai vợ chồng ông Huỳnh Văn Nhung và bà Hồ Thị Khuyên ở dưới chân Núi Lớn Ông Huỳnh Văn Nhung là một chiến sỹ tham gia cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ ở Mỹ Tho bị địch bắt tra tấn đến tàn phế và đày biệt xứ về đây
Nắm được tin tức về cuộc Tổng khởi nghĩa, cả 2 nhóm Việt Minh và Binh Vận lập tức tổ chức "Đoàn vô sản Vũng Tàu", tham gia cuộc mít tinh giành chính quyền ở Sài Gòn sáng 25-8-1945, sau đó nhận chỉ thị của Xứ ủy về tổ chức giành chính quyền tại Vũng Tàu Đồng chí Nguyễn lộc, phái viên quân sự của Xứ ủy được cử về giúp nhóm Việt Minh Vũng Tàu tổ chức khởi nghĩa giành chính quyền
Đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo bỏ tiền thuê một chuyến xe đò từ Sài Gòn về Vũng Tàu ngay buổi chiều 25 tháng 8 năm 1945, trương biểu ngữ "Đoàn vô sản Vũng Tàu" làm công tác tuyên truyền khởi nghĩa Cuộc họp tối 25 tháng 8 năm 1945 tại nhà ông Huỳnh Văn Nhung dưới chân Núi Lớn đã đi đến quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa Vũng Tàu, thành phần gồm cả hai nhóm "Việt Minh" và "Binh vận" Điều băn khoăn nhất lúc đó là Ủy ban khởi nghĩa không nắm được Thanh niên Tiền phong, lực lượng quần chúng cách mạng đông đảo nhất lúc đó Vì thế Ủy ban khởi nghĩa quyết định thành lập "Đội cảm tử quân cách mạng" do đồng chí Lê Đình Y phụ trách
Hưởng ứng Lời kêu gọi của Ủy ban khởi nghĩa, trong hai ngày 26 và 27 tháng 8 năm 1945 đã có hơn 40 thanh niên tham gia Đội Cảm tử quân cách mạng Phần lớn đội viên là dân gốc Trung-Bắc kỳ culi cho Nhật, một số là công nhân cao su thất nghiệp từ các đồn điền về Vũng Tàu; vũ khí ban đầu có một số khẩu súng trường, súng lục, mã tấu và kiếm Nhật Đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo đã hiến cả gia tài để nuôi quân, mua vũ khí Đội Cảm tử quân cách mạng Vũng Tàu là lực lượng võ trang nòng cốt bảo đảm thắng lợi cho cuộc mít tinh giành chính quyền ở Vũng Tàu
Theo hiệu triệu của Ủy ban khởi nghĩa, sáng 28 tháng 8 năm 1945, hơn 4000 đồng bào Vũng Tàu đã tập trung tại sân vận động Lam Sơn Đội Cảm tử quân cách mạng làm nhiệm vụ bảo vệ Ủy ban khởi nghĩa Thanh niên Tiền phong các xã Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam cũng hưởng ứng, tập hợp thành đội ngũ trong sân vận động Đồng chí Dương Bạch Mai đã long trọng tuyên bố trước 4000 người dự mít tinh: "Từ giờ phút này, chính quyền thật sự về tay nhân dân" Tỉnh trưởng Lâm Văn Huê từ chức, bàn giao ấn tín và Hồ sơ cho cách mạng
Cuộc đấu tranh giành chính quyền ở Côn Đảo diễn ra trong điều kiện đặc biệt hơn các địa phương trong đất liền Sau khi làm đảo chính, bọn Nhật tước vũ khí của binh lính, gác ngục Pháp Chúng lập chính quyền bù nhìn, đưa tham tá Lê Văn Trà lên