Một số thông tin tham khảo thêm có sử dụng trong đồ án thuộc đề tài cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo "Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá khoang cổ cam Amphipr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG VIỆN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ KHOANG
CỔ CAM (Amphiprion percula Lacepede, 1802) TẠI TRẠI
SẢN XUẤT GIỐNG CÁ CẢNH ĐƯỜNG ĐỆ, VĨNH HÒA
NHA TRANG - KHÁNH HÒA
Giảng viên hướng dẫn : ThS Trần Văn Dũng Sinh viên thực hiện : Võ Thị Diễm
Mã số sinh viên : 57132537
Khánh Hòa - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
BỘ MÔN KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ KHOANG
CỔ CAM (Amphiprion percula Lacepede, 1802) TẠI TRẠI
SẢN XUẤT GIỐNG CÁ CẢNH ĐƯỜNG ĐỆ, VĨNH HÒA
NHA TRANG - KHÁNH HÒA
GVHD : ThS Trần Văn Dũng SVTH : Võ Thị Diễm
MSSV : 57132537
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đồ án tốt nghiệp: "Tìm hiểu quy trình sản xuất giống cá
khoang cổ cam (Amphiprion percula Lacepede, 1802) tại trại sản xuất giống cá
cảnh Đường Đệ, Vĩnh Hòa, Nha Trang - Khánh Hòa" là công trình nghiên cứu của
bản thân tôi dưới sự hướng dẫn, tạo điều kiện cơ sở vật chất từ giáo viên hướng dẫn ThS Trần Văn Dũng Các thông tin sử dụng trong đồ án được trích dẫn nguồn rõ ràng trong danh mục tài liệu tham khảo Các số liệu, kết quả trình bày trong đồ án là trung thực thông qua thực tiễn sản xuất, lặp lại nhiều lần Một số thông tin tham khảo thêm
có sử dụng trong đồ án thuộc đề tài cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo "Nghiên cứu xây dựng
quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá khoang cổ cam (Amphiprion percula Lacepede, 1802)" do ThS Trần Văn Dũng làm chủ nhiệm, tôi có tham gia trước và
trong khi thực hiện đồ án và được sự đồng ý của chủ nhiệm đề tài
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Nuôi trồng Thủy sản Trường Đại học Nha Trang, Trại sản xuất giống cá cảnh Đường Đệ đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu vừa qua
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS Trần Văn Dũng người đã tận tình hướng dẫn, động viên và dìu dắt tôi trong suốt quá trình định hướng nội dung và viết
đồ án tốt nghiệp Thông qua quá trình chỉnh sửa chi tiết, nhiều lần tôi đã hiểu rõ được các nguyên tắc quý báu trong tham khảo tài liệu, diễn đạt, viết báo cáo khoa học mà trước đây tôi chưa nhận thức được đầy đủ Điều này sẽ giúp tôi rất nhiều trong học tập
và công tác sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Viện Nuôi trồng Thủy sản đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm ngành nghề cũng như cuộc sống quý giá trong suốt thời gian học tập tại Trường
Tôi xin chân thành cảm ơn các nhân viên và các em sinh viên K59 - 60 tại Trại sản xuất giống cá cảnh Đường Đệ, cá nhân thầy Trần Văn Dũng và cô Nguyễn Thị Kim Bích đã nhiệt tình chỉ bảo cho tôi những kinh nghiệm thực tiễn, hỗ trợ về cơ sở vật chất phục vụ thực tập trong suốt thời gian tôi thực hiện đồ án tốt nghiệp
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình đã động viên và giúp đỡ tôi cả về vật chất và tinh thần trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Nha Trang, ngày 17 tháng 06 năm 2019
Võ Thị Diễm
Trang 5TÓM TẮT ĐỒ ÁN
Đề tài "Tìm hiểu quy trình sản xuất giống cá khoang cổ cam (Amphiprion percula Lacepede, 1802) tại Trại sản xuất giống cá cảnh Đường Đệ, phường Vĩnh Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa" được thực hiện từ ngày 04/03/2019 đến ngày 10/06/2019 Các số liệu sơ cấp, thứ cấp được thu thập thông qua trực tiếp tham gia sản xuất, trao đổi với các nhân viên của trại cá và tìm hiểu các tài liệu có liên quan trong và ngoài nước Kết quả cho thấy trại cá có diện tích đủ rộng, nằm ở vị trí tương đối thuận lợi để sản xuất giống nhân tạo cá cảnh biển Kết quả theo dõi 20 cặp
cá bố mẹ sinh sản trong 4 tháng cho thấy tỷ lệ thành thục của cá đạt khoảng 90%, tỷ lệ sống 100%, tỷ lệ đẻ 70%, tỷ lệ nở 63%, số lượng trứng dao động từ 127 - 574 trứng/lần đẻ Thời gian tái phát dục 10 - 12 ngày, cá biệt lên tới 60 ngày Thời gian
10 đợt ương cho thấy ở giai đoạn 0 - 30 ngày tuổi, tỷ lệ sống của cá đạt 57,6 ± 18,9%; chiều dài cá ban đầu 2,6 ± 0,52 mm, chiều dài cuối đạt 14,5 ± 1,08 mm; tốc độ tăng trưởng chiều dài đặc trưng đạt 3,7 ± 0,27%/ngày; tổng số cá con thu được là 1.814 con Ở giai đoạn 30 - 60 ngày tuổi, tỷ lệ sống đạt 97,2 ± 3,1%; chiều dài cuối đạt 25,8
± 1,87 mm; tốc độ tăng trưởng chiều dài đặc trưng 1,92 ± 0,15%/ngày; tổng số cá con thu được là 1.785 con Nhìn chung, quy trình sản xuất giống cá khoang cổ cam tại trại
đã ổn định từ thu thập, nuôi vỗ, cho đẻ và ương ấu trùng Luân trùng được sử dụng trong vòng 2 - 4 ngày đầu tiên, nauplius Artemia từ ngày 2 - 30, thức ăn tổng hợp INVE từ ngày 30 - 60 Cá được ương với mật độ 2 - 3 con giai đoạn 0 - 30 ngày tuổi
và 1 - 2 con giai đoạn 30 - 60 ngày tuổi Độ mặn dao động từ 33 - 35‰ Các yếu tố môi trường khác được duy trì trong phạm vi thích hợp Tỷ lệ sống của cá nuôi đạt 57,6
- 97,2% Tuy nhiên, để gia tăng hiệu quả sản xuất, trại cá cần có những nâng cấp, sửa chữa hệ thống công trình nuôi, bảo vệ an toàn khi mưa bão, khắc phục hiện tượng hao hụt trứng trong quá trình ấp và nâng cao tỷ lệ sống của cá trong quá trình ương, nhất
là giai đoạn 0 - 30 ngày tuổi
Từ khóa: Amphiprion percula, cá khoang cổ cam, sản xuất giống, ương nuôi
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT ĐỒ ÁN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC HÌNH VẼ vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Đặc điểm sinh học của cá khoang cổ 3
1.1.1 Đặc điểm hình thái phân loại và phân bố 3
1.1.2 Đặc điểm sinh trưởng 5
1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 6
1.1.4 Đặc điểm sinh sản 8
1.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống cá khoang cổ trên thế giới và Việt Nam 9
1.2.1 Trên thế giới 9
1.2.2 Tại Việt Nam 11
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất giống nhân tạo cá khoang cổ 12
1.3.1 Cá bố mẹ 12
1.3.2 Dinh dưỡng 13
1.3.3 Môi trường 14
1.3.4 Các yếu tố khác 15
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu 16
2.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 16
2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 16
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 17
2.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 17
2.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 17
2.2.2.3 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu 18
Trang 72.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 21
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Hệ thống công trình và chuẩn bị hệ thống 22
3.1.1 Hệ thống công trình sản xuất 22
3.1.2 Nguồn nước và xử lý nước 27
3.1.3 Kỹ thuật nuôi và chuẩn bị thức ăn 29
3.2 Thuần dưỡng, nuôi vỗ, cho đẻ, ấp nở trứng 33
3.2.1 Thuần dưỡng và nuôi vỗ 33
3.2.2 Kết quả nuôi vỗ thành thục, cho đẻ cá bố mẹ 35
3.2.3 Tập tính kết cặp, làm tổ, đẻ trứng và chăm sóc trứng 36
3.2.4 Ấp nở trứng 39
3.3 Ương, nuôi cá khoang cổ cam 40
3.3.1 Ương ấu trùng (0 - 30 ngày tuổi) 40
3.3.2 Ương cá con (30 - 60 ngày tuổi) 43
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
4.1 Kết luận 46
4.2 Đề xuất ý kiến 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Cá khoang cổ cam 4
Hình 1.2 Phân bố địa lý của cá khoang cổ cam (màu đỏ) 5
Hình 1.3 Vòng đời cá khoang cổ (Fautin and Allen, 1992) 6
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 16
Hình 2.2 Xác định kích thước cá bằng giấy đo kỹ thuật 20
Hình 3.1 Bản đồ khu trại và sơ đồ các hạng mục công trình chính trong trại 22
Hình 3.2 Hệ thống bể xử lý nước và trữ nước 24
Hình 3.3 Bể thuần dưỡng và lưu giữ cá bố mẹ 24
Hình 3.4 Bể ấp nở trứng và ương ấu trùng 25
Hình 3.5 Hệ thống nuôi tảo 25
Hình 3.6 Hệ thống nuôi luân trùng 26
Hình 3.7 Bào xác Artemia và xô ấp nở 26
Hình 3.8 Hệ thống bể nuôi vỗ và cho đẻ cá bố mẹ 27
Hình 3.9 Bể ấp nở trứng và ương nuôi ấu trùng, cá con 27
Hình 3.10 Hệ thống lọc tuần hoàn trong bể 28
Hình 3.11 Hệ thống lọc sinh học tuần hoàn ngoài bể 29
Hình 3.12 Dung dịch nuôi tảo theo tỷ lệ 1:10 30
Hình 3.13 Men bánh mì nuôi luân trùng 31
Hình 3.14 Nauplius Artemia sau khi lọc lần 1 31
Hình 3.15 Thức ăn chế biến cho cá bố mẹ 32
Hình 3.16 Thức ăn công nghiệp INVE cho cá con 33
Hình 3.17 Tắm cá khi mới mua về, tắm định kỳ nước ngọt 34
Hình 3.18 Cặp cá khoang cổ cam, cá cái lớn, cá đực nhỏ 34
Hình 3.19 Trứng đẻ trên giá thể chậu gốm và gạch men 36
Hình 3.20 Tập tính sinh sản của cá khoang cổ cam bố mẹ 37
Hình 3.21 Phôi mới hình thành, phôi 4 ngày tuổi và 8 ngày tuổi 39
Hình 3.22 Ấu trùng cá khoang cổ cam mới nở 39
Hình 3.23 Bể ương ấu trùng và bể nở 40
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Phương pháp xác định các thông số môi trường 18
Bảng 3.1 Kết quả theo dõi nuôi vỗ, cho đẻ (n = 20) 35
Bảng 3.2 Kết quả ương ấu trùng cá khoang cổ cam 0 - 30 ngày tuổi 43
Bảng 3.3 Kết quả ương ấu trùng cá khoang cổ cam 30 - 60 ngày tuổi 44
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CD, TL Chiều dài toàn thân, TL
Se Số lượng cá kết thúc
SGR Tốc độ tăng trưởng đặc trưng
Trang 11MỞ ĐẦU
Nghề nuôi cá cảnh biển nói chung và cá khoang cổ phát triển khá mạnh mẽ trong nhiều năm trở lại đây với sản lượng trên 35 triệu con và giá trị trên 200 triệu USD Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, Việt Nam nằm trong số những nước xuất khẩu
cá cảnh biển lớn trên thế giới với giá trị hàng năm ước đạt trên 4 triệu USD Tuy nhiên, nguồn cá cảnh cung cấp cho thị trường thế giới hiện nay hầu hết được khai thác
từ tự nhiên, đặc biệt là vùng biển Đông Nam Á Nhiều loài cá cảnh biển có giá trị kinh
tế rất cao, được ưa chuộng, giá bán từ vài chục đến vài chục ngàn đô la
Cá khoang cổ cam, đối tượng thuộc họ cá thia biển (Pomacentridae), là một trong những loài cá cảnh có giá trị kinh tế cao, được thị trường trong và ngoài nước rất
ưa chuộng (Hoff, 1996) Nhờ đặc điểm sống cộng sinh với hải quì, sự đa dạng về màu sắc và khả năng thích nghi cao trong điều kiện nuôi nhốt nên loài cá này đã và đang được nuôi phổ biến ở nhiều quy mô khác nhau (Wilkerson, 2001) Nhìn chung cá khoang cổ cam có giá khá cao so với các loài cá khoang cổ khác trên thị trường Nhu cầu thị trường không ngừng gia tăng trong khi khả năng cung cấp con giống nhân tạo hạn chế đã và đang dẫn đến nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi tự nhiên của loài cá này nhất là trong trường hợp sử dụng các biện pháp khai thác không bền vững như dùng chất độc, kích điện hay thuốc nổ (Wabnitz et al., 2003) Nhiều nỗ lực sinh sản nhân tạo cá khoang cổ được thực hiện nhằm hạn chế các tác động tiêu cực này ở các nước như Thái Lan, Philippines và Malaysia Ở nước ta, từ năm 2000, các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá khoang cổ bắt đầu được thực hiện và đã đạt được những thành công
nhất định trên 3 đối tượng chính là cá khoang cổ đen đuôi vàng (A clarkii), cá khoang
cổ đỏ (A frenatus), cá khoang cổ nemo (A ocellaris), cá khoang cổ cam (A percula)
và cá khoang cổ yên ngựa (A polymnus) (Trần Văn Dũng, 2017)
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Viện Nuôi trồng Thủy sản và giáo
viên hướng dẫn, tôi thực hiện đề tài: “Tìm hiểu quy trình sản xuất giống cá khoang
cổ cam (Amphiprion percula Lacepede, 1802) tại Trại sản xuất giống cá cảnh
Đường Đệ, phường Vĩnh Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa”
Mục tiêu của đề tài:
Trang 12Tìm hiểu, nắm bắt được quy trình sản xuất giống cá khoang cổ cam
(Amphiprion percula Lacepede, 1802) tại Trại sản xuất giống cá cảnh Đường Đệ,
phường Vĩnh Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Nội dung của đề tài:
1 Tìm hiểu về hệ thống công trình, trang thiết bị của trại
2 Kỹ thuật chuẩn bị hệ thống nuôi và xử lý nước
3 Kỹ thuật cho đẻ, thu và ấp trứng
4 Kỹ thuật ương ấu trùng và cá con
Ý nghĩa của đề tài:
Việc thực hiện đề tài giúp sinh viên tìm hiểu và thực hiện được quy trình sản xuất giống nhân tạo cá khoang cổ cam Ngoài ra, còn cập nhật những kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn sản xuất giống Đề tài góp phần phát triển nghề nuôi cá khoang cổ cam nói riêng và cá cảnh biển nói chung giúp đa dạng hóa đối tượng nuôi, giảm áp lực khai thác nguồn lợi cá cảnh biển tự nhiên
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Đặc điểm sinh học của cá khoang cổ
1.1.1 Đặc điểm hình thái phân loại và phân bố
Vị trí phân loại của cá khoang cổ cam:
Theo thống kê, trên thế giới ghi nhận khoảng 30 loài cá khoang cổ thuộc họ cá thia (Pomacentridae), trong đó có 29 loài thuộc giống Amphiprion và 1 loài thuộc giống Premnas Họ Pomacentridae thường phân bố ở các vùng biển nhiệt đới bao gồm
34 loài thuộc 28 giống, 4 họ phụ Amphiprioninae, Chrominae, Lepidozyginae và Pomacentrinae Họ phụ Pomacentridae gồm các loài cá có đặc điểm sống cộng sinh
với hải quỳ ở rạn san hô (Nelson, 2006) Ở Việt Nam đã xác định được 6 loài gồm: A
clarkii, A frenatus, A perideraion, A polymnus, A sandaracinos và A melanopus
(Hà Lê Thị Lộc, 2005) Theo hệ thống phân loại của Allen (2001), cá khoang cổ cam
có vị trí phân loại như sau:
Cá khoang cổ cam có tên tiếng Anh là blackfinned clownfish, true percula clownfish hay orange clownfish Tên tiếng Việt là cá khoang cổ cam, cá hải quì cam
Đặc điểm hình thái:
Cá khoang cổ có màu vàng, cam, đỏ nhạt, hay màu đen nhạt Nhiều loài có những vạch trắng hay đốm sắc tố ở hai bên thân Loài có kích cỡ lớn nhất có thể đạt chiều dài 18 cm, riêng cá khoang cổ cam có thể đạt 11 cm, trung bình 8 cm Cá khoang
cổ cam có màu cam sáng với ba khoang trắng trên cơ thể, khoang trắng ở giữa lồi về phía trước, mỗi khoang đều có viền đen xung quanh Công thức vây của cá: có một
Trang 14đường bên, số vẩy trên đường bên có 30 – 38, số vảy có lỗ của đường bên là 30 – 38; vây lưng có 9 – 10 tia vây cứng và 14 – 17 tia vây mềm; vây hậu môn có 2 tia vây cứng và 11 – 13 tia vây mềm; vây ngực có 15 – 17 tia vây mềm (Allen, 2001)
Hình 1.1 Cá khoang cổ cam
https://reeflifesurvey.com/species/amphiprion-percula/
Hình dạng ngoài cá khoang cổ cam rất giống với cá khoang cổ nemo (A
ocellaris) Tuy nhiên, có thể phân biệt hai loài cá này dựa vào số tia vây lưng, đường
viền, viền mắt hay độ dài khoang trắng trên thân Đối với cá khoang cổ cam, số tia vây cứng là 9–10, cá khoang cổ nemo, số tia vây cứng là 11 hơn nữa phần sau của vây lưng có phần nhô cao hơn so với cá khoang cổ cam Cá khoang cổ cam có đường viền đen và rất đậm trong khi đó cá khoang cổ nemo lại có đường viền nhạt đôi khi chúng
ta khó thấy nó nếu không quan sát kỹ Cá khoang cổ cam có viền mắt màu vàng tươi còn cá khoang cổ nemo lại có màu đen nâu Cá khoang cổ cam có khoang trắng trên thân kéo dài hơn, tiến sát lên phía mang cá trong khi cá khoang cổ nemo ngắn hơn (Allen, 2001)
Đặc điểm sinh thái, phân bố:
Cá khoang cổ là một trong những loài cá đặc trưng của vùng rạn san hô Chúng sống thành từng tổ cộng sinh với hải quỳ và không di cư, phân bố ở độ sâu 1 – 15 m
Sự có mặt của các loài hải quỳ là một trong những yếu tố chi phối đến sự phân bố của
cá khoang cổ Cá khoang cổ cam có phân bố rộng, từ vùng biển Thái Bình Dương đến
Ấn Độ Dương Nó cũng được tìm thấy ở phía Tây Bắc Australia, Đông Nam Á, Nhật Bản và phía Đông Malaysia (Hoff, 1996) Ở Việt Nam, cá khoang cổ phân bố chủ yếu
ở vùng biển miền Trung như Quảng Nam, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hòa và Bình Thuận (Hà Lê Thị Lộc, 2005)
Trang 15Hình 1.2 Phân bố địa lý của cá khoang cổ cam (màu đỏ)
http://www.fishbase.org/summary/Amphiprion-percula.html
Cá khoang cổ nói chung có tập tính sống cộng sinh với hải quỳ Trong mối quan hệ này, cá khoang cổ tránh được sự tấn công của các loài cá dữ trong khi hải quỳ được cá khoang cổ vệ sinh sạch sẽ Trong điều kiện nuôi nhốt, cá khoang cổ không cần
có sự hiện diện của hải quỳ mà vẫn sinh trưởng và sinh sản được (Allen, 2001)
1.1.2 Đặc điểm sinh trưởng
Trong quá trình phát triển phôi, màu sắc dần thay đổi theo các giai đoạn phát triển, từ màu cam sáng đến hồng nhạt (ngày 1 - 4) hay xám (ngày 5 - 6), màu đen và hai mống mắt có màu ánh bạc (ngày 7 - 8) (Wilkerson, 2001) Sau khoảng 6,5 - 13,5 ngày tùy loài và nhiệt độ nước, phôi sẽ nở, và hoạt động nở thường diễn ra vào ban đêm trong khoảng một giờ Sau khi tiêu hết noãn hoàng, cá bắt đầu sử dụng thức ăn ngoài; vào ngày thứ 5, hệ thống vây cơ bản phát triển hoàn thiện; vào ngày thứ 8, bắt đầu quá trình biến thái ấu trùng, quá trình này kéo dài đến ngày thứ 23 sau khi nở, tương ứng cỡ ấu trùng 15 mm chiều dài (Hoff, 1996)
Nhìn chung, cá khoang cổ có kích thước nhỏ, sinh trưởng chậm Ngoài ra, tốc
độ sinh trưởng của loài cá này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loài, giai đoạn phát triển, nguồn thức ăn và môi trường sống (Allen, 1972) Tốc độ tăng trưởng tối ưu của
cá khoang cổ cam chưa trưởng thành được xác định khoảng 6%/ngày Cá chưa trưởng thành phải chịu áp lực đáng kể từ cấu trúc thứ bậc trong quần đàn Trong một nhóm gia đình, chỉ có duy nhất một con đực có kích thước lớn nhất là con đực trưởng thành,
do vậy, các thành viên còn lại trở nên còi cọc và bị xua đuổi (Wilkerson, 2001)
Trang 16Hình 1.3 Vòng đời cá khoang cổ (Fautin and Allen, 1992)
Khi thành thục, cá khoang cổ thường kết cặp với nhau, làm tổ trên các giá thể như đá, san hô, hải quỳ sau đó đẻ trứng, thụ tinh Phôi sẽ phát triển trên bề mặt giá thể dưới sự chăm sóc của cá bố mẹ đến khi nở Sau khi nở, ấu trùng bắt đầu sống trôi nổi quanh các rạn san hô Ấu trùng hoàn tất biến thái chuyển qua giai đoạn cá con, cuối cùng định cư trong một ổ hải quỳ hay gia nhập một tổ cá khoang cổ nào đó sẵn có, phát triển đến giai đoạn trưởng thành, chuyển đổi giới tính, tham gia vào quá trình sinh sản và khép kín vòng đời (Calado et al., 2017) Theo Wilkerson (2001), nhờ sống cộng sinh với hải quỳ, cá khoang cổ có thể sống từ 15 - 20 năm
1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Ngoài tự nhiên, cá khoang cổ dành phần lớn tìm kiếm thức ăn là các sinh vật phù du sống quanh các rạn san hô Các loại thức ăn chủ yếu gồm vi tảo, giáp xác, động vật thân mềm, giun, trứng cá và các thành phần khác (Fautin and Allen, 1992; Hà Lê Thị Lộc, 2005) Trứng cá khoang cổ cũng thỉnh thoảng bắt gặp trong dạ dày của cá bố
mẹ đang chăm sóc ổ trứng do trong quá trình chăm sóc trứng chúng thường ăn các trứng ung Một số nghiên cứu nhận thấy tỷ lệ hao hụt trứng do cá bố mẹ ăn gia tăng trong trường hợp ô nhiễm tiếng ồn và ánh sáng (Allen, 1972)
Trong điều kiện nhân tạo, cá khoang cổ sử dụng hiệu quả các loại thức ăn gồm luân trùng, Copepoda, thức ăn khô hạt nhỏ, Artemia, bột động vật thân mềm, thức ăn chế biến và thức ăn công nghiệp Việc sử dụng đơn lẻ mỗi loại thức ăn trên không hiệu quả và không thỏa mãn được nhu cầu dinh dưỡng của ấu trùng Do đó, việc kết hợp
Trang 17linh hoạt các loại thức ăn này sẽ đảm bảo tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống, màu sắc tương
tự như các loại thức ăn ngoài tự nhiên (Hoff, 1996) Ngoài ra, do hiện ngay chưa có thức ăn tổng hợp chuyên dụng cho nhóm cá khoang cổ cam nên người nuôi vẫn thường sử dụng thức ăn của các loài tôm, cá biển để ương nuôi
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra vai trò thiết yếu của thức ăn sống trong ương ấu trùng cá khoang cổ nói riêng và cá cảnh biển nói chung Vi tảo được sử dụng phổ biến với vai trò làm thức ăn gián tiếp cho các động vật phù du và ổn định chất lượng nước
(Lavens and Sorgeloos, 1996) Luân trùng (Brachionus spp.) cũng là nguồn thức ăn
không thể thiếu được trong ương ấu trùng cá biển nói chung và cá khoang cổ nói riêng Tuy nhiên, do thiếu hụt nhiều thành phần dinh dưỡng nên loại thức ăn này cần được làm giàu dinh dưỡng trước khi cho ăn (Hoff, 1996) Khẩu phần thức ăn chỉ chứa luân trùng không giúp ấu trùng cá khoang cổ hoàn tất biến thái Copepoda là thức ăn sống
lý tưởng cho ương ấu trùng cá biển do rất giàu axít béo không no, vimatin và sắc tố Ngoài ra, kích cỡ đa dạng từ 80 - 600 μm có thể thỏa mãn hầu hết các giai đoạn phát triển của ấu trùng (Støttrup, 2000) Ương nuôi ấu trùng cá khoang cổ với loại thức ăn này giúp cải thiện tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống, rút ngắn thời gian ương, cải thiện sắc màu sắc của cá so với các loại thức ăn sống khác (Olivotto et al., 2008) Artemia đã và đang được sử dụng rộng rãi trong sản xuất giống nhân tạo cá cảnh biển do giá trị dinh dưỡng cao, sẵn có và tiện lợi trong quá trình sử dụng và bảo quản, thời gian ấp nở bào xác chỉ từ 14 - 24 giờ (Lavens and Sorgeloos, 1996; Calado et al., 2017) Ngoài thức
ăn sống, các loại thức ăn khác cũng được sử dụng khá phổ biến trong sản xuất giống
cá khoang cổ như thức ăn tươi, thức ăn chế biến và thức ăn tổng hợp, nhất là các giai đoạn sau Thức ăn chế biến thường là hỗn hợp nhiều thành phần như bột cá, bột ngũ cốc, trứng, thức ăn tổng hợp, thịt tôm, mực, tảo khô, dầu, astaxanthin, vitamin và khoáng chất được phối trộn, bảo quản trong tủ lạnh cho cá ăn dần (Trần Văn Dũng, 2017) Loại thức ăn này giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ thành thục sinh dục ở cá khoang
cổ tuy nhiên cũng tồn tại nhiều nhược điểm cần cải thiện liên quan đến vấn đề dinh dưỡng và an toàn sinh học Thức ăn tổng hợp khắc phục được hầu hết các hạn chế của thức ăn chế biến nhưng đến nay vẫn chưa có thức ăn công nghiệp chuyên dụng cho cá cảnh biển nói chung
Trang 18Như vậy, có thể nhận thấy sự đa dạng trong tập tính dinh dưỡng và thức ăn cho
cá khoang cổ nói riêng và cá cảnh biển nói chung Mỗi loại thức ăn có ưu nhược điểm riêng và thích hợp cho từng giai đoạn phát triển cá thể Trong quá trình ương nuôi, việc kết hợp các loại thức ăn với nhau là hết sức cần thiết nhằm lựa chọn loại thức ăn thích hợp cho từng giai đoạn, cân đối thành phần dinh dưỡng, khắc phục nhược điểm của mỗi loại thức ăn, giảm chi phí sản xuất, gia tăng hiệu quả kinh tế và kỹ thuật
1.1.4 Đặc điểm sinh sản
Cá khoang cổ có tập tính chuyển đổi giới tính từ đực sang cái với tính đực có trước phụ thuộc vào môi trường và cấu trúc xã hội của quần đàn (Allen, 1972; Fautin and Allen, 1992) Cá khoang cổ rất khó phân biệt đực cái nếu như chỉ dựa vào hình thái ngoài mà không giải phẫu do ngoại hình gần như giống hệt nhau Tuy nhiên, nếu bắt gặp một cặp sống ổn định ngoài tự nhiên thì con lớn hơn thường là con cái, con
nhỏ hơn là con đực Khi nghiên cứu cấu trúc giới tính của loài A percula ở vùng biển
Ấn Độ với 1.281 mẫu, Madhu et al (2006) xác định được tỷ lệ đực cái là 2,1 : 1,0 Trong đó, con đực chiếm ưu thế ở kích cỡ dưới 54,9 mm, và không có con cái ở nhóm kích cỡ dưới 39,9 mm Như vậy, ở nhóm kích thước lớn, hầu hết là cá cái trong khi cá đực có thể có kích cỡ đan xen Kích cỡ trung bình khi chuyển đổi giới tính từ đực sang cái là từ 55,0 mm, số lượng cá cái ở nhóm kích thước 55,0 - 59,9 mm trở lên chiếm ưu thế hơn cá đực, và tất cả cá thuộc nhóm kích thước trên 80,0 mm đều là cá cái Sự chuyển đổi giới tính ở cá khoang cổ tương đối phức tạp, chịu sự chi phối của hormone, môi trường và đồng loại
Cá khoang cổ cũng trải qua 5 - 6 giai đoạn phát triển buồng trứng tương tự như
các loài cá khác, được mô tả chi tiết bởi Ghosh et al (2012) trên loài A nigripes Khi
tham gia sinh sản, con đực và con cái đều có buồng trứng và tinh sào ở giai đoạn 5 Kích cỡ thành thục lần đầu ở cá cái là 55 mm và ở cá đực là 35 mm Cá khoang cổ
thành thục khi đạt 1 - 2 năm tuổi Khi thành thục, cá khoang cổ có tập tính sống theo
từng cặp đến suốt đời và con đực có tập tính chăm sóc và bảo vệ trứng Ở vùng biển nhiệt đới, cá khoang cổ sinh sản quanh năm Dù vậy, hoạt động sinh sản thường diễn
ra mạnh mẽ vào mùa xuân và hè khi nhiệt độ cao hơn và thời gian chiếu sáng dài hơn Chu kỳ sinh sản của cá khoang cổ trong năm tùy thuộc vào loài Khi nghiên cứu tập tính sinh sản của các loài cá khoang cổ trong điều kiện nuôi nhốt, Siva and Haq (2017)
Trang 19nhận thấy chu kỳ sinh sản của 5 loài cá khoang cổ A ocellaris, A nigripes, A
melanopus, A clarkii và A percula tương đối giống nhau, dao động từ 14 - 19 lần
đẻ/năm Theo Madhu et al (2006), hoạt động sinh sản của cá khoang cổ cam thường diễn ra vào những ngày trăng tròn hay trăng non
Trên cá khoang cổ cam, Madhu et al (2006) nhận thấy hệ số thành thục sinh dục (GSI) dao động từ 1,74 - 2,28 ở con cái và 0,62 - 1,64 ở con đực với đỉnh cao vào tháng Một Hoạt động sinh sản của cá diễn ra quanh năm Kích cỡ cá bố mẹ hay nhiệt
độ nước không ảnh hưởng đến hệ số thành thục trong khi đó chu kỳ trăng lại ảnh hưởng đáng kể Số lượng trứng mỗi lần đẻ của nhóm cá khoang cổ nói chung dao động
từ vài trăm đến vài ngàn trứng tùy thuộc vào kích cỡ cá bố mẹ, tình trạng dinh dưỡng của cá, số lần tham gia sinh sản (Wilkerson, 2001) Khi nghiên cứu sức sinh sản thực
tế của năm loài cá khoang cổ, Siva and Haq (2017) nhận thấy sức sinh sản của cá dao
động từ 405 - 810 trứng/lần đẻ, cao nhất ở loài A clarkii (800 trứng/lần đẻ), trung bình
ở cá khoang cổ cam (600 trứng/lần đẻ) và thấp nhất ở loài loài A melanopus (400
trứng/lần đẻ) Trứng cá thường có hình elip, có cuống ngắn dính vào giá thể, kích thước trứng dao động từ 2,2 - 3,1 mm chiều dài và 1,1 - 1,3 mm chiều rộng
Hoạt động sinh sản thường diễn ra sau khoảng vài tháng sau khi ghép đôi, cá biệt có thể kéo dài đến một năm Cá đực và cá cái thể hiện nhiều tập tính sinh sản đặc trưng như: ve vãn, làm tổ đẻ trứng trên giá thể Khi con cái đẻ trứng, con đực bơi theo sau và thụ tinh cho trứng Trong điều kiện chăm sóc tốt, chu kỳ sinh sản của cá diễn ra
từ 15 - 40 ngày/lần Thời gian đẻ trứng thường diễn ra vào ban ngày, buổi sáng 8h00 - 9h00 hoặc chiều 15h00 - 16h00, kéo dài từ 30 - 60 phút Sau khi đẻ, trứng được chăm sóc và bảo vệ bởi con đực Trong khi đó, con cái chủ yếu tăng cường hoạt động ăn sau khi đẻ (Siva and Haq, 2017; Trần Văn Dũng, 2017)
1.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống cá khoang cổ trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
Theo Rhyne et al (2012) và Wabnitz et al (2003), từ năm 1997 - 2012, đã có hơn 2.500 loài sinh vật cảnh biển được mua bán trên thị trường, trong đó cá chiếm hơn 70% Tổng số lượng cá thể được mua bán ước tính khoảng 46 triệu con, giá trị khoảng
300 triệu USD/năm trong khi tổng giá trị của toàn ngành khoảng 18 - 20 tỷ USD Tốc
độ tăng trưởng bình quân đạt khoảng 10%/năm Mặc dù vậy, giá trị của các đối tượng
Trang 20cá cảnh biển mới chỉ chiếm 10% tổng giá trị cá cảnh nói chung còn lại chủ yếu là cá cảnh nước ngọt Cá cảnh biển chủ yếu được khai thác từ vùng nhiệt đới thuộc Đông Nam Á, Thái Bình Dương, Caribe và Biển Đỏ Philippines, Indonesia, Solomon Islands, Sri Lanka, Australia, Fiji, Maldives và Palau là các quốc gia có sản lượng xuất khẩu lớn Philippines và Indonesia là hai nước xuất khẩu cá cảnh biển lớn nhất thế giới, chiếm tới 85% lượng cá cảnh biển xuất khẩu vào Mỹ và Châu Âu trong khi đó
Mỹ là nước nhập khẩu sinh vật cảnh lớn nhất thế giới Các đối tượng được ưa chuộng gồm cá cảnh biển, giáp xác, san hô và động vật không xương sống
Trong số này, chỉ có khoảng 1% cá cảnh biển có nguồn gốc từ sinh sản nhân tạo, còn lại là từ tự nhiên Tuy nhiên, ngành công nghiệp thủy sinh vật cảnh phát triển cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến cạn kiệt nguồn lợi, phá hủy hệ sinh thái tự nhiên, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, lây nhiễm mầm bệnh Nuôi trồng thủy sản được coi là một trong những giải pháp tích cực; trong đó có sản xuất giống nhân tạo, đặc biệt là các loài cá cảnh biển
Nghề nuôi cá cảnh có nguồn gốc khá lâu đời, tập trung chủ yếu vào các đối tượng cá nước ngọt Mặc dù vậy, nghề nuôi cá cảnh mới chỉ thực sự phát triển trong vài chục năm trở lại đây Cho đến nay, nhiều đối tượng cá cảnh biển đã được nghiên cứu, sản xuất giống nhân tạo thành công nhưng vẫn chiếm tỷ lệ vô cùng thấp, chỉ 1%
Cá khoang cổ là một trong những nhóm cá cảnh biển đã được nghiên cứu, sản xuất giống thành công nhất do thích ứng tốt với điều kiện nuôi nhốt và chu kỳ sinh sản ngắn Hiện nay, nhiều quốc gia tập trung nghiên cứu chuyên sâu về hóm cá này với các lĩnh vực đang dạng từ sinh sản nhân tạo đến các vấn đề về di truyền và đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (Calado et al., 2017)
Cá khoang cổ được khai thác từ các vùng rạn san hô vùng nhiệt đới, sử dụng các phương pháp khai thác cả bền vững (lặn bắt) và không bền vững (dùng thuốc độc) Việc nghiên cứu khép kín vòng đời của nhóm cá này trong điều kiện nhân tạo là rất cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và giảm thiểu các tác động đến nguồn lợi cá
tự nhiên Các nghiên cứu về dinh dưỡng và sản xuất thức ăn công nghiệp cho cá khoang cổ nói riêng và cá cảnh biển nói chung còn hạn chế nên vẫn phải sử dụng thức
ăn của cá cảnh nước ngọt và cá biển (Calado et al., 2017) Kỹ thuật sinh sản nhân tạo
cá khoang cổ được nghiên cứu và hoàn thiện tuy nhiên chỉ sử dụng chủ yếu là phương
Trang 21pháp cho đẻ tự nhiên Các biện pháp kích thích sinh sản trên cá nước ngọt và cá biển bằng hormone tỏ ra không hiệu quả và không cần thiết trên cá khoang cổ do kích thước nhỏ, khó xác định liều lượng, khó thao tác và dễ gây căng thẳng cho cá (Ostrowski and Laidley, 2001) Một trong những khó khăn trong sinh sản nhân tạo cá khoang cổ là hiện tượng mất trứng do nhiều nguyên nhân Việc tách trứng ra ấp riêng
là một giải pháp nhưng lại đối mặt với các vấn đề nhiễm khuẩn và tỷ lệ nở thấp (Sreeraj, 2002)
Kỹ thuật ương cá khoang cổ được phát triển dựa trên các nghiên cứu về ương
ấu trùng cá biển nói chung Tuy nhiên, quy mô ương thường nhỏ hơn nhiều sử dụng các bể kính có kích thước vài chục đến vài trăm lít Các loại thức ăn và chế độ cho ăn được áp dụng tương tự như ương các loài cá biển Thành phần thức ăn là sự kết hợp của tảo, luân trùng, Copepoda, Artemia, thức ăn chế biến và thức ăn tổng hợp Chế độ cho ăn có sự khác biệt giữa các giai đoạn và loài khác nhau Việc kết hợp thức ăn sống
và thức ăn tổng hợp đã mang lại một số thành công nhất định trong ương nuôi cá cảnh biển, nhất là cá khoang cổ cam, loài cá này có thể sử dụng thức ăn tổng hợp từ ngày thứ 7 – 9 (Gordon et al., 1998)
1.2.2 Tại Việt Nam
Việt Nam nằm trong số các quốc gia nhiệt đới có điều kiện tự nhiên thuận lợi, với nhiều bãi san hô lớn nhỏ trải dài từ bán đảo Sơn Trà đến Hà Tiên, là nơi sinh sống của nhiều nhóm cá cảnh biển có giá trị cao Các nhà nghiên cứu đã xác định được 635 loài cá thuộc 62 họ, phong phú nhất là họ cá thia chiếm tới 91 loài (Hội Nghề cá Việt Nam, 2015) Khi nghiên cứu về thành phần loài cá khoang cổ và cá hải quỳ ở vùng biển Nha Trang, Hà Lê Thị Lộc (2005) đã xác định được 5 loài gồm khoang cổ đỏ, nemo, cam, đen đuôi vàng, yên ngựa và 8 loài hải quỳ
Nguồn cá cảnh biển cung cấp cho thị trường nước ta hiện nay chủ yếu được khai thác từ vịnh Nha Trang, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Cá cảnh biển thường được khai thác từ tháng 3 - 9, ước tính đạt 100.000 con/tháng Cá được khai thác chủ yếu bằng các phương pháp thủ công là chủ yếu, một số ngư dân sử dụng thuốc nổ và chất độc gây hủy hại rạn san hô Các loài
cá có nhu cầu tiêu thụ lớn gồm cá mao tiên, cá nàng đào, cá cá hoàng gia, cá hoàng đế,
cá khoang cổ Giá cả dao động từ vài trăm nghìn đến dưới một triệu đồng/con Tổ
Trang 22chức IUCN đã liệt nhiều loài cá cảnh biển, trong đó có nhóm cá khoang cổ và cá ngựa, vào danh mục những loài có khả năng biến mất do tác động của biến đổi khí hậu và bị khai thác quá mức (IUCN, 2010) Nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cá cảnh biển nói chung và cá khoang cổ nói riêng là một hướng đi tích cực Theo thống kê, nước ta
có trên 500 cơ sở sản xuất giống và nuôi cá cảnh, tập trung ở một số đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hà Nội, Đà Nẵng và Khánh Hòa Nước ta hiện xuất khẩu trên 70 loài cá cảnh, tới 52 quốc gia tuy nhiên sản lượng cá cảnh biển chỉ chiếm 15% Mục tiêu đến năm 2020, lượng cá cảnh sản xuất từ 150 - 180 triệu con, xuất khẩu 30 - 40%, giá trị đạt 40 - 50 triệu USD (Hội Nghề cá Việt Nam, 2015)
Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá khoang cổ đã được quan tâm nghiên cứu ở nước ta từ năm 2005 Hà Lê Thị Lộc (2011) đã nghiên cứu cơ sở sinh học, sinh thái phục vụ cho sinh sản nhân tạo cá khoang cổ và đã sản xuất giống nhân tạo thành công loài cá khoang cổ đỏ và cá khoang cổ nemo Kết quả đã sản xuất được hơn 10.000 con giống xuất khẩu, thả bổ sung tái tạo nguồn lợi Năm 2007 - 2010, Viện Hải dương học Nha Trang đã tiến hành nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm 6 loài cá cảnh có giá trị xuất khẩu, gồm 3 loài cá cảnh biển (cá khoang cổ nemo, cá ngựa vằn, cá thia đồng tiền) và 3 loài cá cảnh nước ngọt (cá dĩa,
cá neon và cá chép koi) Trần Thị Lê Trang (2013) và Trần Văn Dũng (2017) Trường Đại học Nha Trang cũng đã nghiên cứu sản xuất giống thành công cá khoang cổ cam
từ năm 2013 - 2017 Các đối tượng cá biển khác cũng được quan tâm nghiên cứu như
cá bá chủ (Pterapogon kauderni), cá bắp nẻ xanh (Paracanthurus hepatus) và cá ngựa
(Nguyễn Minh Sơn, 2015; Huỳnh Minh Sang, 2017) Về cơ bản, mức độ thành công trong sản xuất giống nhân tạo cá cảnh biển ở nước ta còn rất thấp và cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất giống nhân tạo cá khoang cổ
1.3.1 Cá bố mẹ
Việc sản xuất giống trên nhóm cá cảnh nói chung gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Thứ nhất, sự khác biệt lớn giữa môi trường tự nhiên, tại các rạn san hô, vốn rất ổn định với điều kiện nuôi nhốt thể tích nhỏ, môi trường biến động lớn, làm cá đưa vào nuôi nhân tạo dễ bị stress, hao hụt, khó thành thục và đẻ trứng (Trần Văn Dũng, 2017) Thứ hai, kỹ thuật kích thích sinh sản nhân
Trang 23tạo bằng hormone không hiệu quả trên cá khoang cổ do nhiều nguyên nhân trong khi các biện pháp kích thích sinh sản tự nhiên đôi khi tỏ ra không ổn định (Calado et al., 2017) Thứ ba, cơ chế chuyển đổi giới tính phức tạp, chưa được nghiên cứu đầy đủ, các phương pháp đánh giá sự thành thục sinh dục ở cá khoang cổ cũng gặp rất nhiều khó khăn (Casas et al., 2016) Các vấn đề này là thách thức lớn trong nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá khoang cổ nói riêng và nhiều loài cá cảnh biển nói chung
Sống trong điều kiện nuôi nhốt, thể tích nhỏ, sử dụng bể kính trong suốt là chủ yếu, cá khoang cổ rất nhạy cảm với các nhân tố gây stress Các nhân tố gây stress phổ biến có thể kể đến như biến động môi trường, thiếu nơi trú ẩn, hệ thống nuôi không phù hợp, thiếu hụt dinh dưỡng, tiếng ồn, ánh sáng, các thao tác trong quá trình chăm sóc, quản lý Tất cả các yếu tố này làm cho cá bố mẹ khó hoặc không thành thục sinh dục mặc dù nuôi một thời gian dài Trường hợp cá đẻ trứng, tỷ lệ hao hụt trứng trong suốt quá trình ấp rất cao (Trần Văn Dũng, 2017) Các nghiên cứu về nguyên nhân và giải pháp khắc phục hiện tượng mất trứng trong sản xuất giống cá cảnh biển vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ gây khó khăn cho sản xuất giống nhóm cá này
1.3.2 Dinh dưỡng
Thức ăn cho cá bố mẹ và ương nuôi cá con cũng là một trong những khó khăn ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất giống nhân tạo cá khoang cổ Ngoài tự nhiên, cá khoang cổ có điều kiện tiếp cận với nguồn thức ăn đa dạng, phong phú giúp chúng thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng ở các giai đoạn khác nhau Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi nhốt, cá hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn thức ăn được cung cấp Nhiều loại thức
ăn được sử dụng tùy mỗi quy trình sản xuất nhưng đến nay vẫn chưa có loại thức ăn chuyên dụng cho các giai đoạn khác nhau của cá khoang cổ như trên các loài cá biển làm thực phẩm Trong khi đó, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chế độ dinh dưỡng không phù hợp là nguyên nhân trực tiếp kéo dài thời gian thành thục, giảm sức sinh sản, chất lượng sản phẩm sinh dục, giảm tỷ lệ nở, tỷ lệ sống và gia tăng tỷ lệ dị hình của ấu trùng, trong đó có cá khoang cổ đen đuôi vàng Thức ăn không phù hợp còn làm giảm sắc tố, cũng như giá trị thương mại của nhóm cá này (Binesh et al., 2013)
Ở giai đoạn ấu trùng và cá giống, việc cung cấp thức ăn phù hợp, cả về loại, thành phần dinh dưỡng, kích cỡ và thời điểm cho ăn đều ảnh hưởng đến kết quả ương nuôi Với cá khoang cổ, việc cung cấp luân trùng và tảo trong 3 - 5 ngày đầu, tiếp theo
Trang 24là nauplius Artemia và thức ăn tổng hợp góp phần cải thiện đáng kể tỷ lệ sống, mức độ phân đàn của ấu trùng (Gordon, 1999) Thiếu hụt thức ăn là nguyên nhân làm kéo dài thời gian biến thái và giảm kích cỡ của ấu trùng (Green and McCormick, 1999) Các chất dinh dưỡng thiết yếu như axít béo không no, axít amin và vitamin cũng ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống và các hoạt động sinh lý của ấu trùng
do chúng liên quan trực tiếp đến sự hình thành và hoàn thiện chức năng của nhiều cơ quan quan trọng trong quá trình phát triển cá thể Ngoài ra, do tập tính chuyển đổi thức
ăn, việc xác định thời điểm để cung cấp thức ăn thích hợp cũng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả ương nuôi ấu trùng và cá giống (Trần Văn Dũng và Trần Thị Lê Trang, 2017)
1.3.3 Môi trường
Các thông số chất lượng nước bao gồm thủy lý, thủy hóa và thủy sinh đều ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến kết quả sản xuất giống cá khoang cổ Do là động vật biến nhiệt, sự thành thục sinh dục, thời gian phát triển phôi, tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhiệt độ nước Trên cá khoang cổ đen đuôi vàng, Ye et al (2011) nhận thấy ở nhiệt độ 23oC, thời gian biến thái ấu trùng kéo dài hơn so với nhiệt độ 26 và 29oC Tuy nhiên, kích thước của ấu trùng lại giảm tỷ lệ thuận với sự gia tăng nhiệt độ trong khoảng từ 23 - 29oC Ngoài phạm vi này, cá giảm hoạt động và chết dần Nhiệt độ thích hợp cho cá khoang cổ nói chung từ 26 - 28oC
Sự thay đổi nhiệt độ, dù chỉ 1oC, cũng có thể gây sốc và làm chết ấu trùng (Monica and Vanessa, 2014)
Sống trong môi trường có tính ổn định cao như rạn san hô, trong điều kiện nhân tạo, độ mặn hay độ muối là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, tỷ lệ sống,
sự điều hòa áp suất thẩm thấu, tiêu hao năng lượng và các hoạt động trao đổi chất khác của cá khoang cổ Theo Monica and Vanessa (2014), cá khoang cổ đen đuôi vàng là loài hẹp muối cao, thích hợp với phạm vi độ mặn từ 20 - 40‰ Mặc dù vậy, trên cá khoang cổ nemo, Kumar and Balasubramanian (2009) đã sản xuất giống thành công bằng nguồn nước cửa sông với độ mặn chỉ 15‰ Điều này đã khẳng định khả năng thích ứng với độ mặn thấp của cá khoang cổ nếu được thuần hóa tốt Các nghiên cứu
về ảnh hưởng của độ mặn lên nhóm cá khoang cổ ở nước ta đều nhận thấy cá có thể sống được ở độ mặn 10 - 40‰, tối ưu từ 30 - 35‰ Ngoài phạm vi này, cá sinh trưởng kém và hao hụt dần (Trần Văn Phước và cộng sự, 2010; Thái Quốc Đại, 2010; Trần Văn Dũng, 2017)
Trang 251.3.4 Các yếu tố khác
Hệ thống nuôi cũng ảnh hưởng đáng kể đến kết quả sản xuất giống nhân tạo cá cảnh biển Hệ thống nước tĩnh và tuần hoàn được sử dụng phổ biến trong nuôi cá khoang cổ Trong đó hệ thống nước tính thích hợp cho nuôi thí nghiệm còn hệ thống tuần hoàn phù hợp với nuôi cảnh Mật độ ương cũng là yếu tố cần được quan tâm nghiên cứu nhằm tối ưu hóa hiệu quả sản xuất Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng sự gia tăng mật độ nuôi tỷ lệ nghịch với sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Ương nuôi ở mật độ cao làm giảm không gian sống, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn và suy giảm chất lượng nước (Tibile et al., 2016; Thái Quốc Đại, 2010) Trong phạm vi 1 - 5 con/L, mật độ nuôi thấp cho tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống cao hơn so với mật độ cao ghi nhận trên loài cá khoang cổ cam (Chambel et al., 2015; Võ Thị Diễm và cộng sự, 2018)
Bệnh cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất giống nhân tạo cá khoang cổ Các tác nhân gây bệnh được báo cáo trên nhóm cá này gồm vi rút, vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng Trong đó, nhóm ký sinh trùng gây hại nhiều nhất,
đặc biệt là Brooklynella spp., Uronema marinum, Amyloodinium ocellatum và
Cryptocaryon irritans Các loại ký sinh trùng ngoại ký sinh này gây hại bằng cách bám
vào mang, phá huỷ các tơ mang, gây sưng phồng mang, cản trở hô hấp, giảm ăn, làm thân cá chuyển màu bạc người nuôi hay gọi là bệnh đốm trắng, cá ngứa ngáy cọ vào giá thể gây nhiễm trùng thứ cấp, cá chết rải rác sau 4 - 5 ngày nhiễm bệnh (Hà Lê Thị Lộc, 2011) Các tác nhân còn lại cũng được báo cáo trên cá khoang cổ gồm nấm
Ichthyophonus hoferi, vi rút hoại tử thần kinh, vi khuẩn đường ruột có thể gây chết
rải rác đến hàng loạt (Klinger and Floyd, 1996; Binesh et al., 2013) Nhìn chung, các nghiên cứu về bệnh và các biện pháp phòng trị trên cá khoang cổ còn hạn chế, nhất là điều kiện nước ta
Trang 26CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 02/2019 đến tháng 06/2019 trên đối tượng
cá khoang cổ cam (Amphiprion percula Lacepede, 1802) tại Trại thực nghiệm Sản
xuất giống cá cảnh biển, tổ 13, Đường Đệ, phường Vĩnh Hòa, Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
2.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu quy trình sản xuất giống cá khoang cổ cam Amphiprion
percula (Lacepede, 1802) tại Trại sản xuất giống cá cảnh Đường Đệ,
Vĩnh Hòa, Nha Trang - Khánh Hòa
Kỹ thuật cho đẻ, thu
và ấp trứng
Kỹ thuật ương ấu trùng và cá con
- Kết quả sinh sản
- Kết quả ương nuôi
- Các thông số môi trường
Kết luận và đề xuất ý kiến
Trang 272.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập dựa trên các tài liệu đã được công bố trong và ngoài nước bao gồm: các đề tài dự án nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo; các bài báo khoa học công bố trên các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước; các báo cáo khoa học công bố trong các hội nghị, hội thảo khoa học trong và ngoài nước liên quan đến lĩnh vực sản xuất giống và nuôi thủy sinh vật cảnh, nhất là nhóm cá khoang
Các kết quả bước đầu trong sinh sản nhân tạo cá khoang cổ yên ngựa được công
bố bởi Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga, chi nhánh Nha Trang
Các thông tin khác được thu thập thông qua quá trình phỏng vấn trao đổi chuyên môn với các cán bộ và công nhân sản xuất giống tại Trại sản xuất giống cá cảnh Đường Đệ
2.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua quá trình trực tiếp thực tập, sản xuất giống cá khoang cổ cam tại Trại sản xuất giống cá cảnh Đường Đệ Các nhóm thông tin thu thập chính gồm:
Vị trí trại sản xuất giống, các điều kiện tự nhiên, môi trường xung quanh, các yếu tố tác động vào quá trình sản xuất như thời tiết, khí hậu, mưa bão
Hệ thống công trình sản xuất như: hệ thống cấp nước, bể chứa nước, khung giá
đỡ, bể nuôi vỗ cá bố mẹ, hệ thống thoát nước, hệ thống lọc sinh học, mái che, hệ thống nuôi thức ăn sống, hệ thống bể ấp nở, ương ấu trùng và cá con
Các trang thiết bị phục vụ sản xuất gồm: các thiết bị đo môi trường, các loại vợt, ống hút, giá thể lọc sinh học, giá thể làm tổ đẻ, xô chậu, dụng cụ/thiết bị đo môi trường, đo kích thước cá, máy phát điện, máy sục khí, máy tách đạm
Trang 28Kỹ thuật chuẩn bị hệ thống sản xuất gồm: vệ sinh hệ thống trại, lắp đặt hệ thống cấp nước, sục khí Phương pháp xử lý nước gồm: các loại hóa chất xử lý, cách xử lý, liều lượng hóa chất, thời gian xử lý, lưu giữ nước sau khi xử lý
Kỹ thuật thu gom cá bố mẹ, thuần dưỡng, ghép đôi, nuôi vỗ cá bố mẹ, cho ăn, chăm sóc quản lý, chế độ siphon, thay nước, đánh giá sự thành thục, mô tả các tập tính sinh sản của cá bố mẹ, hoạt động đẻ trứng, chăm sóc trứng, ấp nở, thu ấu trùng
Kỹ thuật chuẩn bị thức ăn cho cá bố mẹ, ấu trùng và cá con: chuẩn bị nguyên liệu, cách chế biến, phối trộn, xay nghiền, tạo thức ăn, bảo quản và kỹ thuật cho ăn Kỹ thuật nuôi thức ăn sống gồm: nuôi tảo, luân trùng, Copepoda, kỹ thuật ấp nở bào xác
và thu nauplius Artemia Kỹ thuật thu, xử lý thức ăn sống trước khi cho ấu trùng ăn
Kỹ thuật thu và ấp trứng: chuẩn bị bể ấp, xác định thời điểm thu chuyển trứng, phương pháp ấp trứng, cách điều khiển chế độ sục khí, ấp nở và thu ấu trùng, chuyển giá thể lại bể sản xuất, xử lý các sự cố liên quan đến trứng không nở
Kỹ thuật ương ấu trùng từ giai đoạn 0 - 30 ngày tuổi và từ 30 - 60 ngày tuổi Kỹ thuật chuẩn bị bể ương, cấp nước, cấp tảo, cho ăn, chăm sóc, quản lý môi trường, siphon thay nước, phòng trị bệnh nếu có
2.2.2.3 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu
Phương pháp xác định các thông số môi trường nước:
Các yếu tố môi trường trong các hệ thống nuôi được xác định định kỳ, chi tiết tùy thuộc vào từng yếu tố (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Phương pháp xác định các thông số môi trường Thông số Dụng cụ đo Tần suất đo Đơn vị đo Độ chính xác
Nhiệt độ Nhiệt kế thủy
ngân
2 lần/ngày, 6h00 và 14h00
o
Độ mặn
Khúc xạ kế ATAGO, Nhật Bản
Trang 29Phương pháp xác định một số chỉ tiêu sinh sản:
Trang 30Hình 2.2 Xác định kích thước cá bằng giấy đo kỹ thuật
Tốc độ tăng trưởng chiều dài đặc trưng được tính theo công thức:
Với Se là số cá còn lại khi kết thúc thí nghiệm (con); Si là số cá ban đầu (con)
Phương pháp định lượng ấu trùng, cá con:
Số lượng ấu trùng sau khi nở được định lượng bằng cốc đong (cốc đốt) 100 mL Trước khi định lượng ấu trùng, bể ương được che kín bằng túi nylon màu đen, tăng sục khí để ấu trùng phân tán đều Dụng cụ định lượng bao gồm: cốc đong 100 mL, muỗng đếm ấu trùng, thước xác định kích thước bể, dụng cụ ghi chép số lượng ấu trùng Sau khi quan sát ấu trùng phân bố đều trong bể, dùng cốc đong xác định tại các vị trí khác nhau trong bể Số lần định lượng là 12 lần, ghi chép số lượng mỗi lần đếm, sau đó loại
bỏ 2 mẫu có số lượng ấu trùng lớn nhất và nhỏ nhất Xác định số lượng ấu trùng trung bình có trong 100 mL, nhân với thể tích bể để ước tính toàn bộ số lượng ấu trùng Số lượng cá con 30 ngày tuổi và 60 ngày tuổi được đếm thủ công trước khi chuyển giai đoạn ương hoặc xuất bán Dùng tô nhựa nhỏ múc cá con sang bể mới kết hợp đếm toàn
bộ số lượng cá trong bể