Hơn nữa do sự phân bố rộng của nghệ nên cũng chưa đánh giá được năng suất, chất lượng vùng trồng điều này gây khó khăn đối với việc mở rộng diện tích trồng nghệ có hiệu quả cho nên vấn đ
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
––––––––
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
THÀNH PHẦN CÁC CURCUMINOID VÀ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HOÁ CỦA DỊCH CHIẾT TỪ CỦ NGHỆ VÀNG
CURCUMA LONGA L TRỒNG TẠI MỘT SỐ VÙNG
NGUYÊN LIỆU Ở VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: TS Phan Vĩnh Thịnh Sinh viên thực hiện: Ngô Thị Trà Mi
Mã số sinh viên: 57137275
Khánh Hoà - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
––––––––
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
THÀNH PHẦN CÁC CURCUMINOID VÀ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HOÁ CỦA DỊCH CHIẾT TỪ CỦ NGHỆ VÀNG
CURCUMA LONGA L TRỒNG TẠI MỘT SỐ
VÙNG NGUYÊN LIỆU Ở VIỆT NAM
GVHD: TS Phan Vĩnh Thịnh SVTH: Ngô Thị Trà Mi
MSSV: 57137275
Khánh Hoà – 06/2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đồ án tốt nghiệp “Thành phần các curcuminoid và hoạt tính
chống oxy hoá của dịch chiết từ củ nghệ vàng Curcuma longa L trồng tại một số vùng
nguyên liệu ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của bản thân Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong đồ án đã được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu, kết quả trình bày trong đồ án là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kì công trình nào khác Ngoài ra, trong đồ án còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Nha Trang, ngày 12 tháng 7 năm 2019
Sinh viên
Ngô Thị Trà Mi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đến bộ môn Công nghệ
kỹ thuật hóa học - khoa Công nghệ thực phẩm trường Đại học Nha Trang đã quan tâm, dạy dỗ, chỉ bảo tận tình chu đáo để em có thể hoàn thành đề tài này
Em cảm ơn đến các thầy cô là lãnh đạo Trường Đại học Nha Trang, Phòng thí nghiệm khu Công Nghệ Cao, các Khoa, Phòng ban chức năng và Trung tâm Kiểm nghiệm Dược Khánh Hoà đã giúp đỡ, tạo điều kiện trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Đặc biệt, em cảm ơn đến thầy TS Phan Vĩnh Thịnh đã tạo điều kiện phòng
ốc, trang thiết bị tốt nhất để em nghiên cứu và tiến hành quá trình hoàn thành đề tài:
“Thành phần các curcuminoid và hoạt tính chống oxy hoá của dịch chiết từ củ nghệ
vàng Curcuma longa L trồng tại một số vùng nguyên liệu ở Việt Nam”
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu và làm báo cáo nghiên cứu, khó tránh khỏi sai sót, rất mong quý thầy, cô bỏ qua Đồng thời, do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy, cô để em học hỏi hơn được nhiều kinh nghiệm cũng như có thêm kiến thức làm hành trang vững chắc trong tương lai
Em xin kính chúc quý thầy cô trường Đại học Nha Trang lời chúc sức khỏe, thành công trên con đường giảng dạy
Em xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang, ngày 12 tháng 7 năm 2019
Sinh viên
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC iii
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặc điểm phân bố của cây nghệ vàng Curcuma longa L 3
1.1.1 Nguồn gốc thực vật của cây nghệ vàng 3
1.1.2 Phân bố của nghệ vàng trên thế giới 5
1.1.3 Phân bố của nghệ vàng tại Việt Nam 6
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng củ nghệ 11
1.2.1 Giống 11
1.2.2 Thổ nhưỡng của vùng đất 11
1.2.3 Kĩ thuật trồng 11
1.2.4 Một số kỹ thuật khác 13
1.3 Đặc tính của các curcuminoid 14
1.3.1 Cấu trúc và tính chất 14
1.3.2 Hoạt tính chống oxy hóa 16
1.3.3 Ứng dụng của các curcuminod 17
1.4. Thu nhận các curcuminoid từ các vùng trồng Curcuma longa L trên thế giới và ở Việt Nam .17
1.4.1 Trên thế giới 17
1.4.2 Trong nước 21
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Dụng cụ- thiết bị- hoá chất 24
2.2.1 Dụng cụ- thiết bị 24
2.2.2 Hoá chất 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Bố trí thí nghiệm 24
2.3.2 Phương pháp xác định độ ẩm nguyên liệu 27
2.3.3 Phương pháp xác định hàm lượng tro 28
2.3.4 Phương pháp sắc kí bản mỏng TLC 28
2.3.5 Phương pháp đo phổ UV-Vis 29
2.3.6 Phương pháp xác định hàm lượng curcuminoid tổng số 29
2.3.7 Xác định hàm lượng polyphenol tổng số 29
2.3.8 Hoạt tính chống oxy hoá 29
2.3.9 Xác định khả năng khử 29
Trang 62.3.10 Sắc kí lỏng hiệu năng cao HPLC 29
2.3.11 Phương pháp xử lý số liệu 30
CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Độ ẩm của nguyên liệu 31
3.2 Hàm lượng tro của nguyên liệu 31
3.3 Phổ UV-Vis 32
3.4 Hàm lượng curcuminoid tổng số 32
3.5.Hàm lượng polyphenol tổng số 33
3.6 Khả năng khử 33
3.7 Hoạt tính chống oxy hoá 33
3.8 Sắc kí bản mỏng TLC 33
3.9 Sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC 34
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Hình hoa và cây nghệ vàng 3
Hình 1.2: Củ nghệ vàng 3
Hình 1.3: Ba thành phần chủ yếu trong curcuminoid 15
Hình 1.4: Công thức hóa học chung của curcuminoid 15
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 26
Hình 2.2 Củ nghệ tươi trồng tại các vùng nguyên liệu 27
Hình 2 4: Tách tinh dầu bằng phương pháp luộc 28
Hình 2.3: Nghệ sau khi tách tinh dầu bào sợi 28
Hình 2.5 Bột nghệ sau khi sấy của các vùng nguyên liệu 28
Hình 2.6 Bể chiết có hỗ trợ của sóng siêu âm 29
Hình 2.7 Dịch chiết các curcuminoid từ củ nghệ vàng 29
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm,
có nguồn tài nguyên động - thực vật đa dạng và phong phú, trong đó có rất nhiều loài cây cỏ đã được tổ tiên chúng ta sử dụng làm thức ăn và sử dụng làm thuốc cho tới tận ngày nay Trong đó, cây nghệ vàng là một cây thuộc trong danh sách cây dược liệu được
các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu tách chiết hợp chất curcumin trong củ nghệ vàng Curcuma longa L để tổng hợp các loại thuốc chữa bệnh hay ứng dụng vào mỹ phẩm,
thực phẩm
Curcumin là một hợp chất polyphenol tự nhiên có hoạt tính sinh học: chống oxy hóa, kháng nấm, kháng khuẩn và khả năng ứng dụng cao trong y học, như: khả năng chống ung thư, chống viêm khớp, chống thoái hóa, chống thiếu máu cục bộ và kháng viêm Trên thế giới, đã có các nghiên cứu về sử dụng curcumin trong điều trị ung thư, căn bệnh thế kỷ HIV, bệnh Alzheimer, hội chứng mạch vành cấp tính (ACS) Ở nước
ta, tuy trữ lượng nghệ khá dồi dào, nhưng việc sản xuất curcumin và đặc biệt các sản phẩm từ curcumin vẫn còn hạn chế
Với điều kiện khí hậu nhiệt đới như ở Việt Nam, nghệ được trồng khắp cả nước, đặc biệt ở các tỉnh như Đắk Lắk, Đắk Nông, Quảng Nam, Nghệ An, … nghệ phát triển tốt và cho sản lượng nghệ củ cao Do vậy, có thể nói Việt Nam có một nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất các chế phẩm curcumin có giá trị cao dùng trong công nghiệp thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm Hơn nữa do sự phân bố rộng của nghệ nên cũng chưa đánh giá được năng suất, chất lượng vùng trồng điều này gây khó khăn đối với việc mở rộng diện tích trồng nghệ có hiệu quả cho nên vấn đề khoa học cần quan tâm đến vùng trồng có chất lượng
Do đó, tôi chọn thực hiện đề tài: “Thành phần các curcuminoid và hoạt tính
chống oxy hoá của dịch chiết từ củ nghệ vàng Curcuma longa L trồng tại một số
vùng nguyên liệu ở Việt Nam” làm đồ án tốt nghiệp
Trang 102 Mục tiêu
Thu nhận các curcuminoid từ củ nghệ vàng (Curcuma longa L.) trồng ở các vùng
nguyên liệu ở Việt Nam và đánh giá hàm lượng các curcuminoid, khả năng chống oxy
của các dịch chiết thu nhận được
3 Nội dung nghiên cứu
Sử dụng sóng siêu âm hỗ trợ trích ly các curcuminoid từ củ nghệ vàng trồng tại một số vùng nguyên liệu ở Việt Nam: Hưng Yên, Nghệ An, Quảng Trị, Đắk Lắk, Đồng Nai
Xác định hàm lượng curcuminoid tổng số, hàm lượng polyphenol tổng số và thành phần tương đối của các curcuminoid trong các dịch chiết
Đánh giá khả năng chống oxy hoá của các mẫu dịch chiết
4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp chiết hỗ trợ sóng siêu âm
Phương pháp xác định độ ẩm, hàm lượng tro (khoáng) của nguyên liệu
Phương pháp phân lập thành phần các curcuminoid bằng sắc ký bản mỏng (TLC)
Phương pháp xác định hàm lượng các curcuminoid tổng số
Phương pháp xác định hàm lượng polyphenol tổng số
Phương pháp xác định khả năng chống oxy của các dịch chiết
Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)
5 Đối tượng nghiên cứu
Củ nghệ vàng (Curcuma longa L.) được thu từ các vùng nguyên liệu: Hưng Yên,
Nghệ An, Quảng Trị, Đắk Lắk, Đồng Nai
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Xác định hàm lượng các curcuminoid từ củ nghệ vàng trồng
ở Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để thu nhận curcumin
từ các vùng nguyên liệu tốt nhằm ứng dụng curcumin trong các sản phẩm chăm sóc da, thực phẩm và dược phẩm
Trang 11CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1 Đặc điểm phân bố của cây nghệ vàng Curcuma longa L
1.1.1 Nguồn gốc thực vật của cây nghệ vàng
Nghệ vàng có tên khoa học là Curcuma longa L thuộc họ gừng Zingiberaceae
hay còn có tên gọi khác là uất kim, khương hoàng Phần thân rễ của cây nghệ được gọi
là khương hoàng và phần rễ củ là uất kim[1]
Cây cao khoảng 0,6 đến 1 mét Lá có hình dài trái xoan, dài khoảng 45cm, rộng 18cm và hai mặt nhẵn Cuống lá có bẹ mang lông Hoa được mọc ra giữa các lá, hợp thành bông hình trụ, mang cán dài Lá bắc có màu trắng hay hơi lục Các lá bắc trên phớt tím nhạt Đài không đều Tràng hoa hình ống không đều, thùy giữa lớn hơn và có mũi nhọn Bầu có lông, vòi nhẵn [2]
Thân rễ thành củ có hình trụ hoặc hơi dẹt Củ chắc và nặng, dài 2 – 5 cm, đường kính 1 – 3 cm Mặt ngoài xám nâu, nhăn nheo Đôi khi còn lại vết tích của các nhánh và
rễ phụ Củ có mùi thơm hắc, vị cay Khi bẻ hoặc cắt ngang có màu vàng đến màu cam sẫm và thấy rõ hai vùng : vỏ và trụ giữa Trụ giữa chiếm chừng 2/3 bán kính củ[2, 24]
Hình 1.2 Hình hoa và cây nghệ vàng
Trang 12Cây nghệ vàng có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Tamil Nadu, phía đông nam Ấn
Độ, là loài cây hằng niên và rễ củ có thể tái sinh chồi mới trong nhiều năm, vì thế nó tập trung chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Cây nghệ thích hợp phát triển với điều kiện nhiệt đới, từ mực nước biển đến độ cao 1500m, thích nghi tốt trong khoảng nhiệt độ 20-300C và những vùng có lượng mưa 1500m hoặc ở vùng khác thì phải bù thêm nước bằng việc tưới tiêu với lượng nước tương đương Đặc biệt, cây nghệ vàng phát triển tốt nhất ở đất phù sa, đất mùn hay đất xốp và thích hợp việc tưới tiêu và thoát nước tốt[1,24,25]
Ở Việt Nam có khoảng 14 loài nghệ khác nhau (theo Gs.Ts Phạm Hoàng Hộ trong tài liệu Cây cỏ Việt Nam tập 3) được phân loại như sau: [3]
Curcuma domestica Val : Nghệ, uất kim, khương hoàng Được trồng nhiều ở
Quảng Nam, Quảng Bình, Đắk Nông,…
Curcuma aromatica Salisb : Nghệ trắng, nghệ rừng, được trồng nhiều ở Quảng
Bình
Curcuma aeruginosa Roxb : Nghệ ten-đồng Một số nơi ở miền Bắc hay gọi
nhầm là nghệ đen
Curcuma zedoaria (berg.) Christm : Ngải tím, nghệ đen
Curcuma xanthorrhiza Roxb : Nghệ rễ vàng trồng nhiều ở các tỉnh miền đông
Nam Bộ
Curcuma rubens: Ngải tía
Curcuma thorelii Gagn : Nghệ Thorel
Curcuma pireana Gagn : Bình tinh chét có ở Huế, Quảng Trị, Quảng Bình,
Quảng Nam
Curcuma elata Roxb : Mì tình rừng được trồng nhiều ở các tỉnh Tây Nguyên
Curcuma cochinchinensis Gagn : Nghệ Nam Bộ
Curcuma alismataefolia Gagn : Nghệ lá từ cô
Curcuma angustifolia Roxb : Nghệ lá hẹp được trồng nhiều ở Đắk Lắk
Curcuma parviflora Wal : Nghệ hoa nhỏ
Curcuma gracillima Gagn.: Nghệ mảnh
Trong đó, củ nghệ vàng được sử dụng chính trong dược liệu là Curcuma longa
L Đây cũng là đối tượng chọn nghiên cứu trong đề tài này
Trang 13Thành phần trong củ nghệ vàng gồm có các curcuminoid, tinh dầu nghệ dễ bay hơi, chất xơ, chất khoáng, protein, chất béo, lượng ẩm, và carbohydrate[1,24,26]
1.1.2 Phân bố của nghệ vàng trên thế giới
Cây nghệ vàng chủ yếu tập trung ở một số nước châu Á như: Ấn Độ, Trung Quốc, Myanma, Syrilanca, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam… Trong đó, Ấn Độ và Trung Quốc là hai nước có diện tích và sản lượng nghệ vàng lớn nhất thế giới[27]
Ấn Độ là nước đi đầu trong việc trồng, tiêu thụ cũng như xuất khẩu nghệ lớn nhất thế giới Chất lượng nghệ Ấn Độ cũng được xem là hấp dẫn nhất thế giới bởi hàm lượng curcumin cao Tại Ấn Độ diện tích trồng nghệ khoảng 1,49 triệu ha với sản lượng hằng năm là 5,7 triệu tấn, cung ứng 600.000 tấn bột nghệ chiếm 75% sản lượng bột nghệ trên thế giới Trong đó, Andhra Pradesh được sản xuất tập trung với diện tích 64.100 ha, sản lượng 346.000 tấn, đây cũng là khu thương mại lớn nhất ở Châu Á và Thế giới về nghệ
Trang 14Tiếp theo là Tamil Nadu, Orissa, Karnataka, và Tây Bengal Những nghiên cứu về trồng trọt ở Ấn độ cho thấy nghệ vàng có thể trồng ở rất nhiều vùng đất khác nhau, tuy nhiên loại đất thích hợp nhất cho cây nghệ vàng sinh trưởng và phát triển là đất có pH 5 – 7,5, tầng canh tác dầy 150cm, nhiệt độ trung bình 20 – 300C, thâm canh cao, năng suất củ tươi đạt 30-33tấn/ha[27].
Ở Trung Quốc, cây nghệ vàng cũng được nghiên cứu về kỹ thuật canh tác rất chặt chẽ nhất nhất là trong việc bón phân và kỹ thuật trồng Thường nghệ được trồng vào cuối tháng 3 và trồng chủ yếu ở các tỉnh phía nam và đông nam của Trung Quốc như Quảng Tây, Quảng Đông, Chiết Giang, Tứ Xuyên…và trồng trên đất sét pha cát, tầng canh tác dầy 25cm đất thoát nước tốt, khí hậu ẩm và có nhiều nắng Lượng nghệ giống 1.100kg -2.000kg/ha, đào lỗ sâu từ 6-8cm, khoảng cách trồng 33x40cm và 27x 33cm trồng so le, thường trồng 2-3 củ/ 1lỗ Năng suất trung bình ở Trung Quốc đạt 27-30 tấn/ha[4]
Ở Mỹ, nghệ vàng được trồng nhiều ở bang Florida và được trồng vào tháng 4 – tháng 5 hàng năm, đào hố sâu 10cm và sử dụng màng phủ nilông để trồng trọt nhằm hạn chế cỏ dại và thoát hơi nước Phân bón chủ yếu sử dụng để trồng nghệ là phân hỗn hợp NPK cân đối loại 15:15:15 và 16:16:16, hạn chế sử dụng N, trước khi trồng có bổ sung than bùn Các nhà chọn giống của Mỹ đã lai tạo và chọn ra rất nhiều giống nghệ chịu rét, mà phần lớn là lấy các giống nghệ có những đặc điểm nổi trội về năng suất, hàm lượng curcumin và tính chống chịu cao với điều kiện bất thuận ở một số vùng trồng nghệ nổi tiếng trên thế giới như Ấn Độ, Thái Lan, Myanma… làm bố mẹ và đã lai tạo thành công một số giống nghệ chịu được lạnh từ âm 8-100C dưới băng tuyết Thường những giống nghệ này có bộ lá rất to và dài, lá có màu xanh thẫm và được trồng rất sâu dưới mặt đất (8-10cm) [4]
1.1.3 Phân bố của nghệ vàng tại Việt Nam
Cây nghệ là một giống cây dễ trồng, có thể thích nghi với đa dạng vùng miền, các địa hình trên lãnh thổ Việt Nam vì Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều Từ Bắc chí Nam, từ đồng bằng ven biển đến vùng núi cao 1500m, chỉ cần một nhánh nghệ vô tình hay hữu ý xuất hiện nơi vườn nhà thì người ta cũng có thể thu được từ 1 – 2 kg nghệ Từ xưa nay, cây nghệ đã được cha ông ta dùng làm dược liệu và thực phẩm Hiện nay, khoa học đã chứng minh curcumin có trong củ nghệ có rất
Trang 15nhiều tác dụng được ứng dụng rộng rãi trong mỹ phẩm, dược phẩm và thực phẩm Chính
vì thế, từ các thói quen canh tác truyền thống, nghệ thường chỉ được trồng ở những mảnh đất tận dụng nhằm phục vụ cho gia đình, nhu cầu ẩm thực Nhưng gần đây, cây nghệ vàng đã được chuyển sang trồng dưới quy mô lớn và được trồng hầu hết các tỉnh thành
ở nước ta
Tuy nhiên, ở nước ta chưa có nghiên cứu nào về chọn giống nghệ cho năng suất
và hàm lượng curcumin cao cũng như xác định vùng trồng phù hợp và xây dựng quy trình trồng nghệ vàng Ngay cách sử dụng giống cũng chưa có giống đặc hiệu mà chủ yếu vẫn sử dụng những giống địa phương Vì thế, tùy theo từng điều kiện khí hậu, thỗ nhưỡng của 3 vùng Bắc, Trung, Nam củ nghệ vàng cho năng suất khác nhau cũng như hàm lượng curcumin từng vùng khác nhau
a) Các vùng trồng nghệ vàng phía bắc Việt Nam
Miền Bắc nghệ thường trồng vào tháng 2 - 4 [5] Được trồng dưới quy mô lớn chủ yếu ở các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Kạn, Hưng Yên, Hoà Bình… diện tích trồng nghệ thì ngày tăng lên
Hưng Yên là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, trong vùng kinh
tế trọng điểm phía Bắc Đây là tỉnh đồng bằng xen đồi thấp, không có rừng, núi và biển nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm bốn mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông Mùa mưa kéo dài từ cuối tháng 4 đến tháng 10 hàng năm Lượng mưa trung bình 1.450 - 1.650 mm/năm, nhiệt độ trung bình 23,20C [6] Đây là một tỉnh có tiềm năng về khí hậu, đất đai để phát triển cây nghệ vàng Theo tạp chí Báo Hưng Yên, xã Chí Tân là một xã nằm ven đê sông Hồng, đất canh tác phần lớn là pha cát, không phù hợp thâm canh lúa nước nhưng lại thích hợp trồng cây nghệ đen, nghệ vàng và được mệnh danh
là thần dược làm nên dấu ấn mới cho vùng đất này Khai thác đặc tính thổ nhưỡng này,
từ xa xưa người dân nơi đây đã chọn trồng cây nghệ tạo nguồn thu nhập bảo đảm cuộc sống cho mình Nơi đây có thể được coi là vùng chuyên canh nghệ ở Việt Nam với diện tích trồng nghệ hàng năm 300ha, sản lượng 5000 tấn/năm và năng suất trung bình đạt từ
10 - 12 tấn củ/mẫu, ở đây có những khóm nghệ nặng tới 2kg Theo người dân địa phương cho biết: cây nghệ là cây dễ tính, dễ trồng, kỹ thuật canh tác đơn giản nhưng thời gian sinh trưởng khá dài, trồng vào tháng 3 nhưng tháng 1-2 năm sau mới cho thu hoạch Và
để đạt được năng suất nghệ cao và ổn định là do ở đây người dân đã áp dụng một số
Trang 16công nghệ tiên tiến trong sử dụng phân bón và canh tác cho cây nghệ như cách mượn
củ (sau trồng 3 tháng khi cây nghệ bắt đầu nảy mầm đẻ nhánh người ta sẽ bới gốc lên sau đó tách lấy phần củ giống mới trồng lên) đây là hình thức kích thích sự đẻ nhánh của cây đồng thời làm củ nghệ có màu sắc đậm hơn, mật độ 15x20cm trồng kiểu nanh sấu, độ sâu 10cm, lượng củ giống từ 2,5 – 2,7 tấn/ha Ngoài ra, giống nghệ trồng ở đây chủ yếu vẫn là các giống nghệ địa phương được trồng từ lâu đời và trồng với phương thức trồng thuần, trồng xen và trồng dưới tán cây trong vườn nhà [7,8] Theo kết quả kiểm nghiệm của Phòng Nghiên cứu ANVY, cho thấy hàm lượng curcuminoid trong củ nghệ vàng ở Khoái Châu- Hưng Yên đạt tỷ lệ 0,91% (trong đó curcumin chiếm 0,4%, demethoxycurcumin chiếm 0,23% và bisdemethoxycurcumin chiếm 0,28%)[9]
Hoà Bình là một tỉnh thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, có địa hình núi trung bình,
có khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa đông phi nhiệt đới khô lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 230C Tháng 7 có nhiệt độ cao nhất trong năm, trung bình 27 - 29°C, ngược lại tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, trung bình 15,5 - 16,5°C Đặc điểm địa hình và khí hậu trên đây rất thuận lợi cho việc phát triển cây lâm nghiệp, công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu và cây gia vị Nghệ là một cây dược liệu cũng được trồng ở hầu khắp các địa phương với phương thức chủ yếu là trồng dưới tán cây trong vườn nhà, quy mô toàn tỉnh khoảng 169 ha, năng suất trung bình 16,4 tấn/ha, sản lượng trên 2700 tấn/năm Trong đó huyện Lương Sơn có diện tích trồng nghệ cao nhất tỉnh là 45 ha với sản lượng là 729 tấn[10]
b) Các vùng trồng nghệ vàng miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam
Tại Thanh Hoá, có xã Hoằng Đạt thuộc huyện Hoằng Hoá vào năm 2008 đã xây dựng vùng trồng nghệ vàng Người dân nơi đây không những trồng thuần nghệ vàng mà còn xen nghệ với cây lạc, đỗ và trồng dưới tán lá cây lâu năm khác Nhờ vào việc canh tác nghệ mà người dân nơi đây đã phủ xanh đất trống đồi núi chọc Nơi đây, họ trồng nghệ có nét rất độc đáo là sau khi trồng 3 tháng, tức là tháng 6 hằng năm, khi cây nghệ
đã sinh trưởng phát triển ổn định người ta sẽ tiến hành khoét gốc thu hồi củ giống (củ vốn) là thương phẩm Biện pháp kĩ thuật này nhằm thúc đẩy cây nghệ phát triển nhanh hơn, cho năng suất cao hơn, củ giống sau khi thu hồi vốn vẫn đảm bảo chất lượng, có giá trị tương đương và có thể còn cao hơn giá trị củ giống khi đưa vào trồng đầu vụ, nông dân ở đây gọi là kỹ thuật “mượn củ giống” Kỹ thuật trồng này gần như là không
Trang 17phải đầu tư về giống Cây nghệ còn có đặc tính củ giống có thời gian ngủ nghỉ trong đất khá dài, thường sau 35- 45 ngày mới mọc lên khỏi mặt đất, tranh thủ thời gian này người dân nơi đây sẽ trồng xen thêm một vụ lạc Mặc dù, lạc trồng xen trong nghệ được gọi là cây trồng phụ nhưng năng suất vẫn khá cao Biện pháp kỹ thuật này vừa khống chế được
cỏ dại phát triển, giữ ẩm, hạn chế rửa trôi dinh dưỡng, xói mòn đất và còn có vai trò hỗ trợ đáng kể phân bón cho trồng chính là cây nghệ, đây được coi là mô hình canh tác bền vững, hiệu quả cao[11]
Nghệ An là một tỉnh có đầy đủ địa hình núi cao, trung du, đồng bằng và ven biển; nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt: hè, đông Lượng mưa trung bình hàng năm 1.670 mm, nhiệt độ trung bình 25,2°C Đây là tỉnh gần giáp phía Bắc nên nghệ ở đây được trồng vào tháng 2-3 dương lịch và thu hoạch sau chín tháng Dường như đây là tỉnh tiên phong và cũng là nơi có nhiều xã chuyên canh nghệ nhất cả nước tiêu biểu xã Nghi Kiều và một số xã thuộc huyện Nghi Lộc có diện tích trồng là 120ha với sản lượng nghệ của đạt 2.400 tấn , Quỳnh Vinh (Hoàng Mai) là 35ha, huyện Tân Kỳ diện tích trồng khoảng trên 100ha với sản lượng là 2.000 tấn[12]
Quảng Trị có địa hình đa dạng bao gồm núi, đồi, đồng bằng, cồn cát và bãi biển,
là tỉnh nằm ở phía Nam của Bắc Trung Bộ, trọn vẹn trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, là vùng chuyển tiếp giữa hai miền khí hậu Miền khí hậu phía bắc có mùa đông lạnh và phía nam nóng ẩm quanh năm Ở vùng này khí hậu khắc nghiệt Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 20 - 25°C, tháng 7 cao nhất còn tháng 1 thấp nhất Nhiệt độ tối đa trong năm vào các tháng nóng, ở vùng đồng bằng trên 40°C và ở vùng núi thấp
34 - 35°C Nhiệt độ thấp nhất trong năm có thể xuống tới 8 - 10°C ở vùng đồng bằng và
3 - 5°C ở vùng núi cao Tổng lượng mưa cả năm dao động khoảng 2.000 – 2.700 mm Tại huyện Gio Linh - Quảng Trị cây nghệ vàng được trồng từ tháng 7 âm lịch và gần một năm sau mới thu hoạch Nhưng hiện nay, để kéo dài thời gian sinh trưởng của cây, người dân trồng từ tháng 4 - 5 âm lịch Mặc dù trồng sớm rủi ro sẽ cao hơn vì cây nghệ không chịu được thời tiết nắng hạn nhưng nếu chăm sóc tốt thì năng suất, sản lượng sẽ cao hơn hẳn Cây nghệ vàng được trồng xen canh dưới tán rừng cao su và dưới tầng đất
đỏ ba dan màu mỡ nên đã thể hiện ưu thế vượt trội so với các loại cây truyền thống khác
Kỹ thuật trồng cây nghệ cũng không quá phức tạp Củ nghệ giống được trồng ở tầng đất mặt với khoảng cách cây cách cây 60cm, hàng cách hàng 70 cm Cây được bón phân vi
Trang 18sinh và phân hóa học ở 2 giai đoạn Giai đoạn đầu là lúc cây nghệ lên được 4 lá, lần thứ hai khi cây lên cao khỏi mặt đất từ 40-50 cm Giống nghệ được người dân trồng chủ yếu
là giống nghệ vàng bản địa Hiện nay diện tích đất trồng nghệ lên tới hơn 16 ha, sản lượng đạt 1.149 tấn hàng năm Nếu chăm sóc tốt và thời tiết thuận lợi thì sau một năm trồng, từ 1 tấn nghệ giống ban đầu có thể cho 10 - 15 tấn nghệ củ/vụ, trồng xen canh và thời tiết bất thường thì sản lượng thấp hơn, từ 7-9 tấn/vụ Cây nghệ vàng mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân nên nơi đây họ ví cây nghệ như “mỏ vàng” [13]
Tây Nguyên: Tại vùng Tây Nguyên thời gian trồng thích hợp nhất là trước mùa mưa nửa tháng Do đó, thời gian để trồng nghệ tại vùng Tây Nguyên là vào cuối tháng
4 vì mùa mưa ở vùng này bắt đầu vào giữa tháng 5 (dương lịch) lúc này sẽ tạo điều kiện cho nghệ nảy mần[4,10] Thời gian thu hoạch rơi vào từ tháng 2 - 4 thích hợp nhất và đạt được năng suất cao nhất cũng như hàm lượng curcumin chứa trong củ nghệ cao Tây Nguyên là một vùng có thể tận dụng diện tích lớn đất trống đồi núi trọc để phát triển trồng nghệ vàng vì vậy năm tỉnh Tây Nguyên là vùng có diện tích trồng nghệ lớn nhất nước ta và tổng diện tích không dưới 20.000 ha, với năng suất bình quân khoảng 30 tấn
củ tươi/ha và tổng sản lượng có thể lên tới 600.000 tấn củ tươi Trong đó, Đắk Lắk là một trong năm tỉnh Tây Nguyên có diện tích trồng nghệ nhiều nhất và được trồng đầu tiên tại Tây Nguyên Như Krông Pắk ước tính diện tích nghệ khoảng 7.000-8.000 ha trong đó 3.000 ha, năng suất củ tươi là 30 tấn/ha[14]
c) Các vùng trồng nghệ vàng phía Nam Việt Nam
Ở miền Nam, cây nghệ vàng thường được trồng vào tháng 11- 12 vì mùa mưa trong này trễ hơn và thu hoạch từ tháng 10 năm sau[5] Tại miền Nam nghệ được trồng nhiều ở các tỉnh Đồng Nai, Vũng tàu,…
Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và trung du với những núi sót rải rác, có
xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam, với địa hình tương đối bằng phẳng; khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa tương phản nhau là mùa khô và mùa mưa Nhiệt độ trung bình hằng năm 25 – 27°C, độ ẩm trung bình luôn cao 80 – 82% Tỉnh Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu, cũng là nơi có diện tích trồng nghệ lớn khoảng 1000 ha tuy nhiên người dân ở đây chủ yếu người dân vẫn trồng xen canh cây nghệ với cây điều nên năng suất cao nhất cũng chỉ đạt 10-15tấn/ha Do trồng xen canh với cây điều và chế độ canh tác chỉ tự phát nên năng suất nghệ còn thấp, có những hộ dân chỉ thu được dưới 10
Trang 19tấn/ha nhưng có những hộ đã biết áp dụng kỹ thuật về phân bón và trồng trọt nên năng suất đạt tới 20 tấn/ha Tuy nhiên sau khi chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý do trồng xen canh cây nghệ với cây điều đã giúp bà con ở đây thoát nghèo[15]
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng củ nghệ
1.2.1 Giống
Trồng nghệ cũng giống như trồng gừng Ta chọn các củ nghệ tốt không bị bệnh, không bị thối Nếu củ nghệ có nhiều nhánh, ta phải tách các nhánh ra, mỗi nhánh trồng vào mỗi hốc Đất xẻ rãnh, bón phân theo rãnh, lấp một lớp đất 2-5cm, đặt củ nghệ lên trên với khoảng cách 20-25cm một củ, hàng cách hàng 30-35cm, nếu đất tốt thì có thể trồng thưa hơn một chút Lấp đất xong phủ luống bằng rơm rạ, tưới nước cho đủ ẩm Sau 5-7 ngày mần nghệ sẽ mọc lên Mần nghệ mọc khoẻ nên sẽ không cần lấy lớp rơm
rạ phủ luống đi Kiểm tra, nếu hốc nghệ nào không lên sẽ trồng dặm cho kịp để nghệ phát triển cho đồng đều[16]
1.2.2 Thổ nhưỡng của vùng đất
Nghệ là giống cây trồng chủ yếu là để lấy củ (thân ngầm), vậy nên cây nghệ cần đất tương đối tốt, tầng đất dày, tơi xốp, khả năng giữ nước lớn nhưng thoát nước tốt, có
độ ẩm đầy đủ trong suốt thời gian cây sinh trưởng, tốt nhất là đất thịt, không ưa đất cát
và đất sét Đất có hàm lượng mùn cao rất thích hợp cho trồng nghệ Đất trồng nghệ có
pH = 4 – 5,5 nhưng thích hợp nhất là 5,5 – 7,0 [25] Người ta thường thấy nghệ phần lớn được trồng quanh nhà để lấy củ và lá để dùng hàng ngày Nhưng nếu trồng trên diện tích rộng để lấy năng suất cao thì cần phải chọn những khu đất cao, dễ thoát nước Đất được cày bừa kỹ, phơi ải, làm sạch cỏ, lên luống cao 20 - 25cm, rộng 1,0 - 1,2m Ngoài ra các phương thức trồng nghệ dưới tán các loài cây ăn quả đang được áp dụng phổ biến như
mơ + nghệ, mận tam hoa + nghệ, cần phát triển trồng nghệ xen các cây lâm nghiệp kể
cả trong giai đoạn rừng trồng đã khép tán với độ tán che 0,6 - 0,7 [5]
1.2.3 Kĩ thuật trồng
Cách trồng và chăm sóc cây nghệ vàng [5]
Nghệ là cây trồng chủ yếu để lấy củ vì vậy khi trồng nghệ công đoạn làm đất rất quan trọng, đất cần phải làm tơi xốp, làm luống để củ có thể phát triển tốt Khi trồng nghệ trên loại đất không được tốt lắm, thì có thể bón lót trước khi trồng
Trang 20Ngoài ra việc chọn giống nghệ cũng là một yếu tố quan trọng Hơn nữa, bón phân cho cây cũng gây ảnh hưởng đến chất lượng của củ nghệ Ngoài ra, cây nghệ trồng để lấy củ, nên nếu lá nghệ tốt quá thì nên tỉa các lá ở gốc cây để dưỡng chất tập trung vào gốc nghệ Chỉ tưới đủ độ ẩm và vun xới cho đất tơi xốp, tạo điều kiện cho nghệ phát triển nhanh
Thời vụ trồng và thu hoạch
Thời vụ trồng được xem là yếu tố canh tác đầu tiên ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, độ chống chịu sâu bệnh và năng suất cây trồng Tuy nhiên, thời vụ trồng phụ thuộc vào vùng địa lý và các yếu tố môi trường Nhưng yếu tố căn bản quyết định cho việc bố trí lịch trồng nghệ là nhiệt độ và độ ẩm đất thích hợp Ngoài ra còn phụ thuộc vào chế độ chiếu sáng nếu sử dụng những giống nghệ quá mẫn cảm với độ dài ngày Tuy nhiên thời vụ trồng của hầu hết các vùng trồng nghệ được xem là trùng khớp với mùa vụ Vì vậy ở Ấn Độ thời gian trồng nghệ được bắt đầu từ tháng 3 - 4, thu hoạch tháng 10 - 11 Thời vụ trồng nghệ ở các địa phương hiện nay ở nước ta đang áp dụng chủ yếu theo kinh nghiệm của nông dân do chưa có bất kỳ một nghiên cứu nào về thời
vụ từ phía các cơ quan Trung ương và địa phương Theo kết quả điều tra tình hình sản xuất của Hội giống cây trồng Việt Nam giai đoạn 2008 - 2011 trong khuôn khổ thực hiện đề tài thuộc Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, thời vụ trồng nghệ ở nước ta hiện đang áp dụng từ tháng 2 -5 tùy mỗi vùng sinh thái Là một cây trồng lưu niên có thể kéo dài 3 - 4 năm, nhưng chu kỳ sinh trưởng thường kéo dài trong 1 năm, do
đó nghệ có thể được coi là cây trồng hàng năm và việc bố trí thời vụ có ý nghĩa rất quan trọng Kết quả điều tra thời vụ trồng nghệ cho thấy các tỉnh phía Bắc thường trồng từ tháng 2 - 3 hàng năm Những năm rét muộn và có thể kéo dài đến tháng 4 Các tỉnh phía Nam thời vụ thường bắt đầu từ tháng 5 kết thúc tháng 8 Thời gian thu hoạch thường là sau trồng 9-11 tháng, có nơi đến tháng 1 - 2 năm sau Kết quả điều tra cũng cho thấy nếu trồng quá muộn, cây sẽ rút ngắn thời kỳ sinh trưởng nên năng suất có xu hướng giảm đi Bởi nghệ là cây trồng khá nhạy cảm với chế độ chiếu sáng ngày ngắn, do đó càng về cuối năm thân lá có xu hướng tàn nhanh, củ chín ép, tỷ lệ củ non cao, củ già thấp, ảnh hưởng đến chất lượng củ giống và củ thương mại [17] Kết quả này cũng được xem là tương đối trùng hợp với kết quả điều tra thực trạng sản xuất và tiêu thụ nghệ ở các tỉnh phía Bắc năm 2012 Những kết quả điều tra về thời điểm thu hoạch cũng cho thấy hầu hết các địa phương đều thu hoạch khi bộ lá đã chuyển sang màu vàng, tương
Trang 21ứng với 9 - 11 tháng sau trồng tùy giống và điều kiện canh tác Tuy nhiên kết quả đã ghi nhận một vài địa phương thu hoạch sau trồng một năm rưỡi hoặc hai năm với năng suất
và hiệu quả tăng 1,5 - 2,0 lần so với thời gian thu dưới 1 năm[18]
Khi thu hoạch, nếu thu hoạch ít họ có thể dùng cuốc hoặc nếu thu hoạch trên diện tích lớn thì họ sẽ dùng cày cày bên hàng nghệ để cho nghệ bật gốc lên Sau đó nhổ hết
cả cây, rũ đất mang về sau đó cắt lấy gốc, bỏ thân lá Để nghệ vào chỗ khô ráo, thoáng mát để có thể bảo quản được lâu Chọn củ nghệ già đều để làm giống [5]
1.2.4 Một số kỹ thuật khác
Kỹ thuật luân xen canh
Luân canh và xen canh cây nghệ từ lâu đã được áp dụng trong sản xuất ở nhiều vùng trên thế giới Cơ sở chính của sự luân canh chính là cắt đứt hệ thống mầm móng sâu bệnh có nguy cơ trên cây nghệ từ vụ trước để lại, nhằm giảm thiểu tối đa các khoản chi phí cho việc phòng trừ các đối tượng gây hại để nâng cao hiệu quả trong sản xuất nghệ Cơ sở thúc đẩy việc áp dụng xen canh cây nghệ chính là dựa trên khả năng chịu bóng râm của nó Theo đó tại Kerala, Ấn Độ, gừng, nghệ được phát triển như một cây trồng dưới tán dừa, cà phê, thậm chí là dưới tán của một số cây trồng thuộc loài ngũ cốc Trong khu vực có tưới tiêu, nghệ được trồng luân canh với ớt, rau, lạc và ngô Cũng như
ở Kerala, tại Sri Lanka nghệ được trồng dưới tán cây trong vườn gia đình, quanh khu nhà ở của người nông dân Ngoài ra nghệ còn là một thành phần quan trọng trong hệ thống đa canh cây trồng Nó cũng được trồng xen một cách hiệu quả với bắp cải, đậu rau, dưa chuột, đậu bắp, thầu dầu, đậu tương, hướng dương, thuốc lá, dứa, sắn và khoai môn [28] Ở Việt Nam, ngoài các phương thức trồng nghệ dưới tán cây ăn quả đang được
áp dụng phổ biến như cao su + nghệ, vải + nghệ, , cần phát triển trồng nghệ xen các cây lâm nghiệp (lát hoa, tếch, trầu, xoan) kể cả trong giai đoạn rừng trồng đã khép tán với độ tán che 0,6 - 0,7 [19] Tuỳ theo mật độ, trồng xen nghệ dưới tán rừng cần lượng giống nghệ 500 – 1000 kg/ha Các loại rừng có tán thích hợp là tương đối thưa, độ tán che dưới 0,7 Thích hợp nhất là rừng trồng thuần loài, trồng trên đất tốt, tán lá thưa, rụng
lá hoàn toàn trong mùa khô như rừng xoan, rừng tếch Không nên trồng nghệ dưới tán rừng tre nứa, thân mọc cụm, rễ phân bố tập trung ở tầng đất mặt
Kỹ thuật che phủ mặt luống
Trong điều kiện tự nhiên cây nghệ luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố không mong muốn nằm dưới mặt đất, trong khu vực phát triển của vùng rễ và củ, gây bất lợi
Trang 22cho sự sinh trưởng và phát triển của cây nghệ Trong đó sự rửa trôi chất dinh dưỡng, nhiệt độ lạnh trong mùa đông, sự xâm lấn của cỏ dại được xem là những yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất và chất lượng của củ nghệ vàng Với các hình thức che phủ mặt luống khác nhau nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên Ngoài kiểm soát cỏ dại, hạn chế sự bốc thoát hơi nước, lớp phủ có thể bảo tồn được môi trường vật lý và hóa học bên dưới mặt đất Trong đó phương pháp che phủ mặt luống tốt nhất là cây phân xanh Những kết quả nghiên cứu về che phủ phân xanh còn nhận được 38,8 tấn/ha so với 18,90 tấn/ha trong điều kiện không che phủ[29]
Liều lượng phân bón
Liều lượng phân bón khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến thời gian sinh trưởng, năng suất và chất lượng Vì vậy, sau trồng khoảng 100 ngày cần tiến hành bón thúc lần 1 kết hợp vun xới làm tăng độ tơi xốp cho nghệ, sau trồng 150 ngày bón thúc lần 2 Nghệ là cây trồng cạn nhưng rất cần được tưới nước, cần kiểm soát độ ẩm đất trong phạm vi 70-80% ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng[5]
1.3 Đặc tính của các curcuminoid
1.3.1 Cấu trúc và tính chất
Cấu trúc của curcuminoid được xác định lần đầu tiên vào năm 1910 (Kazimierz Kostanecki, J Miłobedzka and Wiktor Lampe) Curcuminoid là những dẫn xuất diarylheptan gồm curcumin, DCM, BDCM Chúng là những hợp chất polyphenol, hầu hết các dẫn xuất đều khác nhau nhóm thế trên gốc phenyl Hợp chất chiếm chủ yếu và được nghiên cứu nhiều nhất là curcumin (khoảng 77%), tiếp theo là DMC (17%) và BDMC (3%)[30] Bên cạnh ba thành phần chủ yếu, người ta cũng tách ra được thành phần phụ là các đồng phân hình học của ba hợp chất trên Một trong ba thành phần phụ này được xác này có điểm nóng chảy thấp hơn và ổn định hơn trong dung định là đồng
phân hình học cis- trans của curcumin dựa trên phổ UV của nó
Trang 23Demethoxycurcumin:1-(4-hydroxyphenyl)-7-(4-hydroxy-3methoxyphenyl)-hepta Bisdemethoxycurcumin: 1,7Demethoxycurcumin:1-(4-hydroxyphenyl)-7-(4-hydroxy-3methoxyphenyl)-hepta bisDemethoxycurcumin:1-(4-hydroxyphenyl)-7-(4-hydroxy-3methoxyphenyl)-hepta (4Demethoxycurcumin:1-(4-hydroxyphenyl)-7-(4-hydroxy-3methoxyphenyl)-hepta hydroxyphenyl)Demethoxycurcumin:1-(4-hydroxyphenyl)-7-(4-hydroxy-3methoxyphenyl)-hepta heptaDemethoxycurcumin:1-(4-hydroxyphenyl)-7-(4-hydroxy-3methoxyphenyl)-hepta 1,6Demethoxycurcumin:1-(4-hydroxyphenyl)-7-(4-hydroxy-3methoxyphenyl)-hepta dieneDemethoxycurcumin:1-(4-hydroxyphenyl)-7-(4-hydroxy-3methoxyphenyl)-hepta 3,5Demethoxycurcumin:1-(4-hydroxyphenyl)-7-(4-hydroxy-3methoxyphenyl)-hepta dione