1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm và đề xuất biện pháp kiểm soát hàng thủy sản việt nam xuất khẩu ở một số thị trường EU, liên minh kinh tế á âu, hàn quốc, mỹ, úc, nhật bản

122 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU bị cảnh báo trong năm 2015 .... Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ NGỌC CẨN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM

VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM XUẤT KHẨU Ở MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG: EU, LIÊN MINH KINH TẾ Á ÂU, HÀN QUỐC, MỸ, ÚC, NHẬT BẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ NGỌC CẨN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM

VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM XUẤT KHẨU Ở MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG: EU, LIÊN MINH KINH TẾ Á ÂU, HÀN QUỐC, MỸ, ÚC, NHẬT BẢN

PGS.TS NGUYỄN ANH TUẤN

Phòng đào tạo Sau đại học:

KHÁNH HÒA – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ kết quả nghiên cứu của đề tài là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực

và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Khánh Hòa, ngày 20 tháng 02 năm 2019

Tác giả luận văn

Lê Ngọc Cẩn

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành luận văn này,

Trước hết tôi xin gửi tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Lãnh đạo Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban Chủ nhiệm Khoa Công nghệ Thực phẩm sự kính trọng, niềm tự hào được học tập và nghiên cứu tại trường trong những năm qua

Sự biết ơn sâu sắc nhất xin được giành cho thầy PGS TS Vũ Ngọc Bội - Trưởng khoa Công nghệ Thưc phẩm đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Công nghệ thực phẩm, các phòng ban chức năng trong Nhà trường đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại Trường

Xin bày tỏ lòng biết ơn tới Lãnh đạo - Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản & Thủy sản và Trung tâm Chất lượng Nông Lâm Thủy sản vùng 1, 2, 3, 4, 5,

6, đặc biệt xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo và tập thể cán bộ nhân viên của Trung tâm Chất lượng Nông Lâm Thủy sản vùng 3, đã ủng hộ, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn tới người thân và bạn bè đã luôn

hỗ trợ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài này

Khánh Hòa, ngày 20 tháng 02 năm 2018

Tác giả luận văn

Lê Ngọc Cẩn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CÁM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC HÌNH xi

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xiii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3

1.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM 3

1.1.1 Tình hình sản xuất thủy sản 3

1.1.2 Tình hình xuất khẩu thủy sản 6

1.1.3 Tình hình nhập khẩu thủy sản 8

1.2 TÌNH HÌNH NGÀNH THỦY SẢN THẾ GIỚI 9

1.2.1 Tình hình nuôi trồng, khai thác và thương mại thủy sản 9

1.2.2 Xu thế tiêu thụ thủy sản của thế giới 10

1.3 VAI TRÒ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG AN TOÀN THỰC PHẨM THỜI HỘI NHẬP TOÀN CẦU, XU HƯỚNG THẾ GIỚI VÀ RÀO CẢN KỸ THUẬT 11

1.3.1 Cơ hội, thách thức sau khi hội nhập kinh tế 12

1.3.2 Quản lý sản xuất, xuất khẩu thủy sản Việt Nam 13

1.3.3 Một số hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến được áp dụng trong quá trình sản xuất thực phẩm 22

1.3.4 Chương trình giám sát quốc gia về ATTP thủy sản 25

1.4 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG, AN TOÀN THỰC PHẨM TẠI VIỆT NAM 25

1.4.1 Hệ thống quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm thủy sản tại Việt Nam 27

1.4.2 Các loại mối nguy mất ATTP thường gặp và tác hại trong thủy sản 31

1.5 QUY ĐỊNH TRÌNH TỰ, THỦ TỤC VỀ KIỂM TRA, CHỨNG NHẬN AN TOÀN THỰC PHẨM ĐỐI VỚI LÔ HÀNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU 36

1.5.1 Cơ quan Thẩm định 36

1.5.2 Yêu cầu đối với phòng kiểm nghiệm 38

1.5.3 Yêu cầu đối với sản phẩm xuất khẩu 38

Trang 6

1.5.4 Hình thức chứng nhận đối với lô hàng xuất khẩu 38

1.5.5 Các quy định thẩm định, cấp chứng thư lô hàng xuất khẩu 40

1.5.6 Phương pháp lấy mẫu kiểm nghiệm lô hàng xuất khẩu 41

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CÚU 43

2.1.1 Đối tượng 43

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 43

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 43

2.2.2 Phương pháp đánh giá thực trạng và thiết lập biện pháp kiểm soát đảm bảo ATTP hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu 43

2.2.3 Bố trí thí nghiệm tổng quát quá trình nghiên cứu 44

2.2.4 Phương pháp, kỹ thuật phân tích vi sinh vật gây bệnh và dư lượng kháng sinh, kim loại nặng, Histamine… 44

2.3 HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ CHỦ YẾU ĐÃ SỬ DỤNG 47

2.3.1 Hóa chất 47

2.3.2 Một số thiết bị chủ yếu đã sử dụng 47

2.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 50

3.1 THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM XUẤT KHẨU Ở MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG (EU, LIÊN MINH KINH TẾ Á ÂU, HÀN QUỐC, MỸ, ÚC, NHẬT BẢN) 51

3.1.1 Thị trường EU 51

3.1.2 Thị trường Liên minh kinh tế Á Âu 62

3.1.3 Thị trường Hàn Quốc 70

3.1.4 Thị trường Mỹ 78

3.1.5 Thị trường Úc 85

3.1.6 Thị trường Nhật Bản 92

3.2 NGUYÊN NHÂN CÁC LÔ HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM BỊ CẢNH BÁO KHÔNG ĐẢM BẢO ATTP TẠI NƯỚC NHẬP KHẨU 98

3.3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG, ATTP ĐỐI VỚI HÀNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 99

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

CL, ATTP : Chất lượng, An toàn thực phẩm

HACCP : : Chương trình quản lý chất lượng dựa vào phân tích mối

nguy và kiểm soát điểm tới hạn

Trang 8

BRC : Tiêu chuẩn toàn cầu về an toàn thực phẩm do Hiệp hội bán

lẻ Anh quốc (British Retailer Consortium-BRC)

Standard

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Kết quả sản xuất thủy sản năm 2017 5 Bảng 1.2 Số lượng doanh nghiệp chế biến thủy sản đạt tiêu chuẩn theo một số thị trường xuất khẩu chính 13 Bảng 1.3 Danh mục các thị trường có yêu cầu Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản

và Thủy sản (NAFIQAD) kiểm tra, chứng nhận ATTP thủy sản xuất khẩu 14 Bảng 1.4 Phân công theo lĩnh vực quản lý ngành thuỷ sản cụ thể như sau 28 Bảng 1 5 Phân công tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát chất lượng vật tư nông nghiệp thuộc phạm vi quản lý của Bộ nông nghiệp 30 Bảng 1.6 Danh mục các biểu mẫu và hướng dẫn kiểm tra, thẩm định và đánh giá phân loại 36 Bảng 1.7 Quy định tỷ lệ lấy mẫu kiểm tra lô hàng xuất khẩu 39 Bảng 1.8 Quy định tỷ lệ lấy mẫu kiểm tra lô hàng xuất khẩu 39Bảng 3.1 Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU bị cảnh báo trong năm 2015 51 Bảng 3.2 Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU bị cảnh báo trong năm 2016 52 Bảng 3.3 Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU bị cảnh báo trong năm 2017 53 Bảng 3.4 Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Liên minh kinh tế Á Âu bị cảnh báo trong năm 2015 63Bảng 3.5 Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Liên minh kinh tế Á Âu bị cảnh báo trong năm 2016 63Bảng 3.6 Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Liên minh kinh tế Á Âu bị cảnh báo trong năm 2017 64 Bảng 3.7 Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trườngHàn Quốc bị cảnh báo trong năm 2015 70 Bảng 3.8 Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Hàn Quốc bị cảnh báo trong năm 2016 71 Bảng 3.9.Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Hàn Quốc bị cảnh báo trong năm 2017 72

Trang 10

Bảng 3.10 Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ bị cảnh báo trong năm 2015 79 Bảng 3.11 Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ bị cảnh báo trong năm 2016 79 Bảng 3.12.Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ bị cảnh báo trong năm 2017 80 Bảng 3.13 Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Úc bị cảnh báo trong năm 2015 85 Bảng 3.14 Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Úc bị cảnh báo trong năm 2016 86 Bảng 3.15 Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Úc bị cảnh báo trong năm 2017 87 Bảng 3.16 Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản bị cảnh báo trong năm 2015 92 Bảng 3.17 Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản bị cảnh báo trong năm 2016 93 Bảng 3.18 Kết quả kiểm nghiệm một số chỉ tiêu chất lượng, ATTP của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản bị cảnh báo trong năm 2017 94

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản Việt Nam 4

Hình 1.2 Xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ năm 2005-2017 8

Hình 1.3 Cơ cấu hệ thống Quản lý chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản Việt Nam 30

Hình 2.1 Sơ đồ tổng quát quá trình nghiên cứu 44

Hình 2.2 Hình ảnh về thiết bị ELISA 47

Hình 2.3 Hình ảnh về thiết bị GC-ECD 48

Hình 2.4 Hình ảnh về thiết bị LC/MS/MS 48

Hình 2.5 Hình ảnh về thiết bị ICP/MS 49

Hình 2.6 Hình ảnh về thiết bị GC-MS 49

Hình 2.7 Hình ảnh về thiết bị chưng cất đạm tự động 50

Hình 3.1 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào EU năm 2015 52

Hình 3.2 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào EU năm 2016 53

Hình 3.3 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào EU năm 2017 55

Hình 3.4 Sự thay đổi về số lượng lô hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào EU bị cảnh báo trong giai đoạn từ 2015 ÷2017 55

Hình 3.5 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Liên minh kinh tế Á Âu năm 2015 63

Hình 3.6 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Liên minh kinh tế Á Âu năm 2016 64

Hình 3.7 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Liên minh kinh tế Á Âu năm 2017 65

Hình 3.8 Sự thay đổi về số lượng lô hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Liên minh kinh tế Á Âu bị cảnh báo trong giai đoạn từ 2015 ÷ 2017 66

Hình 3.9 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Hàn Quốc năm 2015 71

Trang 12

Hình 3.10 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Hàn Quốc năm 2016 72 Hình 3.11 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Hàn Quốc năm 2017 73 Hình 3.12 Sự thay đổi về số lượng lô hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Hàn Quốc bị cảnh báo trong giai đoạn từ 2015 ÷ 2017 73 Hình 3.13 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ năm 2015 79 Hình 3.14 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ năm 2016 80 Hình 3.15 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ năm 2017 81 Hình 3.16 Sự thay đổi về số lượng lô hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ

bị cảnh báo trong giai đoạn từ 2015 ÷ 2017 81 Hình 3.17 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Úc năm 2015 86 Hình 3.18 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Úc năm 2016 87 Hình 3.19 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Úc năm 2017 88 Hình 3.20 Sự thay đổi về số lượng lô hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Úc

bị cảnh báo trong giai đoạn từ 2015 ÷ 2017 88 Hình 3.21 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Nhật Bản năm 2015 93 Hình 3.22 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Nhật Bản năm 2016 94 Hình 3.23 Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Nhật Bản năm 2017 95 Hình 3.24 Sự thay đổi về số lượng lô hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Úc

bị cảnh báo trong giai đoạn từ 2015 ÷ 2017 95

Trang 13

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Trong nhiều năm qua công tác quản lý chất lượng ATTP thủy sản luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm Chính vì thế, xuất khẩu thủy sản không ngừng tăng và trở thành lĩnh vực xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam chỉ sau dệt may, dày da và dầu khí Tuy thế, hàng năm bên cạnh hàng chục ngàn lô hàng thủy sản xuất khẩu đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm thì cũng còn không ít lô hàng thủy sản xuất khẩu bị các thị trường nhập khẩu cảnh báo không đảm bảo an toàn thực phẩm và bị trả về Việt Nam cũng như bị tiêu hủy tại nước nhập khẩu Để có bức tranh tổng quát về hiện trạng đảm bảo chất lượng, an

toàn thực phẩm của hàng thủy sản xuất khẩu, tôi thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm và đề xuất biện pháp kiểm soát hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu ở một số thị trường xuất khẩu chính”

Tiến hành thu thập, tổng hợp các số liệu từ Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản

và Thủy sản kết hợp với các Trung tâm Chất lượng nông lâm thủy sản trong toàn nước Việt Nam Từ đó phân tích đánh giá thực trạng không đảm bảo ATTP theo từng nhóm chỉ tiêu cụ thể như hóa chất kháng sinh, vi sinh vật gây bệnh, kim loại nặng, histamine

và các chỉ tiêu chất lượng khác của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào các thị trường: EU, Liên minh Kinh tế Á - Âu, Hàn Quốc, Mỹ, Úc, Nhật Bản trong 3 năm 2015,

2016, 2017, kết quả như sau:

- Đối với thị trường EU: Với sự vào cuộc của Chính phủ, Bộ, Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản, các cơ quan quản lý trong nước, doanh nghiệp chế biến đã thực hiện tốt các quy định đã được Bộ, Cục đưa ra Đồng thời cơ quan thẩm quyền EU đã áp dụng biện pháp kiểm soát mạnh đối với các doanh nghiệp có lô hàng bị

EU cảnh báo như nhiễm hóa chất kháng sinh sẽ bị đưa ra khỏi danh sách được phép xuất khẩu vào EU Từ đó các doanh nghiệp đã tự hình thành các vùng nuôi chuyên biệt được kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng hóa chất kháng sinh cấm, hạn chế sử dụng và tăng cường kiểm soát nguyên liệu khi thu mua vào sản xuất, xuất khẩu Ngoài ra các doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủy sản cũng liên tục nâng cấp điều kiện sản xuất, áp dụng các hệ thống QLCL, ATTP theo các tiêu chuẩn quốc tế như BRC, IFS, ISO, …nhằm kiểm soát quá trình tạo ra sản phẩm vì thế các lô hàng bị cảnh báo với nhóm chỉ tiêu hóa chất kháng sinh và vi sinh vật đã giảm rõ rệt Tuy nhiên đối với nhóm chỉ tiêu ATTP khác như kim loại nặng, Histamine…tập trung chủ yêu là chỉ tiêu kim loại nặng (thủy ngân, cadimium, chì) số lô hàng bị cảnh báo kim loại nặng tăng đột biến vào quý IV/2017 và chủng loại

Trang 14

sản phẩm bị cảnh báo cũng rất đa dạng nhiều so với các năm trước Chỉ tiêu vi sinh vật gây bệnh đã được các doanh nghiệp xuất khẩu kiểm soát chặt chẽ, số lô hàng bị cảnh báo không đảm bảo ATTP đã phần lớn được cải thiện tốt trong những năm qua

- Đối với thị trường Liên minh Kinh tế Á – Âu: Được coi là thị trường rất khó tính, mặc dù Liên minh Kinh tế Á – Âu gồm có 5 quốc gia, tuy nhiên hàng thủy sản của Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Nga nên chịu sự kiểm soát chung theo yêu cầu của thị trường Nga Cơ quan thẩm quyền Nga đã đưa ra các yêu cầu kiểm soát ATTP rất khắt khe hơn các thị trường khác trên thế giới nên đã có nhiều lô hàng bị kiểm soát, cảnh báo

về chỉ tiêu TPC, Coliform, Listeria monocytogenes và kim loại nặng chủ yếu thuộc

nhóm sản phẩm có nguồn gốc nguyên liệu khai thác, đến cuối năm 2017 lô hàng cá nhập khẩu vào Nga bị phát hiện và cảnh báo và đã có một số doanh nghiệp bị đưa ra khỏi danh sách được phép xuất khẩu vào Nga, tình hình lô hàng bị cảnh báo tại nhóm thị trường nawy tăng đột biến vào cuối năm 2017 (năm 2016: 13 lô, 2016: 06 lô, 2017: 28 lô có 15

lô bị cảnh báo nhiễm kim loại nặng)

- Đối với thị trường Hàn Quốc: Đây là thị trường cũng đưa ra nhiều quy định liên quan để kiểm soát sản phẩm khi nhập khẩu vào Hàn Quốc Đồng thời cũng đưa ra qui định nếu sản phẩm nhập khẩu bị cơ quản thẩm quyền Hàn Quốc kiểm tra có phát hiện không đảm bảo ATTP thì cơ sở sản xuất có lô sản phẩm bị phát hiện trên sẽ bị tạm ngừng nhập khẩu vào Hàn Quốc với thời gian tối thiểu 6 tháng và yêu cầu cơ quan thẩm quyền Việt Nam (NAFIQAD) gửi báo cáo về kết quả điều tra nguyên nhân và thực hiện hành động khắc phục đối với cơ sở sản xuất có lô sản phẩm bị cảnh báo trên đến cơ quan thẩm quyền Hàn Quốc (KFDA), nếu báo cáo phù hợp thì sau 6 tháng sẽ cho phép nhập khẩu sản phẩm trở lại và sẽ chịu sự kiểm soát chặt Ngoài ra một số sản phẩm khi xuất khẩu vào Hàn Quốc, trước đó phải được cơ quan thẩm quyền Hàn Quốc trực tiếp đánh giá đáp ứng quy định của Hàn Quốc và được đưa vào danh sách thì mới được xuất khẩu sản phẩm

đó vào Hàn Quốc Từ những yêu cầu trên nên các doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủy sản sang Hàn Quốc đã kiểm soát rất tốt và số lô hàng bị cảnh báo không đảm bảo ATTP đã giảm đáng kể trong những năm qua ( năm 2015: có 10 lô; 2016: 9 lô, 2017: 4 lô)

- Đối với thị trường Mỹ: là thì trường không thỏa thuận song phương về kiểm soát ATTP với Việt Nam, nên rất nhiều doanh nghiệp khi có nhu cầu xuất khẩu hàng thủy sản sang Mỹ thì đăng ký với cơ quan thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) và được cấp mã số FDA từ đó được phép nhập khẩu sản phẩm thủy sản vào Mỹ, rất nhiều

Trang 15

lô hàng khi xuất khẩu không đăng ký với Trung tâm Chất lượng nông lâm thủy sản vùng

để kiểm tra, cấp chứng thư, mà chỉ xuất trực tiếp cho khách hàng tại Mỹ, các dạng sản

phẩm chính là tươi, ướp đá, đông lạnh, hấp chín đông lạnh…Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng sang Mỹ rất chú trọng đến kiểm soát hóa chất kháng sinh đối với sản phẩm

có nguồn gốc thủy sản nuôi, kiểm soát chặt chẽ chỉ tiêu Histamin đối với các loài cá có mối nguy Histamine nên các lô hàng rất ít bị cảnh báo với chi tiêu Histamin Tuy nhiên

các nhóm chỉ tiêu khác như ghi nhãn, sản phẩm bị nhiễm bẩn, hay vi khuẩn Salmonella spp và những chỉ tiêu chất lượng khác cũng bị FDA phát hiện nhiều, chủ yếu tập trung

nhóm chỉ tiêu điều kiện vệ sinh của sản phẩm, chiếm từ 47% đến 54% tổng số lô hàng

bị cảnh báo (năm 2015: 72 lô/135 lô; 2016: 72 lô/152 lô và đến 2017: 42/ 78 lô)

- Đối với thị trường Úc: là thị trường không có thỏa thuận song phương về kiểm soát ATTP với Việt Nam nhưng đưa ra nhiều yêu cầu, rào cản rất khắt khe đối với sản phẩm thuộc họ giáp xác như tôm nuôi Do yêu cầu khắt khe nên số lượng hàng xuất khẩu sang Úc không nhiều vì thế lô hàng bị cảng báo cũng ít và chỉ cảnh báo đối với chỉ tiêu vi khuẩn hiếu khí (SPC)

- Đối với thị trường Nhật Bản: là thị trường có tính chuyên môn hóa về sản phẩm rất cao, yêu cầu chất lượng sản phẩm rất tốt đồng thời các nhà nhập khẩu thường xuyên đánh giá các cơ sở sản xuất có nhu cầu bán hàng vào Nhật Chính vì khách hàng Nhật yêu cầu rất cao về chất lượng và kiểm soát ATTP tốt đối với từng lô hàng xuất khẩu nên những năm qua số lô hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu bị cảnh báo về vi sinh vật và các chỉ tiêu chất lượng khác là không có, tuy nhiên số lô hàng bị cảnh báo về hóa chất kháng sinh thì nhiều nhưng có xu hướng giảm dần (năm 2015 và 2016: 32 lô, 2017: 17 lô tất cả đều cảnh báo về hóa chất kháng sinh)

Chính phủ, Bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn; Cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản cần ban hành, triển khai các quy định, biện pháp kiểm soát một cách đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, các doanh nghiệp tham gia trong quá trình nuôi, khai thác, thu mua, chế biến, tăng cường kiểm tra, kiểm soát trong sản xuất, kinh doanh thủy sản nhằm mục đích hạn chế việc lây nhiễm vi sinh vật và hóa chất kháng sinh, kim loại nặng, đối với sản phẩm thủy sản Việt Nam góp phần đưa uy tín, thương

hiệu của hàng thủy sản khi xuất khẩu vào tất cả các quốc gia trên toàn thế giới

5 Từ khóa: Hàng thủy sản Việt Nam, Xuất khẩu, Nafiqad, EU, Liên minh Kinh tế Á

- Âu, Hàn Quốc, Mỹ, Úc, Nhật Bản

Trang 16

MỞ ĐẦU

Trong nhiều năm qua công tác quản lý chất lượng ATTP thủy sản luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống chính sách, chương trình mục tiêu quốc gia về kiểm soát chất lượng ATTP thủy sản Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản cũng triển khai xây dựng nhiều cơ chế chính sách, chỉ đạo các đơn vị trực thuộc triển khai các biện pháp tăng cường năng lực kiểm soát chất lượng nông lâm thủy sản Các doanh nghiệp xuất khẩu cũng đã liên tục, từng bước nâng cấp, cải tiến quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm đồng thời áp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu và quản

lý chất lượng, ATTP và ngày càng kiểm soát tốt chất lượng sản phẩm,…Chính vì thế, xuất khẩu thủy sản không ngừng tăng và trở thành lĩnh vực xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam chỉ sau dệt may, dày da và dầu khí

Tuy thế, thực tế xuất khẩu thủy sản trong những năm qua cho thấy, hàng năm bên cạnh hàng chục ngàn lô hàng thủy sản xuất khẩu đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm thì cũng còn không ít lô hàng thủy sản xuất khẩu bị các thị trường nhập khẩu cảnh báo không đảm bảo an toàn thực phẩm và bị trả về Việt Nam cũng như bị tiêu hủy tại nước nhập khẩu Để có bức tranh tổng quát về hiện trạng đảm bảo chất lượng, an toàn thực

phẩm của hàng thủy sản xuất khẩu, tôi thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng đảm bảo

an toàn thực phẩm và đề xuất biện pháp kiểm soát hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu

ở một số thị trường xuất khẩu chính”

* Mục tiêu của đề tài

Đánh giá được thực trạng an toàn thực phẩm hàng thủy sản xuất khẩu tại các thị

trường EU, Liên minh Kinh tế Á-Âu, Hàn Quốc, Mỹ, Úc, Nhật Bản (các thị trường xuất khẩu thủy sản chính của Việt Nam) trong 03 năm (2015, 2016, 2017) để từ đó đề xuất

các biện pháp kiểm soát nhằm tăng cường đảm bảo an toàn thực phẩm thủy sản xuất khẩu

* Nội dung của đề tài

1) Đánh giá thực trạng nhiễm kháng sinh, vi sinh vật gây bệnh, kim loại nặng của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào các thị trường: EU, Liên minh Kinh tế Á Âu, Hàn Quốc, Mỹ, Úc, Nhật Bản từ tháng 01/2015 đến tháng 12/2017

Trang 17

2) Xây dựng các giải pháp tăng cường kiểm tra, quản lý chất lượng an toàn thực phẩm cho sản phẩm thủy sản Việt Nam đáp ứng các quy định của Việt Nam và quy định của một số thị trường nhập khẩu

* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học:

Số liệu của đề tài là các số liệu thực tế, mới giúp cho nhà quản lý thực phẩm thủy sản đánh giá được thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm của hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào một số thị trường chính của Việt Nam

Số liệu của đề tài có thể dùng để tham khảo cho học viên, sinh viên, cán bộ giảng dạy, cán bộ công tác trong lĩnh vực thủy sản

Ý nghĩa thực tiễn:

Số liệu của đề tài là cơ sở để các nhà quản lý thực phẩm thủy sản xây dựng các giải pháp quản lý để nâng cao uy tín, thương hiệu thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới

Số liệu của đề tài còn giúp các doanh nghiệp nhìn nhận thực tế xuất khẩu của mình

từ đó có những giải pháp hữu ích để đảm bảo cho sản phẩm thủy sản Việt Nam đáp ứng yêu cầu xuất khẩu

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM

1.1.1 Tình hình sản xuất thủy sản

Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, là một biển lớn của Thái Bình Dương,

có diện tích khoảng 3.448.000 km2, có bờ biển dài 3.260 km Vùng nội thủy và lãnh hải rộng 226.000km2, vùng biển đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2 với hơn 4.000 hòn đảo, tạo nên 12 vịnh, đầm phá với tổng diện tích 1.160km2 được che chắn tốt, dễ trú đậu tàu thuyền Biển Việt Nam có tính đa dạng sinh học khá cao, cũng là nơi phát sinh và phát tán của nhiều nhóm sinh vật biển vùng nhiệt đới Ấn Độ - Thái Bình Dương với chừng 11.000 loài sinh vật đã được phát hiện [1, 2]

Nước ta với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài rất thuận lợi phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản Sản lượng thủy sản Việt Nam đã duy trì tăng trưởng liên tục trong 17 năm qua với mức tăng bình quân là 9,07%/năm Với chủ trương thúc đẩy phát triển của chính phủ, hoạt động nuôi trồng thủy sản đã có những bước phát triển mạnh, sản lượng liên tục tăng cao trong các năm qua, bình quân đạt 12,77%/năm, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng tổng sản lượng thủy sản của cả nước [1, 2]

Trong khi đó, trước sự cạn kiệt dần của nguồn thủy sản tự nhiên và trình độ của hoạt động khai thác đánh bắt chưa được cải thiện, sản lượng thủy sản từ hoạt động khai thác tăng khá thấp trong các năm qua, với mức tăng bình quân 6,42%/năm

Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, cả năm 2017, tổng sản lượng thủy sản đạt hơn 7,28 triệu tấn, tăng 5,6% so với năm 2016 (tổng sản lượng thủy sản sản xuất năm

2016 đạt hơn 6,7 triệu tấn, tăng 2,5% so với năm 2015), bao gồm sản lượng thủy sản

khai thác đạt gần 3,42 triệu tấn, tăng 5,7%; sản lượng thủy sản nuôi trồng trên 3,86 triệu tấn, tăng 5,5%; diện tích nuôi trồng 1,1 triệu ha Tỷ trọng sản lượng nuôi trồng chiếm 53,0% tổng sản lượng (năm 2016 là 54,2%),[1]

Trang 19

Hình 1.1 Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản Việt Nam

Nguồn: Vasep

* Khai thác thủy sản

Trong năm 2016, sự cố môi trường ở các tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ do công ty Formosa đưa chất thải ra biển khiến cho ngư dân các tỉnh này phải ngừng đánh bắt ở vùng biển ven bờ và vùng lộng trong nhiều tháng, làm ảnh hưởng đến khai thác biển của các tỉnh nói riêng và khai thác thủy sản biển cả nước nói chung Tuy nhiên, giá xăng dầu thấp, dịch vụ hậu cần nghề cá phát triển tạo điều kiện cho ngư dân bám biển dài ngày nên việc khai thác thủy sản biển ở các tỉnh còn lại tương đối ổn định Sản lượng khai thác thủy sản vẫn đạt được những kết quả khả quan Ước cả năm 2016 sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 3.076 ngàn tấn, tăng 3% so với năm 2015, trong đó: ước khai thác biển đạt 2.876 ngàn tấn, tăng 2,21 % so với năm 2015; khai thác nội địa ước đạt 200 ngàn tấn, giảm 1% so với năm 2015 [1]

Theo báo cáo của địa phương, sản lượng cá ngừ của 3 tỉnh trọng điểm miền trung

cả năm 2016 ước khoảng 17.652 tấn, trong đó: Tại Bình Định sản lượng lũy kế đạt là

9368 tấn, tăng 5 % so với năm 2015; Tại Khánh Hòa ước đạt 4072 tấn, giảm 12% so với cùng kỳ năm trước; tại Phú Yên ước đạt khoảng 4212 tấn, tương đương so với năm

2015 [1]

Năm 2017 do tình hình thời tiết trên biển không thuận lợi đối với hoạt động khai thác hải sản, trong khu vực biển Đông xuất hiện nhiều cơn bão và áp thấp nhiệt đới đã gây nhiều thiệt hại và bất lợi cho người dân miền Trung cũng như các tỉnh Khánh Hòa,

Trang 20

Phú Yên Bên cạnh đó, Ủy ban Châu Âu chính thức cảnh báo thẻ vàng với thủy sản Việt Nam ngày 23/10 Tuy nhiên, giá xăng dầu thấp, dịch vụ hậu cần nghề cá phát triển tạo điều kiện cho ngư dân bám biển dài ngày nên việc khai thác thủy sản biển ở các tỉnh còn lại tương đối ổn định Sản lượng khai thác thủy sản vẫn đạt được những kết quả khả quan Ước cả năm 2017 sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 3.421 ngàn tấn, tăng 5,7%

so với năm 2016, trong đó: ước khai thác biển đạt 3.221 ngàn tấn, tăng 5,7% so với năm 2016; khai thác nội địa ước đạt 200 ngàn tấn, tăng 5,7% so với năm 2016 [2]

* Nuôi trồng thủy sản

Sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2017 ước đạt 3.858 ngàn tấn, tăng 5,5% so với năm 2016 (sản lượng năm 2016: 3.650 ngàn tấn, tăng 1,9% so với năm 2015) [1,3] Tình hình sản xuất một số loài cụ thể như sau:

+ Cá Tra: Tình hình nuôi cá tra vẫn chưa thoát khỏi khó khăn, sự không ổn định

giá cá tra nguyên liệu thể hiện rõ rệt qua từng quý và thị trường tiêu thụ đã khiến cho người nuôi chưa thực sự yên tâm sản xuất Năm 2017, diện tích nuôi cá tra ước đạt 5.227 ha, tăng 3,5% so với năm 2016 với sản lượng thu hoạch ước đạt 1.250 nghìn tấn, tăng 5,3% so với năm 2016 Tại đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh có diện tích nuôi lớn đạt sản lượng cá tra tăng mạnh là Đồng Tháp với 466,3 nghìn tấn, tăng 6,0%, An Giang 261,6 nghìn tấn (+5,9%), Cần Thơ đạt 174,2 nghìn tấn (+6,4%) [3]

+ Tôm: Năm 2017, diện tích nuôi tôm nước lợ cả nước đạt 721,1 nghìn ha; tăng 3,8%

so với năm 2016 trong đó diện tích tôm sú là 622,4 nghìn ha; tăng 3,7% và diện tích tôm chân trắng là 98,7 nghìn ha; tăng 4,7% so với năm 2016 [3]

Sản lượng tôm nước lợ năm 2017 đạt 683,4 nghìn tấn, tăng 4% so với năm 2016 trong đó sản lượng tôm sú 256,4 nghìn tấn; giảm 2,8% và sản lượng tôm chân trắng 427 nghìn tấn, tăng 8,5% so với năm 2016 [3]

Bảng 1.1 Kết quả sản xuất thủy sản năm 2017

Đơn vị tính: Sản lượng (1.000 tấn), Diện tích: (1.000 ha), Số lượng tàu thuyền (1.000 chiếc), Số lượng người (1.000 người), Giá trị kim ngạch (triệu USD), GTSX (tỷ đồng)

Kế hoạch năm

2017

Thực hiện

2016

Ước thực hiện

2017

So sánh (%) Với kế

Trang 21

1.1.2 Tình hình xuất khẩu thủy sản

Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc trong gần 20

Trang 22

năm qua Kim ngạch xuất khẩu thủy sản từ mức thấp 550 triệu năm 1995 đã có những bước tăng trưởng mạnh mẽ qua từng năm với mức tăng trưởng bình quân 15,6%/năm Quá trình tăng trưởng này đã đưa Việt Nam trở thành một trong 5 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, giữ vai trò chủ đạo cung cấp nguồn thủy sản toàn cầu [2]

Bắt đầu từ năm 2000, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam có sự tăng trưởng đột phá nhờ phát triển mạnh ngành nuôi trồng, đặc biệt là nuôi cá tra và tôm nước lợ (tôm sú và tôm chân trắng) Sau 12 năm, kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng gấp hơn 4 lần từ mức gần 1,5 tỷ USD năm 2000 lên 7,8 tỷ USD năm 2014 Năm 2015, xuất khẩu thủy sản gặp khó khăn do giá tôm giảm, đồng USD tăng mạnh so với các tiền tệ khác làm giảm nhu cầu và tăng áp lực cạnh tranh Kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2016 đạt 7,05 tỷ USD, tăng 7,3% so với năm 2015 Năm 2017, mặc dù phải đối mặt với nhiều thách thức từ các thị trường như tác động của chương trình thanh tra cá da trơn và việc EU cảnh báo thẻ vàng đối với hải sản Việt Nam, XK thủy sản cả năm 2017 vẫn cán đích trên 8,3 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2016 [2]

Trong 5 năm qua, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam luôn đứng thứ 4 trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, sau dệt may, giày da và dầu thô [2]

Thành tựu của ngành thủy sản thể hiện bằng kết quả xuất khẩu tăng nhanh về cả giá trị và sản lượng trong giai đoạn 2001 – 2017 Năm 2016, sản phẩm thủy sản được xuất khẩu sang 167 nước và vùng lãnh thổ Các thị trường chủ là EU chiếm 18%, Mỹ 17% và Nhật Bản 16% và đang có những thị trường tiềm năng như Trung Quốc (15%)

và ASEAN (18%), Hàn Quốc (8,6%),…Cơ quan thẩm quyền Việt Nam (NAFIQAD) đã

có quan hệ và được các quốc gia, lãnh thổ công nhận thẩm quyền kiểm soát ATTP thủy sản, trong đó đã ký thỏa thuận song phương với hơn 15 quốc gia và liên minh [2]

Trang 23

Hình 1.2 Xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ năm 2005-2017

Nguồn: Vasep

1.1.3 Tình hình nhập khẩu thủy sản

Trong 12 năm qua, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản đã tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu thủy sản trong nước để chế biến xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho người lao động Tuy nhiên, sự bất ổn định nguồn nguyên liệu, nhất là nguồn lợi khai thác ngày càng cạn kiệt, khiến các doanh nghiệp phải tìm giải pháp nhập khẩu thêm nguyên liệu

từ các nước khác để chế biến xuất khẩu, giữ vững thị trường và duy trì sản xuất giúp lợi nhuận, tăng doanh số xuất khẩu

Ước tính, giá trị xuất khẩu từ nguồn nguyên liệu xuất khẩu chiếm trung bình 14% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản hàng năm[2]

11-Đặc biệt, từ năm 2011 đến nay, nhập khẩu nguyên liệu tăng mạnh, với giá trị nhập khẩu trung bình 50 - 60 triệu USD/tháng[2] Trong những năm gần đây, các mặt hàng nhập khẩu không chỉ dừng lại ở các loại hải sản như cá ngừ, mực, bạch tuộc, các loại cá biển…mà các doanh nghiệp còn đẩy mạnh nhập khẩu tôm từ các nước khác như Ấn Độ, Thái Lan…

Năm 2017, Việt Nam vẫn duy trì mức nhập khẩu thủy sản với giá trị trên 1,4 tỷ USD, tăng 30% so với năm 2016 Trong đó, tôm chiếm tỷ trọng lớn nhất 34% giá trị

495 triệu USD, cá ngừ chiếm gần 20% với 270 triệu USD, mực, bạch tuộc 5,4% với 77,6 triệu USD, còn lại là các loại cá biển chiếm gần 36% [2]

Trang 24

Vì Việt Nam nhập khẩu thủy sản phục vụ chủ yếu làm nguyên liệu chế biến xuất khẩu nên sản phẩm nhập khẩu dạng tươi/đông lạnh chiếm tới 80% Tôm chân trắng sống/tươi/đông lạnh được nhập khẩu nhiều nhất, chiếm 25,4% với 281 triệu USD, cá ngừ tươi/đông lạnh chiếm 18% với 194 triệu USD, mực, bạch tuộc đông lạnh 4,5% với gần 60 triệu USD, nhập khẩu các loại cá biển khác tươi/đông lạnh chiếm 28% với 312 triệu USD Năm 2017 các công ty thủy sản tăng mạnh nhập khẩu tôm, mực, bạch tuộc

và cá ngừ, cá biển khác [2]

1.2 TÌNH HÌNH NGÀNH THỦY SẢN THẾ GIỚI

1.2.1 Tình hình nuôi trồng, khai thác và thương mại thủy sản

Khai thác và nuôi trồng thủy sản là hai nguồn cung cấp thực phẩm, dinh dưỡng, tạo thu nhập và việc làm cho hàng trăm triệu người trên toàn thế giới Năm 2014, do ngành nuôi trồng thủy sản tăng trưởng mạnh và công tác quản lý khai thác được cải thiện nên mức cung ứng thủy sản bình quân đầu người đạt kỷ lục 20 kg/người Hiện ngành nuôi trồng thủy sản cung cấp ½ lượng thủy sản phục vụ tiêu dùng của con người [1], [2], [4]

* Nuôi trồng thủy sản

Với sản lượng khai thác thủy sản tương đối ổn định kể từ cuối những năm 1980, ngành nuôi trồng thủy sản cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ trong nguồn cung cho tiêu dùng Sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2014 đạt 73,8 triệu tấn, với trị giá khoảng 160,2 tỷ USD Trong đó, có 49,8 triệu tấn cá (99,2 tỷ USD), 16,1 triệu tấn nhuyễn thể (19 tỷ USD), 6,9 triệu tấn giáp xác (36,2 tỷ USD) và 7,3 triệu tấn thủy sản khác bao gồm

cả động vật lưỡng cư (3,7 tỷ USD) Nuôi trồng thực vật thuỷ sinh, đặc biệt là rong biển,

đã phát triển nhanh chóng và hiện nay đã có trên khoảng 50 quốc gia Liên quan đến vấn đề an ninh lương thực và môi trường, khoảng một nửa sản lượng nuôi trồng thủy sản của thế giới là các loài phát triển tự nhiên, không cần cho ăn thêm Những loài này bao gồm: cá chép bạc và cá mè hoa, nhuyễn thể hai mảnh vỏ và rong biển [1], [4],[2]

* Khai thác thủy sản

Tổng sản lượng thủy sản khai thác trên thế giới giữ ổn định ở quanh mức 90 triệu tấn/năm, mặc dù đã có những biến động quan trọng về xu hướng khai thác của từng nước, về ngư trường và loài đánh bắt

Tổng sản lượng khai thác thủy sản toàn cầu năm 2014 là 93,4 triệu tấn, trong đó 81,5 triệu tấn là khai thác biển và 11,9 triệu tấn là khai thác nội địa Đối với sản lượng

Trang 25

khai thác biển, Trung Quốc vẫn là nước sản xuất lớn, tiếp đến là Indonesia, Mỹ và Liên Bang Nga Bốn nhóm có giá trị cao (cá ngừ, tôm hùm, tôm và mực-bạch tuộc) đạt kỷ lục mới trong năm 2014 Tổng sản lượng đánh bắt cá ngừ đạt gần 7,7 triệu [1], [4],[2] Sản lượng khai thác nội địa toàn cầu đạt khoảng 11,9 triệu tấn trong năm 2014, tăng 37% so với thập kỷ trước Có 16 quốc gia có sản lượng khai thác nội địa hàng năm ,đạt hơn 200.000 tấn, và chiếm khoảng 80% tổng sản lượng thế giới [1], [4],[2]

Sản lượng khai thác của Trung Quốc năm 2014 đạt 45,5 triệu tấn, chiếm hơn 60% sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn cầu Các nước có sản lượng lớn khác là Ấn Độ, Việt Nam, Bangladesh và Ai Cập [1], [4], [2]

* Tình hình thương mại thủy sản thế giới

Trong những năm gần đây, Trung Quốc là nước sản xuất lớn đồng thời cũng là nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới Quốc gia này cũng là một nhà nhập khẩu lớn

do gia công chế biến từ các nước khác cũng như tiêu thụ các loài không được sản xuất trong nước tăng Tuy nhiên, năm 2015, sau nhiều năm tăng ổn định, thương mại thủy sản của Trung Quốc đã giảm do sản lượng chế biến giảm Na Uy là nước xuất khẩu lớn thứ hai trên thế giới cho thấy giá trị xuất khẩu đạt kỷ lục trong năm 2015 Năm 2014, Việt Nam là nước xuất khẩu lớn thứ ba, vượt Thái Lan, xuất khẩu cũng giảm đáng kể từ năm 2013, chủ yếu do sản xuất tôm giảm vì vấn đề dịch bệnh Trong năm 2014 và năm

2015, Liên minh châu Âu (EU) là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất, tiếp đến là

Mỹ và Nhật Bản Dự báo trong năm 2018, mặc dù nguồn cung đối với một số nhóm hàng hoá lớn như các loài cá nổi và cá hồi salmon dự kiến tăng lên, nhu cầu và nguồn cung toàn cầu đối với các chủng loại khác như cá đáy tăng lên nhanh chóng sẽ làm giảm giá thủy sản chung [1],[4][2]

1.2.2 Xu thế tiêu thụ thủy sản của thế giới

Thủy sản đóng vai trò quan trọng trong an ninh thực phẩm toàn cầu và nhu cầu dinh dưỡng của người tiêu dùng tại các nước công nghiệp và các nước đang phát triển Xuất khẩu thủy sản tăng cả về khối lượng và giá trị phản ánh xu thế toàn cầu hóa trong chuỗi giá trị thủy sản

Mức tiêu thụ đã tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng dân số trong 5 thập kỷ qua, với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 3,2% trong giai đoạn 1961 - 2013, tăng gấp đôi so với tốc độ tăng trưởng dân số Tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người

Trang 26

toàn cầu đạt mức 9,9 kg năm 1960 lên 14,4 kg năm 1990 và 19,7 kg năm 2013, và ước tính sơ bộ năm 2014 và 2015 tiếp tục tăng trưởng vượt mức 20 kg Ngoài việc tăng sản lượng, các yếu tố khác góp phần làm tiêu thụ tăng bao gồm giảm chi phí, cải thiện các kênh phân phối và nhu cầu tăng do dân số tăng, thu nhập tăng và quá trình đô thị hóa Thương mại quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa sự lựa chọn cho người tiêu dùng [1], [4], [26]

Tại các nước đang phát triển, tầng lớp trung lưu ngày càng đông đảo, đã kích thích tiêu thụ thủy sản tăng lên Một số quốc gia lâu nay là các nhà xuất khẩu thủy sản đang chuyển dần một khối lượng thủy sản về thị trường nội địa Còn tại các nước công nghiệp, người tiêu dùng tập trung tiêu thụ các loại thực phẩm bổ dưỡng nên đã đẩy tiêu thụ thủy sản lên cao, trong khi nguồn cung cấp lại không chắc chắn chút nào

Từ các phân tích trên cho thấy tăng trưởng tiêu dùng thủy sản phản ánh xu thế tiêu dùng thực phẩm nói chung trên thế giới Tiêu dùng thực phẩm thủy sản trên đầu người đã tăng lên trong vài thập kỷ qua và thay đổi theo quốc gia và khu vực trên thế giới Khối lượng thủy sản tiêu thụ ngày càng tăng trong khi khai thác thủy sản đã đạt đến hoặc rất gần đến mức sản lượng khai thác bền vững tối đa, việc khai thác quá mức không chỉ gây hậu quả sinh thái tiêu cực, mà còn làm giảm sản lượng cá, dẫn đến hậu quả tiêu cực kinh tế xã hội Từ đó, cho thấy phát triển nuôi trồng thủy sản đang là xu thế phát triển chung của các nước trên thế giới nhằm cân bằng nguồn cung ứng thực phẩm thủy sản cho người tiêu dùng trong khi sản lượng thủy sản khai thác không tăng nhiều trong thời gian tới [26],[28]

1.3 VAI TRÒ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG AN TOÀN THỰC PHẨM THỜI HỘI NHẬP TOÀN CẦU, XU HƯỚNG THẾ GIỚI VÀ RÀO CẢN KỸ THUẬT

Trước khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ngành thủy sản của Việt Nam đã phát triển với tốc độ nhanh, toàn ngành thủy sản nói chung và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nói riêng luôn đạt bước tăng trưởng mạnh mẽ đóng góp quan trong vào phát triển kinh tế - xã hội Tháng 01 năm 2007 sự kiện Việt Nam chính thức là thành viên của WTO tạo điều kiện thuận lợi trong việc thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng thủy sản của Việt Nam, mở rộng thị trường tiêu thụ Số doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu và sản lượng thuỷ sản xuất khẩu tăng vọt Bên cạnh

đó, còn nhiều thách thức mà ngành thủy sản phải đối mặt và một trong những thách thức lớn nhất đối với xuất khẩu thủy sản khi hội nhập là vượt qua rào cản kỹ thuật trong thương mại, đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm của các thị trường

Trang 27

nhập khẩu đưa ra do cạnh tranh thương mại Hàng loạt các thị trường lớn (EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc, Trung Quốc, Liên minh kinh tế Á- Âu…) ngày càng ban hành nhiều quy định nghiêm ngặt về kiểm soát chất lượng thực phẩm nhập khẩu [18] Trước tình hình đó, ngành thủy sản Việt Nam đã tập trung đổi mới phương thức quản lý chất lượng và an toàn sản phẩm thủy sản theo hướng tiếp cận để đáp ứng những đòi hỏi cao nhất của các thị trường lớn [18], [21], [31].

1.3.1 Cơ hội, thách thức sau khi hội nhập kinh tế

* Cơ hội khi hội nhập quốc tế

Được hưởng các ưu đãi trong thương mại hàng hoá, dịch vụ, đầu tư mà các nước

thành viên giành cho nhau thông qua chế độ đãi ngộ Tối huệ quốc (MFN- Most Favoured

Nation), chế độ đãi ngộ quốc gia, được thừa hưởng nhiều thành tựu của các vòng đàm phán đa phương về thuế quan và mậu dịch [18]

Thị trường xuất khẩu ngày càng được ổn định do có nhiều thuận lợi cho việc tiếp cận thị trường, thuận lợi cho việc hoạch định các chính sách về đầu tư và phát triển sản xuất công - nông nghiệp, giảm thiểu những rủi ro trong thương mại quốc tế [18]

Người tiêu dùng hưởng lợi nhiều hơn khi cạnh tranh tự do và bình đẳng, mang lại nhiều sự lựa chọn hơn, giá cả thấp hơn và chất lượng cao hơn[18]

Thu hút hơn nữa đầu tư nước ngoài, đầu tư vào lĩnh vực cộng nghiệp có hàm lượng

kỹ thuật công nghệ cao tạo ra các sản phẩm chất lượng cao[18]

Củng cố được hệ thống pháp luật trong nước[18]

Tranh chấp quốc tế: Khi đã là thành viên của WTO, các tranh chấp về thương mại của Việt Nam sẽ được giải quyết dựa trên những điều luật của tổ chức này Các nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ có lợi từ sự đảm bảo chắc chắn là các đối tác thương mại của họ buộc phải tuân thủ các quy tắc của WTO[18]

* Thách thức khi hội nhập quốc tế

Việt Nam phải hiểu tường tận các luật lệ của WTO được áp dụng cho từng nước, từng mặt hàng, từng khu vực để hướng doanh nghiệp của mình ra thị trường thế giới Cạnh tranh về chất lượng: Khi gia nhập WTO, bên cạnh được hưởng các ưu đãi thuế quan từ các quốc gia thành viên, Việt Nam cũng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ cắt giảm mức thuế quan của mình theo một lộ trình đã vạch sẵn Hàng hóa nhập khẩu sẽ tràn vào Việt Nam nhiều và điều này các doanh nghiệp Việt Nam nếu không chuẩn bị

Trang 28

trước sẽ thất bại trong quá trình cạnh tranh với hàng nhập khẩu[18]

Giải quyết tranh chấp

1.3.2 Quản lý sản xuất, xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Đến nay tất cả các cơ sở sơ chế, chế biến thủy sản quy mô công nghiệp trên toàn quốc đã xây dựng và áp dụng Chương trình quản lý chất lượng theo nguyên tắc HACCP

và được Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản cấp Giấy chứng nhận cở sở

đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm Để đáp ứng yêu cầu riêng của một số thị trường

và khách hàng nên rất nhiều công ty đã xây dựng, áp dụng và đã được chứng nhận các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng & an toàn thực phẩm như BRC, IFS, ISO 22000… Chính vì vậy, để đảm bảo chất lượng sản phẩm nông thủy sản, thực phẩm Việt Nam tiêu dùng trong nước hay xuất khẩu không bị nhiễm vi sinh, không chứa hóa chất bị cấm, hóa chất ngoài danh mục cho phép, hay bị nhiễm hóa chất quá giới hạn cho phép, kim loại nặng làm ảnh hưởng tới tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng cũng như các yếu tố khác làm cho sản phẩm không an toàn Đồng thời, cũng nhằm thực hiện tốt vai trò thành viên của Việt Nam đối với Hiệp định về áp dụng các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật (SPS) thì việc triển khai thực hiện Chiến lược an toàn thực phẩm giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn 2030 là yêu cầu cấp bách đối với mọi tổ chức, cá nhân[26] Đến năm 2005, số doanh nghiệp chế biến thủy sản quy mô công nghiệp của Việt Nam đã tăng gần gấp đôi so với năm 2000 (184%), trong đó số doanh nghiệp được công nhận đạt tiêu chuẩn đảm bảo ATTP và có tên trong danh sách xuất khẩu vào các thị trường lớn liên tục tăng, bình quân 40%/năm Đến năm 2013 đã 585 cơ sở, đến cuối năm 2017 đã có 709 cơ sở chế biến thủy sản quy mô công nghiệp trên toàn quốc đã xây dựng và áp dụng chương trình quản lý chất lượng theo quan điểm HACCP và được Cục Quản lý Chất lượng nông lâm sản và thủy sản và các cơ quan chất lượng miền thực hiện kiểm tra, cấp giấy chứng nhận đử điều kiện bảo đảm ATTP và được phép xuất khẩu sản phẩm thủy sản [21],[5] (Bảng 1.2)

Bảng 1.2 Số lượng doanh nghiệp chế biến thủy sản đạt tiêu chuẩn theo một số thị

trường xuất khẩu chính [2], [21],[5]

Trang 29

TT Chi tiêu Năm 2013 Năm 2017

2 Doanh nghiệp XK TS vào EU, Thuỵ sĩ, Nauy,

4

Doanh nghiệp đạt HACCP xuất khẩu vào Mỹ theo

Nguồn: NAFIQAD 2017

Hiện nay, Cơ quan thẩm quyền Việt Nam (NAFIQAD) đã ký thỏa thuận song phương với một số nước nhập khẩu thủy sản của Việt Nam về việc kiểm tra chứng nhận chất lượng, an toàn thực phẩm nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc thông quan cho các lô hàng xuất khẩu của Việt Nam qua cửa khẩu của các nước đã ký thỏa thuận và hạn chế việc kiểm tra 2 lần trên 1 lô hàng gồm một số nước, thị trường như: EU, Nauy, Thụy

Sỹ, Serbia, Hàn Quốc, Trung Quốc, liên minh kinh tế Á- Âu, Braxin, French Polynesia, New Zealand, Ucraina, Papua new Guinea, Peru, Macedonia, Argentina, Indonesia,

và các nước này đã công nhận NAFIQAD Việt Nam trong kiểm soát đảm bảo ATTP thủy sản, xem bảng 1.3 cụ thể các quy định như sau:

Bảng 1.3 Danh mục các thị trường có yêu cầu Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD) kiểm tra, chứng nhận ATTP thủy sản xuất

- Thực phẩm có nguồn gốc động vật muốn xuất khẩu vào Liên minh EU phải có xuất xứ từ quốc gia, vùng lãnh thổ được kiểm soát

EC/178/2002 về viêc đưa ra các quy định chung về luật ATTP,

Trang 30

bằng hệ thống mà Cơ quan thẩm quyền EU đánh giá tương đương về: hệ thống văn bản pháp lý, năng lực của cơ quan thẩm quyền, điều kiện bảo đảm ATTP của các cơ sở chế biến xuất khẩu và các chương trình giám sát quốc gia về an toàn thưc phẩm

- Các cơ sở chế biến xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU phải có tên trong danh sách được cơ quan thẩm quyền nước xuất khẩu công nhận và Cơ quan thẩm quyền EU chấp thuận

- Lô hàng thủy sản xuất khẩu sang EU phải kèm theo Chứng thư do CQTQ nước xuất khẩu cấp

- Lô hàng thủy sản khai thác khi nhập khẩu vào EU phải có giấy chứng nhận khai thác hợp phép đáp ứng quy định IUU

thành lập CQTQ về ATTP của EU

Quyết định của EC số 882/2004 quy định về kiểm soát nhà nước;

853/2004, 854/2004,: thiết lập điều kiện ATTP đối với thực phẩm và thực phẩm

có nguồn gốc từ động vật, quy định về CQTQ quản lý Nhà nước về thực phẩm và việc nhập khẩu thực phẩm từ nước thứ 3

2074/2005 về mẫu chứng thư cho các sản phẩm thực phẩm

có nguồn gốc từ động vật xuất khẩu vào EU

sản phẩm thủy sản

- Sử dụng các quy định của

EU đối với thực phẩm nhập khẩu

- Các cơ sở có tên trong danh sách được phép xuất khẩu vào EU sẽ được phép xuất khẩu vào Nauy

- Chấp thuận mẫu chứng thư của EU cho lô hàng thực phẩm nhập khẩu từ các nước bên ngoài EU

Hiệp định về Khu vực Kinh tế Châu Âu (EEA)

Trang 31

3 Thụy Sỹ Tất cả các

sản phẩm thủy sản

- Sử dụng các quy định của

EU đối với thực phẩm nhập khẩu

- Các cơ sở có tên trong danh sách được phép xuất khẩu vào EU sẽ được phép xuất khẩu vào Thụy Sỹ

- Chấp thuận mẫu chứng thư của EU cho lô hàng thực phẩm nhập khẩu từ các nước bên ngoài EU

Hiệp định song phương về nông nghiệp giữa EU và Thụy Sỹ

Hướng dẫn của Văn phòng Thú y Liên bang Thụy Sỹ (FVO) ngày 27/01/2009 đối với việc nhập khẩu thực phẩm có nguồn gốc từ động vật từ các nước bên ngoài EU

hàng

Thị trường yêu cầu có chứng thư của Cơ quan thẩm quyền Việt Nam

Công thư 567/2008-05 ngày 02/12/2008 của Cục Thú y – Bộ Nông Lâm nghiệp và Quản lý nước – Cộng hoà Serbia

337-00-5 Hàn Quốc Tất cả các

sản phẩm thủy sản

- Các cơ sở chế biến xuất khẩu thủy sản sang thị trường Hàn Quốc phải có tên trong danh sách do Cơ quan thẩm quyền Hàn Quốc chấp thuận

- Lô hàng thủy sản xuất khẩu sang Hàn Quốc phải kèm theo Chứng thư do NAFIQAD cấp

Thoả thuận hợp tác trong kiểm soát ATTP và kiểm dịch thủy sản, sản phẩm thủy sản giữa Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản Việt Nam

và Cục Quản lý chất lượng sản phẩm thủy sản Hàn Quốc ký ngày 09/12/2016

6 Trung Quốc Tất cả các

sản phẩm thủy sản

- Các cơ sở chế biến xuất khẩu thủy sản sang thị trường Trung Quốc phải có tên trong danh sách do Cơ quan thẩm quyền Trung Quốc chấp thuận

- Lô hàng thủy sản xuất khẩu sang Trung Quốc phải

Thỏa thuận Hợp tác giữa Bộ Nông nghiệp

và PTNT Việt Nam

và Tổng cục Giám sát chất lượng, kiểm nghiệm và kiểm dịch Trung Quốc về kiểm soát ATTP đối với thủy sản và sản phẩm

Trang 32

kèm theo Chứng thư do CQTQ Việt Nam cấp

- Các cơ sở chế biến xuất khẩu thủy sản sang thị trường Liên minh kinh tế Á-Âu phải có tên trong danh sách được phép xuất khẩu

- Lô hàng thủy sản xuất khẩu sang Liên minh Hải quan phải kèm theo Chứng thư do CQTQ Việt Nam

cấp

- Bản ghi nhớ giữa Cơ quan kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga và Cục Quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản

nghiệp và Phát triển nông thôn nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đảm bảo

an toàn thủy sản XNK giữa Liên bang Nga và Việt Nam năm 2011

- Hiệp định khung về Liên minh Hải quan (Nga, Kazacxtan, Belarus) có hiệu lực từ 01/7/2010

- Quyết định số 317 ngày 18/6/2010 của Liên minh Hải quan về các biện pháp vệ sinh thú y và ATTP

- Quyết định số 342 ngày 17/8/2010 của Liên minh kinh tế Á -

Âu

Polynesia

Tất cả các sản phẩm thủy sản

Thị trường yêu cầu có chứng thư của Cơ quan thẩm quyền Việt Nam

- Pháp lệnh 651/CM ngày 7/5/1998 quy định các yêu cầu về vệ sinh thú y và vệ sinh đối với sản phẩm nhập

có nguồn gốc từ động vật nhập khẩu vào French Polynesia

Trang 33

- Công thư số 043/SDR/QAAV/MA

E ngày 04/01/2008 của Cục Phát triển nông thôn – Bộ Nông nghiệp, Chăn nuôi và Lâm nghiệp French Polynesia

9 Đài Loan Thuỷ sản

sống (giáp

nhuyễn thể sống, cá sống, phôi

cá và trứng

cá đã thụ tinh), đồ hộp

Sản phẩm động vặt thủy sản

có vỏ có

mã số HS

0307 ( bao gồm các sản phẩm MT2MV, nhuyễn thể chân bụng)

Thị trường yêu cầu lô hàng có chứng thư của Cơ quan thẩm quyền Việt Nam

09600504390 NC/KT ngày 11/5/2007 của Văn phòng kinh tế, văn hóa Đài Bắc tại

Hà Nội yêu cầu danh sách cơ sở sản xuất cua sống, mẫu giấy chứng nhận và con dấu của Cơ quan thẩm quyền VN

09600505820 NC/KT ngày 19/6/2007 yêu cầu mỗi lần xuất khẩu cua sống vào Đài Loan phải gửi kèm giấy chứng nhận của phía Việt Nam

- Công thư số 0110125

21/1/2011 của Văn phòng kinh tế, văn hóa Đài Bắc tại Hà Nội yêu cầu NAFIQAD cung cấp thông tin về

cơ quan, mẫu chứng thư và mẫu dấu

- Thông báo số

0991303927 ngày 21/3/2011 của Bộ Y tế Đài Loan về yêu cầu

Trang 34

đối với sản phẩm đồ hộp

- Công thư số 0110125

01/6/2011 của Văn phòng kinh tế, văn hóa Đài Bắc tại Hà Nội về kiểm dịch thủy sản sống

- Công thư số

11/8/2016 của Văn phòng kinh tế, văn hóa Đài Bắc tại Hà Nội về việc cấp chứng thư cho sản phẩm động vật

có vỏ của Việt Nam xuất khẩu sang Đài Loan

10 Brasil Tất cả các

sản phẩm thủy sản

- Các cơ sở chế biến xuất khẩu thủy sản sang thị trường Braxin phải có tên trong danh sách do Cơ quan thẩm quyền Braxin công nhận

- Lô hàng thủy sản xuất khẩu sang Braxin phải kèm theo Chứng thư do CQTQ Việt Nam cấp

30/12/2010 quy định đăng ký nhãn sản phẩm có nguồn gốc động vật nhập khẩu vào Brasil

- Điều 486 Nghị định

29/3/2017 quy định

về nhập khẩu sản phẩm có nguồn gốc động vật

Zealand

Cá tra, basa fillet đông lạnh;

NT2MV

Lô hàng Cá tra, basa fillet đông lạnh; NT2MV xuất khẩu sang New Zealand phải kèm theo Chứng thư

do CQTQ Việt Nam cấp

20/3/2009 về thực hiện Điều 22 Luật An toàn sinh học 2003 của

Cơ quan An ninh sinh học New Zealand; Thoả thuận hợp tác ký

Trang 35

ngày 22/01/2010 giữa

Cơ quan An toàn thực phẩm New Zealand và NAFIQAD

basa đông lạnh

- Cơ sở chế biến xuất khẩu

cá tra, basa sang thị trường Ucraina phải có tên trong danh sách do Cơ quan thẩm quyền Ucraina công nhận

- Lô hàng cá tra, basa xuất khẩu sang Ucraina phải được CQTQ Việt Nam kiểm tra cấp giấy chứng nhận (Chứng thư)

Sắc lệnh số 71 ngày 14.6.2004 của Cơ quan Thuốc Thú y: Yêu cầu kiểm tra thú ý đối với hàng hóa nhập khẩu vào Ucraina Công thư số 15-3-1-

14/01/2011 của Uỷ ban Nhà nước về Thuốc thú y Ucraina

13 Papua new

Guinea

Cá tra, basa đông lạnh

- Lô hàng thủy sản xuất khẩu sang Papua New Guinea phải được CQTQ Việt Nam kiểm tra cấp giấy chứng nhận (Chứng thư)

28/02/2011 của Cơ quan Thanh tra và Kiểm dịch nông nghiệp Papua New Guinea

sản phẩm thủy sản

- Lô hàng thủy sản xuất khẩu sang Peru phải được CQTQ Việt Nam kiểm tra cấp giấy chứng nhận (Chứng thư)

Quy định số 2010-ITP/SANIPES ngày 16/9/2010 của SANIPES về yêu cầu đối với sản phẩm thủy sản, thức ăn chăn nuôi và thức ăn nuôi trồng thủy sản nhập khẩu

041-15 Macedonia Tất cả các

sản phẩm thủy sản

- Lô hàng thủy sản xuất khẩu sang Macedonia phải được CQTQ Việt Nam kiểm tra cấp giấy chứng nhận (Chứng thư)

Luật Vệ sinh Thú y và Bảo vệ Sức khỏe cộng đồng (2007) của Macedonia

16 Indonesia Tất cả các

sản phẩm thủy sản

NAFIQAD kiểm tra công nhận đủ điều kiện bảo đảm ATTP của Việt Nam được

Thỏa thuận về kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm thủy sản giữa NAFIQAD

Trang 36

phép xuất khẩu sang thị trường Indonesia

- Lô hàng thủy sản xuất khẩu vào Indonesia phải kèm theo chứng thư do NAFIQAD cấp

và Cục Kiểm tra, Kiểm dịch Thủy sản Indonesia (FQIA) ký năm 2011

17 Argentina Tất cả các

sản phẩm thủy sản

- Các cơ sở chế biến xuất khẩu thủy sản sang thị trường Achentina phải có tên trong danh sách do Cơ quan thẩm quyền Argentina (SENASA) chấp thuận

- Lô hàng thủy sản xuất khẩu sang Argentina phải được CQTQ Việt Nam kiểm tra cấp giấy chứng nhận (Chứng thư)

SENASA về việc thanh tra tại nước xuất khẩu sản phẩm, phụ phẩm có nguồn gốc từ động, thực vật

Achentina

sản phẩm tôm

Lô hàng tôm và sản phẩm tôm xuất khẩu sang Úc phải được CQTQ Việt Nam kiểm tra cấp chứng thư

Thông báo An ninh sinh học số 2017-12 ngày 30/6/2017 cuả

cơ quan An ninh sinh học Úc về điều kiện nhập khẩu đối với tôm và sản phẩm dùng làm thực phẩm

19 Panama Cá (Cá da

trơn, cá ngừ), nhuyễn thể

- Cơ sở chế biến xuất khẩu

cá da trơn sang Panama phải có tên trong danh sách

do Cơ quan thẩm quyền Panama (AUPSA) công nhận

- Lô hàng cá ( cá da trơn, cá ngừ) và nhuyễn thể xuất khẩu sang Panama phải được CQTQ Việt Nam kiểm tra cấp giấy chứng nhận (Chứng thư)

- Quyết định số AUPSA-DINAN-

01/4/2016 quy định điều kiện an toàn thực phẩm đối với cá da trơn nhập khẩu vào Panama

- Quyết định số AUPSA-DINAN 008-

2018 ngày 13/4/2018 quy định về điều kiện

an toàn thực phẩm đới với sản phẩm nhuyễn

Trang 37

thể nhập khẩu vào Panama

- Quyết định số AUPSA-DINAN 007-

2014 ngày 13/01/2014 quy định

về điều kiện an toàn thực phẩm đới với sản phẩm cá ngừ nhập khẩu vào

Panama

20 Montenegro Tất cả các

sản phẩm thủy sản

Lô hàng sản phẩm xuất khẩu sang Montenegro phải được CQTQ Việt Nam kiểm tra cấp giấy chúng (Chứng thư

Thông báo của Cục

An toàn thực phẩm, Thú y và dịch tể học,

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

Montenegro yêu cầu các điều kiện bảo đảm ATTP và áp dụng các chỉ tiêu ATTP của Liên minh Châu Âu (EU) kể từ ngày 01/8/2016

GAP: Good Agricultural Pratices

Thực hành nông nghiệp tốt là những nguyên tắc được thiết lập nhằm đảm bảo một môi trường sản xuất an toàn, sạch sẽ, thực phẩm phải đảm bảo không chứa các tác nhân gây bệnh như chất độc sinh học và hóa học, đồng thời sản phẩm phải đảm bảo an toàn

Trang 38

từ ngoài đồng đến khi sử dụng Đề ra một hệ thống tổ chức và biện pháp để có thể kiểm soát được toàn bộ quá trình sản xuất và cung ứng sản phẩm [19]

ASC: Aquaculture Stewaship Council (Hội đồng quản lý nuôi trồng thúy sản)

Chứng nhận theo tiêu chuẩn ASC là sự xác nhận cấp quốc tế đối với thủy sản được nuôi có trách nhiệm, giảm thiểu tối đa tác động xấu lên môi trường, hệ thống sinh thái, cộng đồng dân cư và đảm bảo tốt quy định về lao động [19]

BAP: Best Aquaculture Practices - BAP

Bộ tiêu chuẩn Thực hành nuôi trồng thủy sản tốt nhất BAP do Liên minh Nuôi trồng Thủy sản Toàn cầu (Global Aquaculture Alliance - GAA) thiết lập với mục tiêu thúc đẩy sản xuất thủy sản có trách nhiệm, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực bảo

vệ môi trường, trách nhiệm xã hội, đảm bảo an sinh động vật, an toàn thực phẩm và chương trình truy xuất nguồn gốc tự nguyện dành cho các đối tượng là trại nuôi và trại sản xuất giống thủy sản, nhà máy chế biến thủy sản, nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản, các phòng thí nghiệm đánh giá an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm thủy sản [19] Những cơ sở được chứng nhận là đạt tiêu chuẩn BAP có thể sử dụng dấu chứng chỉ để quảng cáo và in dấu đó trên nhãn hàng hóa sản phẩm bán buôn của mình [19]

HACCP: Hazard Analysis and Critical Control Points [20], [24, [25]

HACCP là hệ thống quản lý mang tính phòng ngừa nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm thông qua nhận biết mối nguy, thực hiện các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát tại các điểm tới hạn Các nguyên lý của HACCP được thống nhất trên toàn thế giới và

có thể áp dụng trong tất cả các nghành sản xuất thực phẩm và đồ uống, trong việc phân phối và bán sản phẩm Hệ thống này có thể được áp dụng cho các sản phẩm đang tiêu thụ trên thị trường cũng như cho các sản phẩm mới [19],[20],[22], [24, [25]

Đến tháng 5 năm 2017, Việt Nam có 709 cơ sở sở chế, chế biến thủy sản trong toàn quốc áp dụng HACCP và được chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm ATTP, trong đó

530 cơ sở được phép xuất khẩu thủy sản vào thị trường EU

GMP (Good Manufacturing Practice) [20], [24, [25]

GMP là Quy phạm thực hành sản xuất tốt nhằm đảm bảo điều kiện để sản xuất tạo

ra sản phẩm có chất lượng bao gồm những nguyên tắc chung, những quy định, hướng dẫn các nội dung cơ bản về điều kiện sản xuất; áp dụng cho các cơ sở sản xuất, gia công, đóng gói thực phẩm, dược phẩm, thiết bị y tế, mỹ phẩm …, nhằm đảm bảo sản phẩm đạt chất

Trang 39

lượng và an toàn GMP là một phần cơ bản trong hệ thống quản lý an toàn thực phẩm, là điều kiện tiên quyết cho việc phát triển hệ thống HACCP, ISO [19],[20],[22], [24, [25]

SSOP (Sanitation Standard Operating Procedures) [20], [24, [25]

Quy phạm thực hành vệ sinh và hướng dẫn các quy trình làm vệ sinh và quy định

về kiểm soát vệ sinh trong một cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm SSOP kiểm soát tất cả những yếu tố liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm của sản phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, từ khâu tiếp nhận nguyên liệu đến thành phẩm cuối cùng đảm bảo không xảy ra việc nhiễm bẩn SSOP là một chương trình tiên quyết không thể thiếu trong Chương trình quản lý chất lượng theo HACCP và hổ trợ GMP để kiểm soát yếu

tố vệ sinh nhằm đảm bảo tạo ra sản phẩm có chất lượng, ATTP [19],[20],[22], [24, [25]

TQM (Total Quality Management- TQM) [19]

Theo tiêu chuẩn TCVN ISO 8402:1999: Quản lý chất lượng toàn diện (TQM) là một phương pháp quản trị một tổ chức tập trung vào chất lượng, dựa vào sự tham gia của tất cả các thành viên, nhằm đạt tới sự thành công lâu dài nhờ việc thỏa mãn khách hàng và đem lại lợi ích cho các thành viên của tổ chức đó và cho cả xã hội

ISO: Quản lý chất lượng thực phẩm theo tiêu chuẩn ISO [19]

ISO là một tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá, có tên đầy đủ là: the International Standards Organization

Tiêu chuẩn ISO 22000: 2005 (TCVN ISO 22000:2007): Hệ thống quản lý an toàn

thực phẩm – yêu cầu đối với các tổ chức trong chuỗi thực phẩm (Food safety management systems - Requirements for any organization in the food chain) do Tổ chức

tiêu chuẩn hóa quốc tế ban hành nhằm xây dựng hệ thống kiểm soát vệ sinh an toàn trong quá trình sản xuất, chế biến thực phẩm có phạm vi áp dụng mang tính quốc tế, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu ISO 22000 theo tiêu chuẩn quốc tế đáp ứng được các yêu cầu quản lý an toàn trong dây chuyền cung cấp thực phẩm một cách có hệ thống và đề ra giải pháp thống nhất cho việc thực hành tốt hệ thống này trên phạm vi toàn cầu Thêm vào đó, hệ thống an toàn thực phẩm phù hợp theo tiêu chuẩn ISO 22000

có thể được chứng nhận – điều này đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các nhà cung cấp trong lĩnh vực thực phẩm

BRC là viết tắt của British Retailer Consortium [19]

BRC là tiêu chuẩn Gobal Standard for Food Safety do tổ chức British Retailer

Trang 40

Consortium thiết lập, được thiết lập thích hợp cho việc kiểm soát chất lượng và an toàn thực phẩm[19] Khi tổ chức xây dựng và đáp ứng theo tiêu chuẩn BRC, tổ chức có hệ thống quản lý an toàn thực phẩm có thể tạo ra môi trường làm việc giảm thiểu rủi ro liên quan an toàn thực phẩm, sản phẩm được tạo ra có chất lượng và an toàn, nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và yêu cầu luật pháp

IFS có tên đầy đủ là International Food Standard [19]

Tiểu chuẩn thực phẩm quốc tế về an toàn thực phẩm Khi tổ chức xây dựng và đáp ứng theo tiêu chuẩn IFS, tổ chức có hệ thống quản lý an toàn thực phẩm có thể tạo

ra môi trường làm việc giảm thiểu rủi ro liên quan an toàn thực phẩm, sản phẩm được tạo ra an toàn, nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và yêu cầu luật pháp [19] Các cở sở sản xuất, xuất khẩu sản phẩm thủy sản được chứng nhận IFS thì sản phẩm của cơ sở đó được phép bán lẻ vào Đức, Pháp…

1.3.4 Chương trình giám sát quốc gia về ATTP thủy sản

Từ năm 1999 đến nay, Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (Cục)

đã chủ trì triển khai các Chương trình giám sát dư lượng các chất độc hại trong thủy sản nuôi (đối với 13 đối tượng thủy sản nuôi/166 vùng nuôi/37 tỉnh, thành phố) và Chương trình giám sát vệ sinh, an toàn thực phẩm vùng thu hoạch nhuyễn thể 2 mảnh vỏ (đối với 04 đối tượng nhuyễn thể /13 vùng thu hoạch /08 tỉnh, thành phố) [21]

Ngoài ra, hàng năm Bộ Nông Nghiệp, Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản đã triển khai nhiều chương trình giám sát, lấy mẫu sau thu hoạch để kiểm soát

an toàn thực phẩm đối với các đối tượng nguyên liệu, sản phẩm đã chế biến đang bán trên thị trường Việt Nam

THỰC PHẨM TẠI VIỆT NAM

Đối với nước ta cũng như nhiều nước đang phát triển, lương thực thực phẩm là một loại sản phẩm chiến lược, ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa chính trị, xã hội rất quan trọng

Bảo đảm an toàn thực phẩm nhằm tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, thực phẩm không những cần được sản xuất, chế biến, bảo quản phòng tránh ô nhiễm các loại vi sinh vật mà còn không được chứa các chất hóa học tổng hợp hay tự nhiên vượt quá mức quy định cho phép của tiêu chuẩn

Ngày đăng: 10/07/2020, 23:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w