BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ THÚY SƯƠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN; XỬ LÝ ĐƠN, THƯ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CỦA CÔNG DÂN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THÚY SƯƠNG
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN; XỬ LÝ ĐƠN, THƯ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CỦA CÔNG DÂN GỬI ĐẾN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI –
THỰC TIỄN TẠI TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Ninh Thuận – Năm 2020
Trang 3BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THÚY SƯƠNG
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN; XỬ LÝ ĐƠN, THƯ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CỦA CÔNG DÂN GỬI ĐẾN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI –
THỰC TIỄN TẠI TỈNH NINH THUẬN
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Dương Kim Thế Nguyên
Ninh Thuận - Năm 2020
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của Tôi Tất cả các tài liệu và số liệu trình bày trong Luận văn là trung thực và có trích dẫn nguồn gốc
rõ ràng Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về nội dung mà Tôi cam đoan
Trang 7MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Tóm tắt - Abstract
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Tình hình nghiên cứu: 3
3 Câu hỏi nghiên cứu đề tài: 5
4 Giả thuyết nghiên cứu: 5
5 Phạm vi nghiên cứu: 6
6 Phương ph p nghiên cứu 6
7 Bố cục của luận văn: 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN; XỬ LÝ ĐƠN, THƯ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CỦA CÔNG DÂN GỬI ĐẾN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI 8
1.1 Kh i niệm liên quan đến hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố c o, kiến nghị, phản nh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội 8
1.1.1 Khái niệm tiếp công dân 8
1.1.2 Khái niệm về khiếu nại, tố cáo 8
1.1.3 Khái niệm kiến nghị, phản ánh 10
1.1.4 Khái niệm về hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội 11
Trang 81.2 Đặc điểm và ý nghĩa của việc đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện ph p luật về tiếp công dân; xử lý đơn, thƣ khiếu nại, tố c o, kiến
nghị, phản nh của công dân 12
1.2.1 Đặc điểm của việc đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện pháp luật về tiếp công dân; xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân 12
1.2.1.1 Đặc điểm về địa vị pháp lý của chủ thể thực hiện 12
1.2.1.2 Đặc điểm về vai trò của chủ thể thực hiện 14
1.2.1.3 Đặc điểm về mục đích thực hiện của chủ thể 15
1.2.2 Ý nghĩa của việc đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện pháp luật về tiếp công dân; xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân 16
1.2.2.1 Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện pháp luật về tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân nhằm góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền 16
1.2.2.2 Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện pháp luật tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân góp phần nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của các cơ quan có thẩm quyền 18
1.2.2.3 Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện pháp luật tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân góp phần nâng cao năng lực hoạt động của đại biểu Quốc hội 18
1.3 Hệ thống c c quy định ph p luật điều chỉnh hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thƣ khiếu nại, tố c o, kiến nghị, phản nh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội 20
1.3.1 Các quy định chung về hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân 20
Trang 91.3.2 Các quy định đặc thù về hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội 21
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 23 CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN; XỬ LÝ ĐƠN, THƯ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CỦA CÔNG DÂN GỬI ĐẾN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH NINH THUẬN 24 2.1 C c yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố c o, kiến nghị, phản nh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận 24
2.1.1 Về cơ cấu của đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận, nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV 24
2.1.1.1 Khái quát về cơ cấu của đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận, nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV 24
2.1.1.2 Những tác động thuận lợi từ cơ cấu của đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận, nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV 25
2.1.1.3 Những tác động không thuận lợi từ cơ cấu của đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận, nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV 26 2.1.2 Về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận 27 2.1.2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận 27
2.1.2.2 Những tác động của đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận đến hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư của công dân 28
Trang 102.2 Thực trạng và những bất cập trong hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố c o, kiến nghị, phản nh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận 30
2.2.1 Thực trạng và những bất cập trong hoạt động tiếp công dân của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận 30
2.2.1.1 Thực trạng triển khai hoạt động tiếp công dân của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận 30
2.2.1.2 Kết quả đạt được và những bất cập trong hoạt động tiếp công dân của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận 31 2.2.2 Thực trạng và những bất cập trong hoạt động xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận 37
2.2.2.1 Thực trạng đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân và hoạt động xử lý đơn, thư của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận 37
1.2.2.2 Kết quả đạt được và những bất cập trong hoạt động xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận 39
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 46 CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP CÔNG DÂN; XỬ LÝ ĐƠN, THƯ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CỦA CÔNG DÂN GỬI ĐẾN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH NINH THUẬN 47 3.1 Hoàn thiện c c quy định của ph p luật 47
3.1.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội 47
3.1.1.1.Hoàn thiện pháp luật về đại biểu Quốc hội 47
Trang 113.1.1.2 Hoàn thiện pháp luật về Đoàn đại biểu Quốc hội 51 3.1.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội 52
3.1.2.1 Đối với hoạt động tiếp công dân, 52 3.1.2.2 Đối với việc tiếp nhận, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội 53 3.1.3 Hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan 56 3.1.3.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về tiếp công dân, pháp luật
về khiếu nại, pháp luật về tố cáo 56
3.1.3.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật về đất đai 61
3.2 C c giải ph p nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thƣ khiếu nại, tố c o, kiến nghị, phản nh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận 64
3.2.1 Giải pháp nhằm đảm bảo và hỗ trợ cho hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận 64
3.2.1.1 Cơ chế về chế độ, chính sách nhằm đảm bảo các hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội 64
3.2.1.2 Cơ chế về bộ máy tham mưu, giúp việc cho hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội 66 3.2.2 Các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận 68
3.2.2.1 Hoàn thiện cơ chế về đảm bảo trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiếp công dân, giải quyết đơn, thư của công dân tại địa phương 68
Trang 123.1.2.2.Giải pháp nhằm nâng cao nhận thức pháp luật của công dân tại địa phương trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiếp công dân, pháp luật về khiếu nại, tố cáo 70
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 72 KẾT LUẬN CHUNG 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 13DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Đại biểu chuyên trách : Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách
Đại biểu không chuyên trách : Đại biểu Quốc hội hoạt động không chuyên trách
Đoàn ĐBQH tỉnh : Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận
Đơn, thư của công dân : Đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của
công dân GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
HĐND tỉnh : Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Thuận
Nghị quyết số 228 : Nghị quyết số 228/1999/NQ-UBTVQH10, ngày
27/10/1999 của UBTVQH về việc ĐBQH tiếp công dân, tiếp nhận, chuyển đơn, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân Nghị quyết số 759 : Nghị quyết số 759/2014/UBTVQH13, ngày
15/5/2014 của UBTVQH quy định chi tiết về hoạt động tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, ĐBQH, HĐND và đại biểu HĐND các cấp
Thành phố PRTC : Thành phố Phan Rang – Tháp Chàm
UBND tỉnh : Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận
Văn phòng Đoàn ĐBQH tỉnh : Văn phòng Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận
Văn phòng HĐND tỉnh : Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Thuận Văn phòng UBND tỉnh : Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận
Trang 14TÓM TẮT
Pháp luật quy định đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội Có thể thấy việc thực hiện pháp luật về hoạt động này của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận (từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV đến hết năm 2019) trong thực tiễn cũng còn một số bất cập, hạn chế Điều này chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu và sự mong đợi của Nhân dân địa phương
Bằng phương pháp phân tích thực tiễn, tổng hợp, so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật, tác giả sẽ tìm ra nguyên nhân làm cho việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận vì sao chưa đạt được kết quả như mong đợi Từ đó, tác giả sẽ kiến nghị những giải pháp nhằm làm cho hoạt động này được thực hiện hiệu lực, hiệu quả hơn trong thời gian tới
Từ khóa: Tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị
Trang 15ABSTRACT
The Vietnamese law stipulates that the National Assembly deputies and the local Delegation of the National Assembly deputies have the responsibility to receive citizens’ complaints and/or concerns, which may include; handling complaints, denunciations, petitions and reflections of citizens However, it is the author’s belief that there are still some inadequacies to the implementation of this law by the National Assembly deputies and the local Delegation of the National Assembly deputies in Ninh Thuan province (from the beginning of the XIV National Assembly's term to the end of 2019) This is specific to not meeting all of the requirements and expectations of the local people
By analyzing practices, synthesizing and comparing with the provisions of the above noted law, the author will find the cause of the implementation of the law on citizen reception; handling citizens' complaints, denunciations, petitions and recommendations sent to the National Assembly deputies and the local Delegation
of the National Assembly deputies in Ninh Thuan province The author will identify why the deputies have not achieved the expected results and will then make recommendations to make these activities more effective and enforceable in the future
Keywords: citizen reception, complaints, denunciations, recommendations
Trang 17đi vào nề nếp và đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, trong thời gian qua,
số lượng đơn, thư của công dân vẫn còn nhiều và tình hình vẫn còn phức tạp; trong thực tế đã xuất hiện trường hợp tạo thành những điểm nóng, gây nên hậu quả, hệ lụy về chính trị, kinh tế, xã hội khó khắc phục (ví dụ như: vụ Tiên Lãng, Thủ Thiêm, Đồng Tâm…) đều xuất phát từ nguyên nhân do đơn, thư của công dân chưa được giải quyết chưa dứt điểm, phù hợp, để kéo dài, gây nên sự bức xúc trong dân chúng
“Là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân” 3 , theo quy định
của pháp luật 4, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) phải có trách nhiệm tiếp công dân; xử lý
1 Điều 30, Hiến pháp năm 2013
2 Khoản 1, Điều 2, Hiến pháp năm 2013
3 Khoản 2, Điều 21, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014
4
Điều 79, Hiến pháp 2013; Điều 21, Luật Tiếp công dân; Điều 28, 43, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014; Điều 47, 48, 54, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 20115; Nghị quyết số 228/1999/NQ-UBTVQH10, ngày 27/10/1999 của UBTVQH về việc ĐBQH tiếp công dân, tiếp nhận, chuyển đơn, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân (gọi tắt là Nghị quyết số 228)
Trang 18đơn, thư của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH Trong thời gian qua, các ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận (Đoàn ĐBQH tỉnh) đã phát huy vai trò và thực hiện ngày càng tốt hơn hoạt động này Có những trường hợp đơn, thư của công dân bị đùn đẩy, kéo dài, sau khi được ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh tiếp nhận, xử lý theo quy định, thì quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân đã được đảm bảo5, đã tạo nên lòng tin nhất định của công dân đối với việc ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh thực hiện pháp luật về hoạt động này Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, thực tiễn thực hiện pháp luật tại địa phương đã cho thấy vẫn còn có những bất cập nhất định, chưa thật sự tương xứng với vai trò của ĐBQH và Đoàn ĐBQH trong việc thực hiện pháp luật về hoạt động này, nên chưa thật sự đáp ứng hết yêu cầu và sự mong đợi của Nhân dân địa phương, khi họ tìm đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh để bày tỏ ý kiến, kiến nghị và gửi gắm đơn, thư Do vậy, hoạt động này cần phải được nghiên cứu sâu kỹ hơn, phân tích thêm về lý luận và thực tiễn thực hiện, nhằm tìm ra lý do vì sao hoạt động này chưa thật sự hiệu quả, làm rõ được những khó khăn nào cần khắc phục, những thuận lợi nào cần được phát huy và giải pháp nào cần thực hiện, góp phần làm cho việc thực hiện pháp luật về hoạt động này của ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh đạt chất lượng, hiệu quả tốt hơn
Xuất phát từ thực tiễn công tác tham mưu, giúp việc cho ĐBQH và Đoàn
ĐBQH tỉnh trong mảng công tác này, Tôi chọn đề tài “Pháp luật về hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH - Thực tiễn tại tỉnh Ninh Thuận” làm đề tài nghiên cứu,
5 Ví dụ: Trường hợp vợ chồng ông Hà Thuận và bà Võ Thị Phú (địa chỉ: thôn Lương Cang 1, xã Nhơn Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận) yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp giấy CNQSDĐ đối với diện tích 441,5m2 cho vợ chồng ông, bà theo kết quả thi hành bản án dân sự phúc thẩm số 06/2012/DS-PT ngày 19/4/2012 của TAND tỉnh Ninh Thuận Tuy nhiên, UBND thành phố Phan Rang - Tháp Chàm (PRTC) nhiều lần trả hồ sơ, không giải quyết, vì cho rằng diện tích 441,5m 2 là tài sản riêng của ông Hà Thuận nên không đồng ý cấp giấy CNQSDĐ đứng tên cả hai vợ chồng (mục đích xác định tài sản riêng là nhằm để đảm bảo cho việc ông Hà Thuận phải thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với một bản án hình sự khác theo công văn số 677/CTHA-NV ngày 29/11/2012 và công văn số 173/CTHA-NV ngày 26/3/2013 của Cục Thi hành án dân
sự tỉnh Ninh Thuận về việc đề nghị phối hợp ngăn chặn tẩu tán tài sản) Đoàn ĐBQH tỉnh đã gửi đến UBND thành phố PRTC công văn số 13/ĐBQH ngày 19/3/2013 đề nghị xem xét lại việc giải quyết khiếu nại của công dân (trên cơ sở Đoàn ĐBQH tỉnh phân tích các quy định của pháp luật), kết quả là UBND thành phố PRTC đã ký ngay trong ngày 19/3/2013 để cấp GCNQSD số BN 952493, thửa đất số 23, tờ bản đồ số 11a, phường Đô Vinh, thành phố PRTC, tỉnh Ninh Thuận, diện tích 441,5m 2 cho vợ chồng ông Hà Thuận và bà
Võ Thị Phú
Trang 19với mong muốn góp thêm góc nhìn thực tiễn khi nghiên cứu về chủ đề này Tôi cho rằng, đây cũng là cách thiết thực để góp phần làm cho tình hình kinh tế và xã hội ở địa phương phát triển ổn định Bởi suy cho cùng, kinh tế nếu đặt trong mối quan hệ với chính trị, thì có ổn định được chính trị mới có thể phát triển được về kinh tế Nếu ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh thực hiện hiệu quả pháp luật về hoạt động này, sẽ
góp phần làm “yên dân”, góp phần làm cho công dân tin tưởng vào Nhà nước và
chính quyền địa phương Và khi công dân đã có niềm tin, thì công dân mới yên tâm làm việc, mới mong muốn được cống hiến, từ đó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển
về kinh tế, xã hội tại địa phương và của cả nước
2 Tình hình nghiên cứu:
Trong giai đoạn hiện nay, các đề tài nghiên cứu về việc thực hiện pháp luật nhằm hướng đến bảo vệ quyền con người, quyền công dân, là những đề tài rất được
quan tâm, bởi nó phản ánh rõ nét bản chất “dân chủ” mà Nhà nước muốn hướng
đến, trên cơ sở thượng tôn pháp luật
Đối với nhóm nghiên cứu đề tài liên quan đến chủ đề này dưới dạng tài liệu tham khảo, có thể kể đến các tài liệu sau đây:
Cuốn sách “Tiếp công dân, Xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại tố cáo trong tình hình mới” của Thanh tra Chính phủ, Nhà xuất bản Hà Nội, xuất bản năm 2006,
đã nêu một số kinh nghiệm thực tiễn của các ngành, các địa phương, đồng thời đặt
ra một số vấn đề cần phải giải quyết đối với hoạt động này trong tình hình mới
Cuốn “Cẩm nang tiếp công dân, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân” do Ban Dân nguyện thuộc UBTVQH, biên soạn năm 2015, với hình thức tổng
hợp, lựa chọn các nội dung dưới dạng câu hỏi và trả lời, đưa ra một số tình huống pháp lý có liên quan và cách giải quyết tình huống một cách dễ hiểu và tương đối đầy đủ, cuốn sách này dùng để làm tài liệu phục vụ đại biểu dân cử trong công tác tiếp công dân, xử lý và giám sát việc giải quyết đối với đơn, thư của công dân
Bài viết “Nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo Luật Tiếp công dân năm 2013” của Trần Thị Minh Tâm, đăng trên Tạp chí
Quản lý Nhà nước năm 2015, số 230 (3/2015), đã phân tích những kết quả, hiệu quả
Trang 20của Luật Tiếp công dân, đồng thời đã góp phần làm cho việc giải quyết đơn, thư của công dân theo đó đảm bảo hơn Bên cạnh đó, một số khó khăn, bất cập trong thực tế thực hiện Luật Tiếp công dân cũng được tác giả phân tích, từ đó tiếp tục việc nghiên cứu để hoàn thiện các quy định về hoạt động này
Với góc độ nghiên cứu khoa học về chủ đề này dưới dạng Luận án, Luận văn,
Đề tài về “Đổi mới công tác tiếp dân trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo” là Luận
văn thạc sĩ Luật, của tác giả Trần Thị Thúy Mai, hoàn thành năm 2010, đã hướng tới làm rõ những vấn đề liên quan đến hoạt động tiếp công dân, nhằm giải quyết đơn, thư của công dân trong lĩnh vực hành chính, và đề ra giải pháp đổi mới đối với
công tác tiếp công dân, nhằm đáp ứng cho yêu cầu quản lý Nhà nước;
Luận án tiến sĩ Quản lý Hành chính với đề tài về “Giải quyết khiếu nại, tố cáo
- phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay”, của tác giả Vũ Duy Duẩn, bảo vệ năm 2014, lại hướng đến
mục đích nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và
đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác này, nhằm đảm bảo kỷ luật quản
lý hành chính Nhà nước và đảm bảo pháp chế
Gần với đề tài mà Tôi quan tâm là Luận văn thạc sĩ Luật “Thực hiện pháp luật của Đại biểu Quốc hội trong việc tiếp nhận, xử lý, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân” của tác giả Nguyễn Mai Hạnh, thực
hiện năm 2009 Tuy nhiên, đề tài này chỉ quan tâm đến việc xử lý đơn, thư của công dân, mà không nghiên cứu sâu hoạt động tiếp công dân của ĐBQH và Đoàn ĐBQH, trong khi các hoạt động này có mối liên hệ với nhau
Trang 21Do vậy, cũng với chủ đề được nhiều tác giả nghiên cứu trước đây, Tôi chọn vấn đề nghiên cứu là phân tích sâu kỹ hơn đối với chủ thể là ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận, trong việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân; xử lý đơn,
thư của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH (thực tiễn tại tỉnh Ninh Thuận, từ
đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, đến hết năm 2019) Từ cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động tại địa phương, tác giả sẽ có phân tích, đánh giá, nêu các vấn đề bất cập phát sinh từ thực tế, để từ đó đề ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động này
3 Câu hỏi nghiên cứu đề tài:
Đề tài này được thực hiện nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu như sau: 3.1 Pháp luật quy định như thế nào về hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH?
3.2 Trong thời gian qua, thực tiễn thực hiện pháp luật của ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận về hoạt động này như thế nào? Có bất cập gì trong thực tiễn thực hiện so với quy định của pháp luật có liên quan?
3.3 Cần thực hiện các giải pháp nào để ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh thực hiện hiệu quả hơn đối với hoạt động này?
4 Giả thuyết nghiên cứu:
Trên cơ sở đề tài luận văn đã chọn và các câu hỏi nghiên cứu được đưa ra, Tôi đặt ra giả thuyết cho việc nghiên cứu đề tài này như sau:
4.1 Quy định của pháp luật về hoạt động tiếp công dân; xử đơn, thư của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH và quy định của pháp luật có liên quan cần phải được hoàn thiện hơn để hoạt động này thực sự hiệu quả
4.2 Thực tiễn trong việc thực hiện pháp luật về hoạt động tiếp công dân; xử đơn, thư của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH tại địa phương chưa đạt được kết quả như mong đợi của công dân, và chưa tương xứng với quy định của pháp luật về vai trò của ĐBQH và Đoàn ĐBQH về hoạt động này
4.3 Nhận thức pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền giải quyết và của
công dân còn chưa đầy đủ đối với hoạt động tiếp công dân; xử đơn, thư của công
Trang 22dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH, nên đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động này
Phạm vi mà Đề tài khảo sát chỉ giới hạn ở hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn,
thư của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận (trên địa bàn
tỉnh Ninh Thuận)
Thông tin, số liệu và vụ/việc được thu thập và xử lý chủ yếu từ thực tiễn của
hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV đến hết năm 2019 (từ tháng 7/2016 đến hết năm 2019)
6 Phương ph p nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp ở Chương 1 để làm rõ cơ sở
lý luận, căn cứ pháp lý về hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH
Phương pháp tổng hợp, so sánh, quan sát, phân tích các tình huống thu thập từ thực tiễn sẽ được sử dụng ở Chương 2 để làm sáng tỏ giữa quy định pháp luật và thực tiễn hoạt động tiếp công dân, xử lý đơn, thư của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận trong những năm qua đã đạt được kết quả gì và còn tồn tại những hạn chế nào? Nguyên nhân vì sao?
Chương 3 tác giả sẽ sử dụng phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các quy định pháp luật và thực tiễn, từ đó đề ra các giải pháp phù hợp
7 Bố cục của luận văn:
Luận văn gồm: Phần mở đầu; 3 Chương nội dung và Kết luận (kèm với danh mục tài liệu tham khảo); trong đó, nội dung chính của ba chương như sau:
Trang 23Chương 1: “Cơ sở pháp lý về hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH” Chương 2: “Thực tiễn hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận”
Chương 3: “Kiến nghị các giải pháp nhằm đảm bảo việc thực hiện pháp luật
về tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận”
Trang 24CHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN; XỬ LÝ ĐƠN, THƯ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CỦA CÔNG DÂN GỬI ĐẾN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI 1.1 Khái niệm liên quan đến hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội
và Đoàn đại biểu Quốc hội
1.1.1 Khái niệm tiếp công dân
“Tiếp công dân” nếu như được hiểu dưới góc độ đơn giản nhất về từ ngữ, thì
đó chính là hoạt động đón tiếp, tiếp xúc, giao tiếp giữa người có trách nhiệm với công dân, nhằm đáp ứng hoặc giải quyết yêu cầu, kiến nghị của công dân
Pháp luật quy định: “Tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định tại Điều 4 của Luật này đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật” 6
Như vậy, tiếp công dân còn được hiểu là hoạt động nhằm phục vụ cho việc
“tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân” Đồng thời, hoạt
động này còn nhằm phục vụ cho việc quản lý của Nhà nước, bởi vì, qua tiếp công dân, người có trách nhiệm sẽ có cơ hội giải thích, hướng dẫn cho công dân, để công dân thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật, tức là đúng với ý chí của Nhà nước, làm cho Nhà nước được thể hiện rõ nét và
hiệu quả hơn vai trò của mình Do vậy, thông qua sự “giao tiếp” đặc biệt này, công
dân và Nhà nước đều mong muốn đạt được những mục đích nhất định, và nếu như mục đích của các bên đều đạt được một cách hài hòa, thì xã hội sẽ ổn định, kinh tế theo đó sẽ được thúc đẩy phát triển
1.1.2 Khái niệm về khiếu nại, tố cáo
“Khiếu nại” là một hiện tượng nảy sinh trong đời sống xã hội Nếu được hiểu
theo nghĩa rộng thì khiếu nại là việc người nào đó cảm thấy không hài lòng, chưa
6
Khoản 1, Điều 2, Luật Tiếp công dân
Trang 25đồng ý một việc gì đó và có phản ứng lại nhằm bảo vệ cho quyền lợi của chính mình
Dưới góc độ luật pháp, “khiếu nại” là quyền Hiến định của công dân: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định” 7 Trên cơ sở đó, khái niệm về khiếu nại được quy định như sau: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” 8
Khái niệm này cho thấy rằng, trong mối quan hệ khiếu nại, bên bị khiếu nại sẽ
là đại diện của Nhà nước và bên thực hiện quyền khiếu nại sẽ thực hiện quyền, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó
là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Quyền khiếu nại của công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ thể hiện sự dân chủ của pháp luật, là một trong những cách thức để công dân thực hiện quyền giám sát của Nhân dân
“Tố cáo” là “đưa người hay sự việc cho người có thẩm quyền xử phạt” 9 Dưới góc độ xã hội, tố cáo thể hiện sự bất bình của một người vì hành vi sai trái của người khác, vì vậy cần phải báo cho cơ quan, hoặc người có thẩm quyền để có biện pháp xử lý Tố cáo có thể là việc mà chủ thể thực hiện nhằm để tự vệ, bày tỏ thái
độ, hoặc để thể hiện trách nhiệm của công dân Tố cáo phản ánh sự bất ổn trong xã hội và trong đời sống, cần phải được xem xét, giải quyết theo quy định
7 Điều 74, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)
8 Khoản 1, Điều 2, Luật Khiếu nại năm 2011
9
Trương Văn Hùng, (2007) Từ điển Tiếng Việt Hà Nội, Nhà xuất bản Thanh niên, trang 1155
Trang 26Khi được hiểu dưới góc độ luật pháp, “tố cáo” là “quyền cơ bản của công dân” được ghi nhận bởi đạo Luật có giá trị pháp lý cao nhất10 Theo đó, Luật Tố
cáo năm 2011quy định: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”11 Trong giai đoạn hiện nay, quyền khiếu nại, quyền tố cáo không còn chỉ được xem là quyền công dân mà đã trở thành quyền con người được Hiến pháp năm 2013 quy định12 Vì thế, khái niệm về tố cáo đã được sửa đổi theo hướng: “Tố cáo là việc
cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm: Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật
về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực” 13 Như vậy, chủ thể thực hiện quyền tố cáo
đã được mở rộng hơn, không chỉ là “công dân” mới được quyền tố cáo, mà quyền này thuộc về bất kỳ “cá nhân” nào Việc mở rộng chủ thể thực hiện quyền tố cáo là nhằm đảm bảo tốt nhất quyền con người, tăng cường cơ hội để “cá nhân” (trong đó
có công dân) tham gia thực hành quyền “dân chủ” trên thực tế, phát hiện các hành
vi trái pháp luật để kịp thời xử lý
1.1.3 Khái niệm kiến nghị, phản ánh
“Kiến nghị”, “phản ánh” cũng là một hiện tượng nảy sinh từ đời sống xã hội Theo Từ điển Tiếng Việt, “kiến nghị” là “ý kiến, đề nghị đưa ra để yêu cầu hoặc thảo luận một điều gì”14; còn “phản ánh”, nếu hiểu theo nghĩa thông thường thì đó
10 Điều 74, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bố sung năm 2001)
11 Khoản 1, Điều 2, Luật tố cáo năm 2011
12 Điều 30, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”
13 Khoản 1, Điều 2, Luật tố cáo năm 2018
14 Trương Văn Hùng, (2007) Từ điển Tiếng Việt Hà Nội, Nhà xuất bản Thanh niên, trang 626
Trang 27là việc tái hiện, trình bày, diễn tả lại nét đặc trưng một sự việc nào đó qua sự nhìn nhận của người phản ánh
Dưới góc độ pháp luật thì: “kiến nghị, phản ánh là việc công dân cung cấp thông tin, trình bày ý kiến, nguyện vọng, đề xuất giải pháp với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, công tác quản lý trong các lĩnh vực đời sống xã hội thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đó” 15
Như vậy, công dân khi thực hiện quyền “kiến nghị”, “phản ánh” sẽ chủ động
tham gia vào việc quản lý Nhà nước qua việc mang đến những thông tin, đưa ra các
ý kiến và đề xuất giải pháp nhằm “góp ý” để Nhà nước thực hiện tốt hơn vai trò, nhiệm vụ của mình Việc phân biệt rõ thế nào là công dân “kiến nghị”, “phản ánh” với việc công dân “khiếu nại”, “tố cáo” là rất quan trọng, vì phân biệt đúng thì sẽ
áp dụng đúng các quy định để giải quyết
1.1.4 Khái niệm về hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thƣ khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội
“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân” 16 , vì thế, “dân nguyện” là hoạt động rất cần thiết và quan trọng của Quốc hội Tuy các văn bản pháp luật chưa quy định về khái niệm “dân nguyện” và “công tác dân nguyện”, nhưng hiện nay, “dân nguyện được hiểu là tâm tư, nguyện vọng, thỉnh nguyện của Nhân dân và công tác dân nguyện chính là những hoạt động của cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền nhằm nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, thỉnh nguyện của Nhân dân để xem xét, giải quyết vì mục tiêu: xây dựng chính quyền, xây dựng đất nước; bảo vệ lợi ích hợp pháp của người đưa ra thỉnh nguyện hoặc vì lợi ích chung của toàn xã hội; đồng thời, thể chế hóa nguyện vọng chính đáng của nhân dân thành đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước”17 Để thực hiện nhiệm vụ này, Ủy
15 Khoản 2, Điều 2, Luật Tiếp công dân
16 Điều 69, Hiến pháp năm 2013; Khoản 1, Điều 1, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014
Trang 28Ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã thành lập Ban Dân nguyện, để tham mưu,
giúp UBTVQH về công tác dân nguyện18 Theo đó, “hoạt động tiếp công dân; xử lý
đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân”, chính là một trong
những hoạt động thể hiện rõ nét về công tác dân nguyện
Như vậy, “hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị, phản ánh của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH” được hiểu là một
trong những hoạt động của công tác dân nguyện mà ĐBQH và Đoàn ĐBQH phải
thực hiện theo quy định19
, nhằm nắm bắt “tâm tư, nguyện vọng, thỉnh nguyện của Nhân dân” (trước hết là Nhân dân ở địa phương), và giúp đỡ công dân thực hiện
đúng quy định của pháp luật về khiếu nại, pháp luật về tố cáo và các quy định pháp
luật khác có liên quan
1.2 Đặc điểm và ý nghĩa của việc đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu
Quốc hội thực hiện pháp luật về tiếp công dân; xử lý đơn, thƣ khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh của công dân
1.2.1 Đặc điểm của việc đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội
thực hiện pháp luật về tiếp công dân; xử lý đơn thƣ khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị, phản ánh của công dân
1.2.1.1 Đặc điểm về địa vị pháp lý của chủ thể thực hiện
ĐBQH là nhân tố cấu thành nên Quốc hội, chất lượng hoạt động của ĐBQH
góp phần quyết định nên chất lượng của Quốc hội Vì thế, pháp luật quy định
ĐBQH có những quyền đặc biệt mà các chủ thể khác trong bộ máy Nhà nước không
có Các quyền này được gắn với quyền lực của Quốc hội, quyền của ĐBQH và các
quyền miễn trừ do pháp luật quy định như: quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch
17 Ban Dân nguyện thuộc UBTVQH, (2015) “Cẩm nang tiếp công dân, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố
cáo của công dân” - Tài liệu phục vụ đại biểu dân cử trong công tác tiếp công dân, xử lý đơn, thư và giám
sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, biên soạn năm 2015, trang 6
18 Điều 1, Điều 2, Nghị quyết số 1156/2016/UBTVQH13, ngày 17/03/2016 của UBTVQH quy định
về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Dân nguyện
19
Điều 79, Hiến pháp 2013; Điều 21, Luật Tiếp công dân; Điều 28, Điều 43, Luật Tổ chức Quốc hội
năm 2014; Điều 47, Điều 48, Điều 54, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 20115; Nghị
quyết số 228/1999/NQ-UBTVQH10, ngày 27/10/1999 của UBTVQH về việc ĐBQH tiếp công dân, tiếp
nhận, chuyển đơn, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân (viết tắt là
Nghị quyết 228)
Trang 29Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao; quyền giám sát văn bản quy phạm pháp luật; giám sát việc thi hành pháp luật; giám sát việc giải quyết đơn, thư của công dân; quyền được miễn trừ không bị bắt, giam, giữ, khởi tố theo quy định của pháp luật…
Pháp luật quy định: “Đoàn đại biểu Quốc hội là tổ chức của các đại biểu Quốc hội được bầu tại một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc được chuyển đến công tác tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”20 Đoàn ĐBQH tỉnh
là đầu mối liên lạc của các ĐBQH, có nhiệm vụ tổ chức, phân công ĐBQH tiếp công dân và đảm bảo tất cả các điều kiện, cơ sở vật chất, đội ngũ tham mưu, giúp việc để các ĐBQH thực hiện tốt nhiệm vụ này
Trong việc tiếp công dân; xử lý đơn, thư của công dân, thẩm quyền đặc biệt của ĐBQH có giá trị ràng buộc các chủ thể khác phải thực hiện như: quyền yêu cầu các chủ thể có liên quan đến việc giải quyết đơn, thư của công dân phải có mặt tại buổi tiếp công dân khi ĐBQH và Đoàn ĐBQH thấy cần thiết, để giải trình, báo cáo
về quá trình giải quyết; ĐBQH được quyền chọn lựa địa điểm và thời gian tiếp công dân linh hoạt, trên nguyên tắc tạo điều kiện thuận lợi nhất cho công dân và tạo sự chủ động nhất cho ĐBQH như: công dân đến trong buổi tiếp công dân của ĐBQH; công dân yêu cầu trực tiếp ĐBQH hoặc Đoàn ĐBQH bố trí để công dân gặp ĐBQH; hoặc khi ĐBQH thấy cần thiết cũng sẽ bố trí và mời công dân đến gặp trực tiếp… Như vậy, ĐBQH tiếp công dân với đối tượng đa dạng hơn, và trên phạm vi rộng hơn21
so với các chủ thể khác theo pháp luật về tiếp công dân Khi ĐBQH và Đoàn ĐBQH xử lý chuyển đơn, thư của công dân, thì các chủ thể tiếp nhận phải
giải quyết và “người có thẩm quyền giải quyết phải thông báo cho ĐBQH về kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân trong thời hạn theo quy
20 Khoản 1, Điều 43 của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014
21 ĐBQH không chỉ tiếp công dân tại địa phương nơi ĐBQH ứng cử, mà ĐBQH còn có quyền tiếp công dân cả nước nếu được công dân yêu cầu và khi ĐBQH thấy cần thiết
Trang 30định của pháp luật”22… Những yêu cầu, kiến nghị của ĐBQH và Đoàn ĐBQH là
có giá trị bắt buộc thực hiện đối với các chủ thể được yêu cầu
1.2.1.2 Đặc điểm về vai trò của chủ thể thực hiện
“ĐBQH là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu
cử ra mình và của Nhân dân cả nước; là người thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội” 23 Hoạt động của ĐBQH là hoạt động vừa mang tính Nhân dân, vừa mang tính chính trị, pháp lý Qua việc trực tiếp bầu cử ĐBQH, Nhân
dân đã “trao quyền” cho ĐBQH nhằm “thay mặt” Nhân dân, “đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân” Do đó, ĐBQH phải có nghĩa vụ gắn bó mật thiết với
Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân, của cử tri, mà hình thức thể hiện rõ nét nhất chính là qua việc ĐBQH tiếp công dân; xử lý đơn, thư của công dân Bởi vì, qua công tác này, ĐBQH sẽ có cơ hội tiếp xúc, lắng nghe công dân bày tỏ nguyện
vọng, kiến nghị, và ĐBQH phải có trách nhiệm “thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan” 24
; đồng thời giúp đỡ công dân thực hiện đúng các quy định của pháp luật Tuy nhiên, hoạt
động này không chỉ là việc ĐBQH “nghe” công dân nói, tiếp nhận đơn, thư và
“chuyển” đến các cơ quan hữu quan một cách thụ động ĐBQH trong quá trình tiếp
công dân; xử lý đơn, thư của công dân phải có đủ năng lực để nhận biết được các kiến nghị, yêu cầu nào của công dân là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp
luật để “chuyển” đến nơi có thẩm quyền giải quyết, nhằm đáp ứng nguyện vọng
chính đáng của cử tri, của công dân; ngược lại, đối với những yêu cầu, kiến nghị chưa phù hợp với quy định của pháp luật, thì ĐBQH phải có trách nhiệm giải thích,
“phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật” 25
22
Khoản 2, Điều 28, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014; Điều 54, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015; Khoản 1, Phần III, Nghị quyết số 228; Điều 16, Nghị quyết số 759/2014/UBTVQH13, ngày 15/5/2014 của UBTVQH, quy định chi tiết về hoạt động tiếp công dân của các
cơ quan của Quốc hội, ĐBQH, HĐND và đại biểu HĐND các cấp (viết tắt là Nghị quyết số 759);
23 Khoản 1, Điều 79, Hiến Pháp 2013; Điều 21, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014
24 Khoản 1, Điều 21, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014
25
Khoản 2, 3, Điều 79 Hiến pháp 2013
Trang 31Bên cạnh đó, “ĐBQH là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân
ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước”26
Do đó, ĐBQH khi tiếp công
dân, không chỉ lắng nghe kiến nghị, nguyện vọng của công dân, cử tri “ở đơn vị bầu
cử ra mình”, mà còn phải thu thập đa dạng các kiến nghị, nguyện vọng của công
dân và cử tri cả nước, để đảm bảo sự dung hòa trong trường hợp có sự xung đột về lợi ích giữa cử tri đơn vị bầu cử ra ĐBQH, với lợi ích của cử tri đơn vị khác tại địa phương, hoặc xung đột với lợi ích của Nhân dân cả nước, thì ĐBQH phải vì lợi ích lớn hơn, vì lợi ích chung của cả nước để hành động27
Mặt khác, ở tầm cao hơn,
ĐBQH phải biết “biến” các “kiến nghị” của công dân thành chính sách và quy định
pháp luật phù hợp với thực tế cuộc sống của Nhân dân, thì vai trò đại diện cho ý chí
và nguyện vọng của Nhân dân mới thực sự tương xứng và đúng bản chất
1.2.1.3 Đặc điểm về mục đích thực hiện của chủ thể
Thực tế cho thấy, hoạt động tiếp công dân thường có quan hệ chặt chẽ với việc giải quyết đơn, thư của công dân Bởi vì, qua tiếp công dân, chủ thể giải quyết sẽ trực tiếp nắm bắt nội dung vụ/việc, giải thích xử lý trực tiếp, nên quá trình giải quyết đối với kiến nghị hoặc đơn, thư của công dân sẽ thuận lợi, hiệu quả hơn Khi thực hiện pháp luật về tiếp công dân; xử lý đơn, thư của công dân, ĐBQH
và Đoàn ĐBQH không có quyền trực tiếp giải quyết, hoặc trực tiếp phân xử đối với
đơn, thư của công dân Tuy nhiên, trong hoạt động này, “Đoàn ĐBQH có trách nhiệm tổ chức để ĐBQH tiếp công dân, giám sát cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân” 28
Hoạt động tiếp công dân của ĐBQH và Đoàn ĐBQH trước hết là nhằm để lắng nghe công dân, tiếp nhận các ý kiến, kiến nghị của công dân, để xem xét, phản ánh hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo đúng quy định29 Qua hoạt động này, ĐBQH và Đoàn ĐBQH sẽ có cơ hội nhận ra các hạn chế, thiếu sót
26 Khoản 1, Điều 21, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014
27
Nguyễn Đình Quyền, (2007), “Về vai trò và các đặc điểm của đại biểu Quốc hội” Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật, số 8/2007, trang 4
28 Khoản 1, Điều 54, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015
29
Khoản 1, Mục II, Nghị quyết số 228
Trang 32của quy định pháp luật, hoặc hạn chế trong quá trình thực hiện pháp luật; từ đó làm
cơ sở để ĐBQH và Đoàn ĐBQH thực hiện việc giám sát; làm căn cứ để hoàn thiện chính sách, pháp luật; hoặc trực tiếp giải thích, giúp đỡ về mặt pháp lý cho công dân thực hiện đúng quyền của công dân
Khi tiếp nhận đơn, thư của công dân thì “ĐBQH có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị biết; đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết”30 Tuy
không trực tiếp giải quyết đơn, thư của công dân, nhưng “trường hợp xét thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đúng pháp luật, ĐBQH có quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại; khi cần thiết, ĐBQH yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết”31 Bên cạnh đó, ĐBQH có quyền yêu cầu các chủ thể
có liên quan phải cung cấp thông tin, tài liệu, trình bày các vấn đề có liên quan mà ĐBQH quan tâm32
Như vậy, việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân; xử lý đơn, thư của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH không phải là việc ĐBQH và Đoàn ĐBQH trực tiếp giải quyết đơn, thư của công dân, mà mục đích là để giám sát nhằm đảm bảo hiệu quả việc thực hiện pháp luật đối với các hoạt động này
1.2.2 Ý nghĩa của việc đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện pháp luật về tiếp công dân; xử lý đơn thƣ khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân
1.2.2.1 Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện pháp luật
về tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân nhằm góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền
Mục tiêu của Nhà nước là xây dựng “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì
Trang 33Nhân dân”33 Theo đó, Nhà nước pháp quyền phải dựa trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật, nhưng pháp luật đó phải là pháp luật dân chủ, công bằng, ghi nhận, tôn trọng và đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong mọi lĩnh vực Để xây
dựng “Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” thì trước hết Nhà nước đó phải “hiểu Nhân dân”, phải hiểu tâm tư, nguyện vọng, hiểu thực
tế đời sống của Nhân dân thì mới xây dựng được hệ thống chính sách, pháp luật phù hợp, nhằm đảm bảo thực hiện được quyền con người, quyền công dân
Thực tế cho thấy, khi các chính sách, pháp luật không phù hợp với cuộc sống, hoặc khi công dân có căn cứ cho rằng quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của mình, của tập thể, hoặc của cá nhân khác bị xâm phạm, bị gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại, cần phải được bảo vệ, thì công dân sẽ phát sinh việc khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị, phản ánh Vì vậy, nếu Nhà nước không thực hiện tốt việc tiếp công dân và không kịp thời giải quyết các yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, thì sẽ tạo nên sự bất bình, bức xúc trong dân chúng đối với Nhà nước Tâm lý
đó sẽ dễ bị kích động, dẫn đến các hành vi chống đối Nhà nước và vi phạm pháp luật 34, tạo thành điểm nóng, gây bất ổn về mặt chính trị, xã hội, dẫn đến thiệt hại về kinh tế
Với vai trò và địa vị pháp lý đặc biệt của mình, ĐBQH thực hiện pháp luật về
tiếp công dân; xử lý đơn, thư của công dân chính là cách thiết thực nhất để ĐBQH
“gần dân” - “nghe dân” - “hiểu dân”, tạo thêm một “điểm tựa” về mặt tinh thần
để người dân tin tưởng, gửi gắm tâm tư; tạo cơ hội, đảm bảo cho công dân thực hiện được quyền tự do, dân chủ và quyền khiếu nại, tố cáo đúng quy định Từ đó, góp phần đảm bảo để quyền con người, quyền công dân được thực hiện trong thực tế
Và, chỉ khi ĐBQH thực sự “gần dân” - “nghe dân” - “hiểu dân” thì mới có thể xây
dựng nền lập pháp vì Nhân dân; hướng đến lợi ích của Nhân dân, góp phần xây
Bá Đô, Võ Hải, Gia Chính “Ba cảnh sát hy sinh trong vụ đụng độ ở Đồng Tâm” Báo điện tử
vnexpress.net, đăng ngày 09/01/2020, dong-tam-4039593.html , truy cập ngày 09/01/2020
Trang 34https://vnexpress.net/thoi-su/ba-canh-sat-hy-sinh-trong-vu-dung-do-o-dựng Nhà nước thực sự là “Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, đảm bảo thúc đẩy quyền con người, quyền công dân
1.2.2.2 Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện pháp luật tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân góp phần nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của các cơ quan có thẩm quyền
Tiếp công dân chính là tiền đề thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, góp phần khắc phục được tình trạng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị tràn lan, vượt cấp
Đối với ĐBQH và Đoàn ĐBQH, thông qua hoạt động này, ĐBQH sẽ kiểm tra được thực trạng thực hiện pháp luật về việc tiếp công dân và giải quyết đơn, thư của
công dân Từ đó, ĐBQH sẽ nhận thấy được những điểm đúng đắn, phù hợp cũng
như những bất cập, hạn chế qua thực tiễn thực, để ĐBQH thực hiện việc giám sát hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật cho phù hợp Đồng thời, hoạt động này còn là kênh thông tin quan trọng để ĐBQH và Đoàn ĐBQH giám sát, đánh giá năng lực và tinh thần trách nhiệm của những người có liên quan đến hoạt động này, do vậy, họ sẽ thận trọng và trách nhiệm hơn trong quá trình giải quyết đối với đơn, thư của công dân, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này Và khi chất lượng giải quyết đơn, thư của công dân được đảm bảo, kết hợp với việc thực hiện tốt công tác tiếp công dân, thì các vướng mắc của
công dân sẽ được “tháo gỡ”, sẽ là giải pháp thiết thực, hiệu quả trong việc “hóa giải” những bức xúc, căng thẳng của người dân, làm cho người dân tin tưởng vào
Nhà nước và pháp luật
1.2.2.3 Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện pháp luật tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân góp phần nâng cao năng lực hoạt động của đại biểu Quốc hội
Nói về công việc của ĐBQH, tác giả Nguyễn Sĩ Dũng đã dùng một cách so
sánh thú vị rằng: “Bạn có thể học viết văn ở Trường viết văn Nguyễn Du Còn làm
Trang 35đại biểu thì không thể học ở đâu được cả”35 Nói như vậy để biết rằng, ở nước ta, ĐBQH không phải là một chức danh nghề nghiệp để có thể được đào tạo một cách
chuyên nghiệp Với vai trò là người tiêu biểu, “đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân” thuộc nhiều tầng lớp trong xã hội, ĐBQH ngoài việc phải có những tiêu
chuẩn chung do pháp luật quy định36
, thì mỗi ĐBQH sẽ có những điểm mạnh, điểm yếu khác nhau, tùy thuộc vào trình độ chuyên môn và năng lực cá nhân riêng biệt của chính bản thân ĐBQH Nhưng nhìn chung, khi đã trở thành ĐBQH, thì ĐBQH
phải cần làm tốt hai nhiệm vụ là: “Một là, làm cho cử tri vừa lòng Hai là, hoạt động có hiệu quả ở Quốc hội”37 Muốn “làm cho cử tri vừa lòng” thì trước hết phải
hiểu cử tri (cử tri trước hết phải là công dân), đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri, của công dân Muốn hiểu cử tri, công dân thì ĐBQH phải thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc, lắng nghe cử tri, công dân trình bày tâm tư, nguyện vọng Thực tế trong các buổi tiếp công dân của ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh cho thấy, nhiều trường hợp công dân đến không phải để khiếu nại, tố cáo, mà là để góp ý, kiến nghị
Từ các ý kiến góp ý, kiến nghị hoặc phản ánh của công dân gửi đến các ĐBQH và Đoàn ĐBQH, lại chính là nguồn tư liệu quý giá từ thực tế sinh động của cuộc sống,
sẽ giúp ĐBQH có cơ hội kiểm chứng khách quan về tính đúng đắn, phù hợp hay không phù hợp của chính sách, pháp luật nói chung của Nhà nước, trong đó có pháp luật về tiếp công dân; xử lý; giải quyết đơn, thư của công dân Từ cơ sở thực tiễn
đó, ĐBQH sẽ bổ sung, nâng cao hơn về lý luận, để tự trang bị cho chính mình thêm
kiến thức, kỹ năng nhằm “hoạt động có hiệu quả ở Quốc hội”, để khi ĐBQH
“quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước”; xây dựng, hoàn thiện chính
sách, pháp luật… đều hướng về Nhân dân, phục vụ Nhân dân, bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng của Nhân dân
Bên cạnh đó, qua hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH, công dân cũng có cơ hội để trực tiếp thực hiện quyền
35 Nguyễn Sĩ Dũng, (2003) “Đại biểu Quốc hội chuyên trách hay chuyên nghiệp” Tạp chí Nghiên
cứu Lập pháp, số 3, trang 3
36 Điều 22, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định về “Tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội”
37 Nguyễn Sĩ Dũng, (2003) “Đại biểu Quốc hội chuyên trách hay chuyên nghiệp” Tạp chí Nghiên
cứu Lập pháp, số 3, trang 3
Trang 36giám sát Nhân dân, trực tiếp đánh giá năng lực, mức độ trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của từng ĐBQH Từ đó, Nhân dân (công dân, cử tri) sẽ có cơ sở quyết định về mức độ tín nhiệm hay không tín nhiệm đối với từng ĐBQH, những người
do họ tin tưởng trực tiếp bầu ra để đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mình
1.3 Hệ thống c c quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động tiếp công dân;
xử lý đơn, thƣ khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội
1.3.1 C c quy định chung về hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thƣ khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân
Tiếp công dân; xử lý; giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân là hoạt động thường xuyên và rất quan trọng của cơ quan Nhà nước Bởi
vì, hoạt động này là một trong những biểu hiện dễ nhận thấy và phản ánh rõ nét
nhất về bản chất “làm chủ” của công dân (thể hiện qua việc công dân trực tiếp thực hiện các quyền để bảo vệ quyền của công dân) và vai trò “vì Nhân dân” của Nhà
nước (thể hiện qua thái độ và quá trình Nhà nước thực hiện, giải quyết các kiến nghị, yêu cầu của công dân) Chính vì thế, thời gian qua, nhận thức được tầm quan trọng của công tác này, Đảng đã ban hành các văn bản nhằm đề ra chủ trương, định hướng, lãnh đạo công tác tiếp công dân; xử lý; giải quyết đơn, thư của công dân
như: Chỉ thị số 09/CT-TW, ngày 06/3/2002 của Ban Bí thư “về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo”; Chỉ thị 35-CT/TW, ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị, “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo” ; Đối với các
văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt động này cũng tương đối đầy đủ như: Hiến pháp năm 2013; Luật Khiếu nại năm 2011; Luật tố cáo năm 2011; Luật
tố cáo năm 2018; Luật Tiếp công dân… và các văn bản hướng dẫn thi hành đối với các Luật này; Các Nghị quyết như: “Nghị quyết số 228/1999/NQ-UBTVQH10, ngày 27/10/1999 của UBTVQH, về việc ĐBQH tiếp công dân, tiếp nhận, chuyển đơn, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân” (gọi tắt là Nghị quyết 228); “Nghị quyết số 759/2014/UBTVQH13, ngày 15/5/2014,
Trang 37của UBTVQH, quy định chi tiết về hoạt động tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, ĐBQH, HĐND và đại biểu HĐND các cấp” (gọi tắt là Nghị quyết 759); Nghị quyết số 334/2017/UBTVQH14, ngày 11/01/2017 của UBTVQH, về ban hành Quy chế tổ chức thực hiện một số hoạt động giám sát của Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH.… chính là những cơ
sở pháp lý quan trọng trong việc điều chỉnh chung cho các hoạt động tiếp công dân; giải quyết; xử lý đơn, thư của công dân, làm cho hoạt động này đi vào nề nếp, hiệu quả hơn và mang lại những kết quả nhất định
1.3.2 C c quy định đặc thù về hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thƣ khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội
Đối với các cơ quan dân cử và đại biểu dân cử thì công tác tiếp công dân; xử
lý đơn, thư của công dân càng là một trong những nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng Khi thực hiện pháp luật về tiếp công dân; xử lý đơn, thư của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH, thì ĐBQH và Đoàn ĐBQH phải thực hiện cơ sở pháp
lý chung điều chỉnh đối với hoạt động này Tuy nhiên, hoạt động tiếp công dân; xử
lý đơn, thư của công dân được thực hiện bởi chủ thể là ĐBQH và Đoàn ĐBQH lại
có những điểm đặc biệt hơn so với các chủ thể khác Điều này xuất phát từ vai trò,
vị trí đặc biệt của ĐBQH được pháp luật về ĐBQH quy định
Pháp luật về ĐBQH là tất cả các quy định pháp luật làm cơ sở pháp lý để đảm bảo cho ĐBQH thực hiện các hoạt động của ĐBQH Pháp luật về ĐBQH luôn luôn được quy định bởi các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao như: Hiến pháp; Luật (Luật Tổ chức Quốc hội 2014; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND
2015, Luật bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015…); Nghị quyết của Quốc hội (Nghị quyết số 08/2002/NQ-QH11, ngày 16/12/2002 của Quốc hội, ban hành Quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH); Nghị quyết của UBTVQH (Nghị quyết số 228; Nghị quyết số 759)… Theo đó, pháp luật về ĐBQH đã chứa đựng các quy định về việc ĐBQH tiếp công dân; xử lý đơn, thư của công dân gửi đến ĐBQH
và Đoàn ĐBQH Hay nói cách khác, pháp luật về tiếp công dân; xử lý đơn, thư của
Trang 38công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH chính là một bộ phận hợp thành nên pháp luật về ĐBQH, là sự cụ thể hóa các nhiệm vụ của ĐBQH đã được quy định trong hệ thống pháp luật về ĐBQH Do đó, ĐBQH thực hiện pháp luật về tiếp công dân; xử
lý đơn, thư của công dân không thể tách rời việc thực hiện pháp luật về ĐBQH Điều này đã làm cho việc ĐBQH và Đoàn ĐBQH thực hiện pháp luật về tiếp công dân; xử lý đơn, thư của công dân được dựa trên cở sở pháp lý rộng hơn, và có những đặc điểm riêng biệt hơn so với các chủ thể khác theo quy định chung của pháp luật về hoạt động này
Vì thế, cơ sở pháp lý của việc ĐBQH và Đoàn ĐBQH thực hiện pháp luật về tiếp công dân; xử lý đơn, thư của công dân sẽ vừa căn cứ vào quy định chung của pháp luật về hoạt động này, và căn cứ vào cả các quy định pháp luật về Quốc hội, ĐBQH và Đoàn ĐBQH
Trang 39TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Qua việc làm rõ các khái niệm có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của đề tài
và tổng hợp được hệ thống các quy định pháp luật làm cơ sở cho hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH, nên về cơ bản, tại Chương 1, tác giả đã hoàn thành được nội dung câu hỏi nghiên cứu thứ nhất của đề tài
Bên cạnh đó, về mặt lý luận, tác giả đã có đóng góp nhất định khi nêu được ý nghĩa của hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến ĐBQH và Đoàn ĐBQH; đồng thời, tác giả đã phân tích được các đặc điểm khác biệt của hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân đối với chủ thể là ĐBQH và Đoàn ĐBQH
so với các chủ thể khác theo quy định của pháp luật về tiếp công dân, pháp luật về khiếu nại, pháp luật về tố cáo
Trang 40CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN; XỬ LÝ ĐƠN, THƯ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CỦA CÔNG DÂN GỬI ĐẾN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH
NINH THUẬN 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tiếp công dân; xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân gửi đến đại biểu Quốc hội
và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận
2.1.1 Về cơ cấu của đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận, nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV
2.1.1.1 Khái quát về cơ cấu của đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận, nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV
ĐBQH khóa XIV, nhiệm kỳ 2016 - 2021 được cử tri cả nước tiến hành bầu cử vào ngày 22/5/2016 với 494 người đã trúng cử và đã được Hội đồng bầu cử quốc gia xác nhận có đủ tư cách ĐBQH theo quy định của pháp luật38
Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận (đơn vị bầu cử tại tỉnh Ninh Thuận) gồm có 06 ĐBQH trúng cử nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, với cơ cấu như sau: Về độ tuổi: từ
40 đến 45 tuổi có 01 ĐBQH, từ 50 đến 55 tuổi có 04 ĐBQH, trên 55 tuổi có 01 ĐBQH; Về tỷ lệ ĐBQH tái cử: có 04/06 ĐBQH là ĐBQH khóa XIII thuộc Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Thuận tái cử ĐBQH khóa XIV (trong đó, có 01 ĐBQH tái cử lần thứ 3); Về thành phần dân tộc: có 01/06 ĐBQH là người dân tộc Chăm; 05/06 ĐBQH là người dân tộc Kinh; Về giới tính: có 02/06 ĐBQH là đại biểu nữ (trong
02 đại biểu nữ có 01 đại biểu là người dân tộc Chăm); Về trình độ chuyên môn: Có
01 ĐBQH có trình độ Tiến sĩ khoa học (cơ khí chế tạo máy), 02 ĐBQH có trình độ Thạc sĩ (Thạc sĩ Lịch sử, Thạc sĩ Quản lý Giáo dục), 03 ĐBQH có trình độ đại học (02 cử nhân Luật, 01 Đại học An Ninh); Về chức vụ Đảng: có 01 ĐBQH là Ủy viên Trung ương Đảng, 03 ĐBQH là Ủy viên Ủy Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Thuận,
01 ĐBQH là Tỉnh Ủy viên Tỉnh ủy Ninh Thuận; Về vị trí công tác: có 03 ĐBQH hoạt động chuyên trách (trong đó, làm việc tại Trung ương là 02 đại biểu: 01 đại
38 Báo cáo số 695/BC-HĐBCQG, ngày 19/7/2016 của Hội đồng Bầu cử Quốc gia về “Tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021”