LỜI NÓI ĐẦU Để tiến hành quy trình biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam, Ban Chủ nhiệm Đề án đã giao cho Ban Thư ký Đề án thực hiện các nhiệm vụ khoa học như sau: 1- Xây dựng Nguyên tắ
Trang 1HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN BÁCH KHOA TOÀN THƯ VIỆT NAM
BAN CHỦ NHIỆM ĐỀ ÁN
-
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN
BIÊN SOẠN ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT CÁC QUYỂN CHUYÊN NGÀNH
BÁCH KHOA TOÀN THƯ VIỆT NAM
Hà Nội - 2017
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 4
PHẦN I NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG BẢNG MỤC TỪ VÀ BIÊN SOẠN MỤC TỪ I KHÁI NIỆM CƠ BẢN, MỤC TỪ VÀ TIÊU CHÍ LỰA CHỌN MỤC TỪ BÁCH KHOA TOÀN THƯ 6
2 Mục từ và các loại mục từ của bách khoa toàn thư 7
3 Tiêu chí lựa chọn mục từ 9
II BẢNG CẤU TRÚC PHÂN LOẠI MỤC TỪ 12
1 Bảng mục từ và cấu trúc phân loại tri thức 12
2 Lập Bảng mục từ 14
III NHỮNG NGUYÊN TẮC CẦN TUÂN THỦ ĐỂ XÂY DỰNG BẢNG MỤC TỪ VÀ BIÊN SOẠN MỤC TỪ 15
1 Nguyên tắc về tính cần yếu 15
2 Nguyên tắc về tính toàn diện, tính hệ thống 16
3 Nguyên tắc về tính chính xác, thống nhất 16
4 Nguyên tắc về tính chuẩn mực, súc tích, ngắn gọn 18
5 Nguyên tắc về tính dân tộc 19
6 Nguyên tắc về tính quốc tế 19
7 Nguyên tắc về tính cập nhật 20
8 Nguyên tắc về tính hiện đại 20
PHẦN II KHUNG CẤU TRÚC BIÊN SOẠN CÁC QUYỂN CHUYÊN NGÀNH I KHUNG CẤU TRÚC BIÊN SOẠN CỦA CÁC QUYỂN 24
1 Danh mục tên người: thường để ngay đầu sách, gồm: 24
2 Mục lục 24
3 Lời giới thiệu 24
4 Quy cách, thể lệ biên soạn 25
5 Tổng luận - Mục từ về lịch sử hình thành và phát triển của ngành 25
6 Biên soạn mục từ 25
7 Các phụ lục 28
Trang 38 Tranh ảnh, đồ họa 28
9 Index 29
II CẤU TRÚC VI MÔ CỦA MỤC TỪ BÁCH KHOA TOÀN THƯ VIỆT NAM 29
1 Mục từ khái quát lịch sử hình thành, phát triển ngành và chuyên ngành, ngành của một quốc gia 30
2 Mục từ là khái niệm, thuật ngữ, sự vật hiện tượng 30
3 Mục từ về trường phái, trào lưu, khuynh hướng 30
4 Mục từ về các tổ chức, sự kiện 31
5 Mục từ về tác phẩm, văn kiện, sách báo, tạp chí 31
6 Mục từ là nhân danh (nhân vật, tác giả) 32
7 Mục từ là địa danh 32
PHẦN III QUY TẮC CHÍNH TẢ CHO BỘ BÁCH KHOA TOÀN THƯ VIỆT NAM I QUY ĐỊNH CHUNG 36
II QUY ĐỊNH VỀ BẢNG CHỮ CÁI VÀ QUY ĐỊNH VỀ THỨ TỰ CHỮ CÁI 36
III QUY ĐỊNH VỀ VIẾT HOA 36
3.1 Quy định về cách viết hoa tên người 36
3.2 Quy định về cách viết hoa tên địa lý 36
3.3 Quy định về viết hoa tên tổ chức 37
3.4 Quy định về viết hoa tên tờ báo, tạp chí 37
3.5 Quy định về viết hoa sự kiện lịch sử, thời kỳ phong kiến, thời kỳ lịch sử 37
3.6 Quy định về viết hoa chức vụ 37
3.7 Quy định viết hoa tên gọi khác 38
IV QUY ĐỊNH VỀ DẤU CÂU 40
4.1 Dấu chấm 40
4.2 Dấu hai chấm 40
4.3 Dấu chấm phẩy: sau dấu chấm phẩy viết thường 40
4.4 Dấu hỏi: sau dấu hỏi viết hoa 40
4.5 Dấu gạch ngang 41
4.6 Dấu ngoặc đơn, ngoặc kép 41
4.7 Ký hiệu chuyển chú và viết tắt 41
4.8 Ký hiệu “v.v.” 41
4.9 Dấu gạch chéo “/” 41
V QUY ĐỊNH VỀ THANH ĐIỆU 42
Trang 4VI QUY ĐỊNH VỀ VIẾT CÁC SỐ 42
6.1 Các số thông thường 42
6.2 Các số chỉ lượng 43
6.3 Viết ngày, tháng, năm 43
6.4 Các trường hợp khác 43
VII QUY ĐỊNH CHÍNH TẢ CỤ THỂ 44
7.1 Quy định chung về dùng “i” hay “y” 44
7.2 Quy định sử dụng “y” trong các trường hợp đặc biệt 44
VIII QUY ĐỊNH VỀ PHÔNG CHỮ VÀ CO CHỮ 45
IX QUY ĐỊNH TRÌNH BÀY TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHẦN IV QUY TẮC PHIÊN CHUYỂN TÊN ĐỊA LÝ, TÊN NGƯỜI TIẾNG NƯỚC NGOÀI SANG TIẾNG VIỆT CHO BỘ BÁCH KHOA TOÀN THƯ VIỆT NAM I NGUYÊN TẮC CHUNG 47
II QUY TẮC PHIÊN CHUYỂN TÊN ĐỊA LÝ, TÊN NGƯỜI TIẾNG NƯỚC NGOÀI SANG TIẾNG VIỆT 47
2.1 Đối với ngôn ngữ dùng hệ chữ Latin (Anh, Pháp, Italy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Đức ) 47
2.2 Đối với chữ viết Kirin 48
2.3 Đối với tiếng Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản 49
2.4 Đối với các ngôn ngữ không dùng hệ thống chữ cái Latin 51
III THỐNG NHẤT VIẾT TÊN QUỐC GIA VÀ VÙNG LÃNH THỔ VÀ THỦ ĐÔ CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 51
PHẦN V QUY ĐỊNH PHIÊN CHUYỂN TIẾNG DÂN TỘC THIỂU SỐ SANG TIẾNG VIỆT CHO BỘ BÁCH KHOA TOÀN THƯ VIỆT NAM QUY ĐỊNH PHIÊN CHUYỂN 59
1 Mục tiêu của quy định phiên chuyển 59
2 Phương châm 59
3 Những quy định chung 59
4 Những quy định cụ thể 60
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Để tiến hành quy trình biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam, Ban Chủ
nhiệm Đề án đã giao cho Ban Thư ký Đề án thực hiện các nhiệm vụ khoa học như sau:
1- Xây dựng Nguyên tắc xác lập bảng mục từ cho các quyển chuyên
ngành của Bách khoa toàn thư Việt Nam
2- Xây dựng khung cấu trúc mẫu biên soạn cho các quyển chuyên ngành
và các mục từ mẫu
3- Xây dựng Quy tắc chính tả tiếng Việt cho Bách khoa toàn thư Việt Nam
4- Xây dựng Quy tắc phiên chuyển tiếng nước ngoài sang tiếng Việt cho
Bách khoa toàn thư Việt Nam
5- Xây dựng Quy tắc phiên chuyển tiếng dân tộc sang tiếng Việt cho
Bách khoa toàn thư Việt Nam
Trên cơ sở 5 nhiệm vụ khoa học đó mà đúc rút, chỉnh sửa, hoàn thiện bộ
Tài liệu hướng dẫn biên soạn các chuyên ngành Bách khoa toàn thư Việt
Nam cơ cấu gồm 5 phần, tương ứng với 5 nhiệm vụ
Việc xây dựng các Tài liệu hướng dẫn là một công việc vô cùng khó
khăn, vất vả - là công việc chưa từng có tiền lệ; rất mong nhận được sự đồng cảm, chia sẻ và góp ý của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học
TM BAN THƯ KÝ
PGS.TS Lại Văn Hùng - PGS.TS Đinh Ngọc Vượng PGS.TS Trần Minh Tuấn - PGS.TS Nguyễn Hữu Hoành PGS.TS Nguyễn Xuân Dũng - TS Đặng Thị Phượng
Trang 6PHẦN I
NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG BẢNG MỤC TỪ
VÀ BIÊN SOẠN MỤC TỪ
Trang 7I KHÁI NIỆM CƠ BẢN, MỤC TỪ VÀ TIÊU CHÍ LỰA CHỌN MỤC
TỪ BÁCH KHOA TOÀN THƯ
1 Các khái niệm cơ bản
Bách khoa toàn thư Từ điển Từ nguyên định nghĩa khái niệm “bách
khoa toàn thư” như sau: “Là Encyclopaedia, tức chỉ việc sưu tập tất cả các học thuyết trọng yếu, rồi chia thành môn thành loại khác nhau, dùng văn từ giản dị, sáng sủa mà miêu tả lại để tiện cho việc học tập, tra cứu; cũng (biên
soạn) tựa như cách làm biên xếp của từ điển, đem thuật ngữ bách khoa toàn
thư để định danh” Như vậy, “bách khoa toàn thư” là thuật ngữ dùng từ phiên
âm Hán - Việt và định nghĩa như trên cũng đã rất rõ ràng Còn nói đến
“Encyclopaedia” thì từ này có nghĩa là: giáo dục tất cả các lĩnh vực tri thức
theo một chu trình toàn diện; nói rõ ra, bách khoa toàn thư là bộ “sách mẹ” -
tức là “sách của các loại sách” - dùng để học tập, tra cứu Nói một cách hình ảnh thì “bách khoa toàn thư là trường đại học không có tường bao” là để nhấn
mạnh đến mục tiêu giáo dục, đào tạo của bách khoa toàn thư Bách khoa toàn
thư Việt Nam được biên soạn gồm 37 quyển, bao chứa tất cả các chuyên
ngành, lĩnh vực khoa học xã hội, khoa học nhân văn, đến khoa học tự nhiên
và công nghệ, văn hóa nghệ thuật Như thế Bách khoa toàn thư Việt Nam là
công trình khoa học lớn, tổng hợp, chắt lọc toàn bộ những tri thức của Việt Nam và thế giới từ xưa đến nay
Cấu trúc của bách khoa toàn thư gồm có: cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô
Cấu trúc vĩ mô là cấu trúc bảng mục từ của bách khoa toàn thư
Cấu trúc vi mô là cấu trúc mục từ của bách khoa toàn thư
Để hoàn thành bất cứ công trình bách khoa toàn thư nào thì các bước tiến hành nhất thiết phải là:
Trang 82 Mục từ và các loại mục từ của bách khoa toàn thư
2.1 Mục từ bách khoa toàn thư
Một mục từ của bách khoa toàn thư bao giờ cũng gồm tên đầu mục từ và
phần nội dung biên soạn Danh mục tên các đầu mục từ (sau đây gọi là mục
từ) được thành lập gọi là Bảng mục từ Bảng mục từ chính là xương sống của
một bộ bách khoa toàn thư - cũng chính là cấu trúc vĩ mô của bộ sách Nên
cấu trúc vĩ mô của bách khoa toàn thư chính là cấu trúc bảng mục từ Không
có bảng mục từ thì không có bách khoa toàn thư Nếu bách khoa toàn thư là
“sách của các loại sách”, thì nội dung mục từ bách khoa toàn thư là “những bài viết về các bài viết” Cho nên, mục từ của bách khoa toàn thư, qua kết quả khảo sát thấy cả người Pháp và người Anh đều dùng thống nhất bằng chữ
article Tuy nhiên, thực tế người ta cũng dùng cả entrée (Pháp) và entry
(Anh) với nghĩa là mục từ của các từ điển, trong khi article là những bài báo, bài tạp chí hoàn chỉnh Thực tế đó cho thấy rõ ràng có sự khác nhau giữa mục
từ của bách khoa toàn thư với mục từ của từ điển; đồng thời, cũng cho thấy có
sự giao thoa giữa hai loại công trình Trong bách khoa toàn thư có những mục
từ có vẻ hao hao giống mục từ từ điển thường là những mục từ ngắn (1 trang mấy mục), song có rất nhiều mục từ có trường độ lớn hơn (từ 2-3 trang đến hàng trăm trang) thì đã khác hẳn Ở đây, không chỉ là vấn đề hình thức về độ dài ngắn, mà là vấn đề quan niệm về nội dung biên soạn Cũng qua kết quả
khảo sát, người Trung Quốc dùng từ mục để chỉ mục từ từ điển, còn mục từ bách khoa toàn thư lại dùng điều mục (mục từ cơ cấu cành, nhánh); lại có ý kiến cho rằng mục từ của từ điển mang tính mặt phẳng, còn mục từ của bách khoa toàn thư mang tính lập thể (hình lập phương) Ý kiến đó có thể chưa
tuyệt đối đúng, nhưng cách so sánh như vậy cũng làm nổi bật được nội dung cần biên soạn Các thông tin đưa vào, hoặc lượng tri thức đưa vào mục từ bách khoa toàn thư là đa chiều, có thể so sánh, đối chiếu một cách toàn diện Tương tự thế là cách hiểu về 6 W của người Âu - Mỹ, nghĩa là mục từ của bách khoa toàn thư thông thường phải giải đáp được các câu hỏi: Who (là ai?), What (là gì?), When (khi nào?), Where (ở đâu?), How (bao nhiêu?) và Why (lý
do gì?) Như vậy, nội dung mục từ của bách khoa toàn thư bao gồm tất cả, từ định tính đến định lượng, định chất; từ không gian đến thời gian Do thế, kể cả tên đầu mục từ giữa từ điển và bách khoa toàn thư có thể giống nhau, nhưng nội dung biên soạn thì có khá nhiều điểm khác, thậm chí, như cách Điđơrô từng nhấn mạnh: “Mỗi mục từ là một công trình nghiên cứu”
Trang 9Vậy, mục từ bách khoa toàn thư là tên gọi, là tiêu đề cho toàn bộ trữ lượng thông tin, trữ lượng tri thức mà nó hàm chứa trong phần nội dung biên soạn Theo Hà Học Trạc, mục từ “là khái niệm hoàn chỉnh, chủ đề tri
thức độc lập”, là “đơn nguyên tra tìm cơ bản”1, còn tiêu đề mục từ - tên đầu mục từ thường “chọn một từ hoặc một cụm từ có thể khái quát được về mặt nội dung hoặc có thể đại diện được khái niệm hoặc chủ đề của mục từ”.2
2.2 Các loại mục từ của bách khoa toàn thư
Sau khi đã xác định được thế nào là mục từ rồi, nhiệm vụ tiếp theo là
cần đề ra các tiêu chí lựa chọn mục từ Song, bách khoa toàn thư không chỉ có một loại mục từ, nên cũng không thể đề ra tiêu chí một cách chung chung được, mà tiêu chí chỉ sát hợp khi gắn với từng loại mục từ Vậy, trước hết phải phân loại cho được các loại hình mục từ của bách khoa toàn thư
Xưa nay, có khá nhiều ý kiến về phân loại mục từ bách khoa toàn thư Cũng theo Hà Học Trạc, mục từ bách khoa toàn thư gồm:
1 Mục từ nhân vật
2 Mục từ tổ chức
3 Mục từ sách - tạp chí
4 Mục từ lịch sử phát triển ngành
5 Mục từ khái niệm, thuật ngữ chuyên ngành3
Đến khi biên soạn Bách khoa toàn thư Công an nhân dân Việt Nam, có
nhà nghiên cứu cho rằng: “Về chủng loại, mục từ của từ điển bách khoa thường chỉ có 2 loại là mục từ khái niệm và mục từ tên riêng Trong khi đó, mục từ của bách khoa thư, ngoài 2 loại mục từ này còn có thêm loại thứ 3 đó
là mục từ vấn đề, đó là mục từ trình bày các vấn đề khoa học trong một hoặc nhiều lĩnh vực”.4
Khi khảo sát thực tế bách khoa toàn thư của một số quốc gia tiêu biểu, tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu trong nước, có thể xác định các loại mục từ của bách khoa toàn thư như sau:
Trang 101 Loại mục từ khái quát về lịch sử hình thành, phát triển ngành, chuyên ngành, ngành của một quốc gia
2 Loại mục từ hệ thống khái niệm, thuật ngữ, sự vật hiện tượng
3 Loại mục từ nhóm phái, trào lưu, khuynh hướng
4 Loại mục từ các tổ chức, sự kiện
5 Loại mục từ tác phẩm, văn kiện, sách báo, tạp chí
6 Loại mục từ nhân danh (nhân vật, tác giả)
7 Loại mục từ địa danh
Tất nhiên, cách xác định như trên cũng là để thuận tiện, dễ hiểu, dễ làm đối với việc lựa chọn mục từ chứ chưa phải là duy nhất Có loại mục từ ở ngành này nhiều, có loại mục từ ở ngành khác ít hơn, rồi việc cân đối giữa mục từ Việt Nam và thế giới, rồi bách khoa toàn thư có quyển là một ngành,
có quyển gồm nhiều ngành, có quyển lại là cả một lĩnh vực lớn, v.v… Do vậy, bên cạnh khung loại mục từ trên, vẫn cần căn cứ vào thực tế của từng quyển để chọn lựa và lập bảng mục từ Dưới đây, sẽ là tiêu chí cho từng loại mục từ và bảng cấu trúc phân loại mục từ
3 Tiêu chí lựa chọn mục từ
3.1 Tiêu chí lựa chọn mục từ khái quát về lịch sử hình thành, phát triển ngành, chuyên ngành, ngành của một quốc gia
Mục từ khái quát ngành lớn nhất chính là ngành, các ngành trong các
Quyển của bộ Bách khoa toàn thư Việt Nam Tiêu chí chọn mục từ khái quát
ngành có thể được xác định rõ ràng, đó là tên gọi của ngành: Luật học, Văn học, Triết học
Tuy nhiên, đây là Bách khoa toàn thư Việt Nam, nên các quyển không
thể viết về các ngành khoa học một cách chỉ là khoa học đơn thuần, mà nhất thiết phải gắn với Việt Nam (Luật học Việt Nam, Văn học Việt Nam, Triết học Việt Nam…) Lẽ đương nhiên là có những ngành khoa học mà lượng tri
thức ngoại nhập nhiều, cũng vẫn phải tính đến vấn đề tính dân tộc (người Việt
sử dụng và thừa hưởng thành quả khoa học chung của nhân loại như thế nào, nhất là trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay)
Trang 11Mục từ khái quát ngành chính là tên gọi ở từng quyển thường được biên soạn và đặt ở vị trí mở đầu cho mỗi quyển, có thể là mục từ dài nhất, có ý nghĩa như một bài viết “Tổng luận”
Mục từ về các chuyên ngành không có gì khác, chính là tên các chuyên ngành Mục từ ngành của một quốc gia là tên ngành khoa học mà quốc gia đó nổi bật, không thể không kể đến (Văn học Pháp, Kinh tế học Mỹ, Lịch sử quân sự Nga…)
3.2 Tiêu chí lựa chọn mục từ hệ thống khái niệm, thuật ngữ, sự vật hiện tượng
Để lựa chọn mục từ cho các khái niệm, thuật ngữ được chính xác, cân đối về tỉ lệ, thường lập các bảng mục từ theo “phả hệ” tri thức ngành Việc lập bảng mục từ theo phả hệ sẽ tạo điều kiện cho việc nhìn nhận rõ hơn các mối liên hệ trong nội bộ ngành và giữa các chuyên ngành, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng và khả năng kết hợp nội dung được trình bày trong các
mục từ Cần chọn ra được những thuật ngữ chủ (hoặc thuật ngữ gốc, trung
tâm) và trên cơ sở thuật ngữ gốc mới chọn ra được những thuật ngữ khác một cách chính xác, trên cùng một cấp độ hoặc ở các cấp độ khác Đó là phương pháp lựa chọn theo hình cây: gốc, cành, nhánh 1, nhánh 2, nhánh 3… nhằm tạo ra sự thống nhất cao giữa các khái niệm, thuật ngữ khi lựa chọn mục từ, phát hiện được những khái niệm mới, thuật ngữ mới
Việc lựa chọn mục từ thuật ngữ, khái niệm đầy đủ và chính xác có ý nghĩa quan trọng trong các bảng mục từ chuyên ngành, bởi vì các công trình bách khoa có tính khoa học và hiện đại hay không phần lớn thể hiện ở số lượng thuật ngữ được đưa vào
Với sự vật hiện tượng, phải là các sự vật hiện tượng mang tính điển hình,
có hàm lượng thông tin phong phú, tránh đưa vào các sự vật hiện tượng thông thường mà ai cũng đã biết rõ
3.3 Tiêu chí lựa chọn mục từ trường phái, trào lưu, khuynh hướng
Các học thuyết, trường phái thì ngành, lĩnh vực khoa học nào cũng có Tuy nhiên, việc lựa chọn các trường phái, trào lưu, khuynh hướng như các mục từ của bách khoa toàn thư chuyên ngành thường là các trường phái, khuynh hướng lớn có ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của ngành Chẳng hạn, ngành Luật học, trường phái pháp gia ở Trung Quốc thời cổ đại
Trang 12theo khuynh hướng pháp trị, khác với nhân trị và đức trị đương nhiên được chọn là mục từ của Quyển Luật học Trong tất cả các Quyển chuyên ngành
của bộ Bách khoa toàn thư Việt Nam, hầu như không có quyển nào thiếu vắng
các trường phái, khuynh hướng Cũng cần lưu ý rằng mục từ các trường phái, trào lưu, khuynh hướng thường có tính liên ngành
3.4 Tiêu chí lựa chọn mục từ tổ chức, sự kiện
Mục từ trong khối tổ chức, sự kiện gồm các tổ chức của ngành, các sự kiện trong quá trình thành lập và phát triển của ngành Lựa chọn mục từ cho loại này thường căn cứ vào những tiêu chí sau:
a) Chọn từ cao đến thấp, từ lớn đến nhỏ, quan trọng trước, thứ yếu sau b) Thời gian, không gian xuất hiện các tổ chức, các sự kiện (từ cổ, trung đại đến cận đại, hiện đại và đương đại)
c) Xử lý mối tương quan giữa truyền thống và hiện đại, trong nước và nước ngoài
3.5 Tiêu chí lựa chọn mục từ tác phẩm, văn kiện, sách báo, tạp chí
Mục từ tác phẩm được lựa chọn đối với từng ngành cần căn cứ vào các công trình khoa học có giá trị của ngành Đối với các ngành có trước tác, sáng tác, tiêu chí lựa chọn mục từ tác phẩm phải căn cứ vào việc xác định các tác phẩm tiêu biểu (cân đối giữa trong và ngoài nước, giữa các thời kỳ lịch sử) Bên cạnh đó, cần lựa chọn các tác phẩm kinh điển khoa học, các tác phẩm về chuyên ngành của các tác giả nổi tiếng, có đóng góp nhiều về lý luận
và thực tiễn cho chuyên ngành Mục từ tác phẩm thường có mối quan hệ chặt chẽ với mục từ tác giả ở trên Cần xác định rõ tác phẩm bằng chữ và các loại tác phẩm khác (tượng đài, phù điêu, công trình xây dựng, công trình văn hóa nghệ thuật, hội họa, mỹ thuật, nhiếp ảnh, kiến trúc, âm nhạc…)
Các văn kiện có tính định hướng, đường lối chính sách, pháp quy… Các bộ sách, tờ báo có giá trị học thuật, có tác động lớn đến xã hội; các tạp chí khoa học và tạp chí chuyên ngành có tác động trực tiếp đến ngành
3.6 Tiêu chí lựa chọn mục từ nhân danh (nhân vật, tác giả)
Các mục từ nhân danh có trong tất cả các Quyển của bộ Bách khoa toàn
thư Việt Nam Mỗi ngành cần lựa chọn các nhân vật tiêu biểu, những nhân vật
đóng góp nhiều cho sự phát triển của ngành khoa học Các nhân vật lịch sử cần được thừa nhận chung, được khẳng định chính thống
Trang 13Lựa chọn các mục từ này dựa vào tầm quan trọng, sự đóng góp cống hiến, sự lớn nhỏ, không gian và thời gian xuất hiện của đối tượng (ý nghĩa lịch sử) Nói chung, lựa chọn mục từ cho khối tên riêng cần phải được nhất trí chung trong các ngành và được cân đối trong bảng mục từ tổng hợp
Có những mục từ nhân vật, ai cũng biết, xuất hiện trong hầu hết các quyển theo ngành, có ý nghĩa đối với từng chuyên ngành nên đương nhiên các ngành cần phải đưa vào bảng mục từ Việc trùng lắp sau này sẽ tính trong tổng thể chung, khi tổng hợp các quyển để xếp theo ABC bộ bách khoa toàn thư
Với các mục từ là tác giả, đương nhiên phải có tác phẩm, có đóng góp khoa học cho ngành hoặc chuyên ngành
3.7 Tiêu chí lựa chọn mục từ địa danh
Các ban biên soạn theo ngành cần xác định những địa danh nào có ý nghĩa lớn đối với ngành Đối với các ngành địa lý, lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới các mục từ địa danh có thể có số lượng nhiều hơn các ngành khác Đó
là vì sự kiện thường gắn với địa danh trong lịch sử
Đối với các chuyên ngành nhân học, khảo cổ học, địa danh thường gắn với các di chỉ, di tích văn hóa
Có những ngành mục từ địa danh ít được lựa chọn hơn (Luật học, Toán học, Cơ học ) Cũng cần lưu ý là địa danh nhiều khi lại để chỉ tên các công
ty, trường học, căn cứ, nhà máy… và nhiều khi lại gắn với tên người
II BẢNG CẤU TRÚC PHÂN LOẠI MỤC TỪ
1 Bảng mục từ và cấu trúc phân loại tri thức
Khi bắt tay biên soạn các quyển theo ngành của Bách khoa toàn thư Việt
Nam, việc xác lập bảng mục từ mang tầm quan trọng quyết định Với khái
niệm bảng mục từ, Pháp ngữ dùng Liste des article và Nomenclature; Anh
ngữ dùng List of entries, List of articles và Nomenclature; Hán ngữ dùng Mục lục (Điều mục phân loại mục lục - Mục lục phân loại mục từ) Như thế, bảng mục từ là danh mục tập hợp những mục từ được chọn lựa, sắp xếp theo phân
loại tri thức và theo vần chữ cái
Bảng mục từ cũng chính là cấu trúc vĩ mô của mỗi quyển bách khoa
toàn thư được hình dung như một hệ thống có tầng bậc, có cành chính, cành phụ, nhánh chính, nhánh phụ…
Trang 14Mà đã là “hệ thống” thì cũng mang tính cấu trúc, với những tôn ti, cấp mức và các mối quan hệ nội tại giữa các mục từ một cách hoàn chỉnh Nếu thiếu tính hệ thống, bảng mục từ sẽ chỉ là các đơn vị từ ngữ rời rạc, không có
sự gắn kết, thiếu chọn lọc, dẫn đến tình trạng mất cân đối, chỗ thiếu, chỗ thừa
Theo Đại bách khoa toàn thư Xô viết, Bảng mục từ (Сло ́ вник) là danh
mục các mục từ xếp theo thứ tự chữ cái hoặc theo trật tự đã được hệ thống hóa được xác lập trong bước khởi đầu biên soạn Bách khoa toàn thư
Bảng mục từ là bộ phận chứa đựng toàn bộ tri thức được giới thiệu và trình bày thông qua hệ thống mục từ, nên cần phải căn cứ vào việc phân loại tri thức
Phân loại/lớp/tầng tri thức (classification of knowledge) được coi là kim
chỉ nam xuyên suốt quá trình xây dựng bảng mục từ Thường có hai cách phân loại như sau:
Một là: dựa vào các ngành và các bộ môn khoa học
Ví dụ, Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc dựa vào 66 ngành chuyên
môn và bộ môn khoa học để phân loại tri thức Bộ này có 74 tập với 77.899 mục từ, không sắp xếp theo thứ tự bộ chữ cái từ tập đầu đến tập cuối mà sắp xếp tri thức theo từng chuyên ngành hoặc nhóm chuyên ngành trong một hoặc hai quyển, và trong từng chuyên ngành đó cũng được sắp xếp theo bộ chữ cái
Hai là: phân loại theo chủ đề, theo đề tài Có thể kể:
Petite encyclopédie Larousse - Bách khoa toàn thư Larousse thu nhỏ, 1
tập bao gồm 16 các môn loại và chủ đề
Hay bộ Bách khoa toàn thư Britannica chia tri thức thành 10 phần (part), mỗi phần chia thành nhiều nhóm (division), mỗi nhóm chia thành nhiều phân nhóm (section)… và cứ thế lại tiếp tục chia tri thức thành các cấp độ nhỏ hơn,
từ tổng quát đến cụ thể Bên cạnh việc phân chia theo hình cây như thế, Bách
khoa toàn thư Britannica còn lưu ý gắn những mục từ, bộ phận có liên quan
của từng phần với nhau tạo thành chuỗi khép kín dưới dạng “vòng tri thức”
Người học tập, tra tìm có thể tiếp cận bắt đầu từ bất cứ phần nào để đi đến phần khác Phân loại tri thức theo cách này giữa các phần, các nhóm vừa độc lập lại vừa liên quan với nhau, thể hiện ở nhiều cấp độ, có thể đồng cấp, cũng
có thể là không đồng cấp
Trang 15Cũng như Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc, bộ Bách khoa toàn thư
Việt Nam được biên soạn theo phương pháp phân quyển Mỗi quyển gồm một
hoặc một vài ngành Việc phân loại tri thức khoa học không đơn thuần là liệt
kê các ngành, chuyên ngành, môn loại một cách hình thức, mà cần phải xác định được các mối quan hệ nội tại của từng ngành, từng chuyên ngành, từng môn loại đó
2 Lập Bảng mục từ
Lập bảng mục từ là khâu thứ 2 sau phân loại tri thức
Việc lập bảng mục từ cho các quyển của Bách khoa toàn thư Việt Nam
rất nên thông qua 3 bước như sau:
Bước một: Khảo sát và tham chiếu bảng mục từ của các bách khoa toàn
thư đã có theo các ngành và các từ điển chuyên ngành, các công trình tra cứu khác, sách công cụ, các sách chuyên khảo, giáo khoa, giáo trình, các tiểu luận khoa học… đã được xuất bản
Làm thế là để thu thập, nắm chắc hiện trạng “trữ lượng từ điển” đã có, cho phép đánh giá sự phát triển của các ngành, chọn lọc ra được cái chủ yếu, phát hiện ra được các khuynh hướng mới và những khái niệm, thuật ngữ mới, nhằm thống kê đầy đủ số lượng thuật ngữ, khái niệm; loại bớt các thuật ngữ, khái niệm đã lỗi thời
Bước hai: Thiết kế khung phân loại theo các ngành, xác định mối quan
hệ giữa các ngành, các bộ môn khoa học, sau đó, quy định tỉ lệ số lượng mục
từ, loại hình mục từ cho từng chuyên ngành, môn, bộ môn
Bước này nhằm xác định cơ sở cho việc chọn mục từ của các ngành,
chuyên ngành và các môn, bộ môn Bách khoa toàn thư Việt Nam đã có quy
định tỉ lệ mục từ cho các ngành, còn ở các quyển theo ngành thì cần tính tỉ lệ cho các chuyên ngành và các bộ môn của chuyên ngành Cũng cần chú ý đến các ngành hoặc các bộ môn có sự giao thoa giữa các ngành (liên ngành), để xác định các mục từ liên ngành
Bước hai đi từ cái chung, cái tổng quát đến cái riêng, cái cụ thể Khi nào
đã xác định được từng cấp độ như vậy mới bắt tay vào chọn mục từ và lập bảng mục từ chuyên ngành
Trang 16Bước ba: Lập bảng mục từ theo chuyên ngành Đây là bước quyết định
cho bảng mục từ tổng hợp Cần đảm bảo tính cân đối trong từng bảng mục từ chuyên ngành và liên ngành
Việc chọn mục từ cho các bảng mục từ chuyên ngành là bước triển khai cụ thể của việc phân loại tri thức, cũng phải dựa vào tỉ lệ quy định của chuyên ngành và các bước lập bảng mục từ chuyên ngành, chọn mục từ cho chuyên ngành
Phân loại các loại mục từ căn cứ vào nội dung tri thức với cấu trúc khoa học tầng bậc của từng loại mục từ vừa đảm bảo cho quá trình biên soạn, biên tập được thống nhất vừa giúp cho việc quản lý mục từ, bổ sung, cập nhật mục
từ sau này được nhanh chóng, thuận tiện
Cuối cùng, muốn chọn được mục từ, cũng cần dựa mấy nguồn cơ bản
sau: 1 Từ các sách giáo khoa, giáo trình, chuyên khảo, bài báo - tạp chí chuyên ngành; 2 Từ các công trình tra cứu và sách công cụ đã in ấn xuất bản;
3 Dựa vào phân loại khoa học của từng ngành mà đặt tên cho mục từ; và 4 Các mục từ cập nhật Mục từ phải đảm bảo tính khái quát, tính đại diện và
vừa phải quy phạm, chuẩn mực lại vừa phải giản dị thông dụng; số lượng chữ trong tên các mục từ không nên quá dài, mà phải rất súc tích, cô đọng Mục
từ thường được chọn theo từng chuyên ngành của một ngành khoa học Khi lập bảng mục từ phân loại khoa học của chuyên ngành và của cả ngành, cần tính toán các mục từ trùng giữa các chuyên ngành và các mục từ mang tính liên ngành, đa ngành Các bảng mục từ thường cũng phải lập nhiều lần mới xong và nhất thiết phải đảm bảo tính hệ thống và tính toàn diện của hệ thống tri thức khoa học
III NHỮNG NGUYÊN TẮC CẦN TUÂN THỦ ĐỂ XÂY DỰNG BẢNG MỤC TỪ VÀ BIÊN SOẠN MỤC TỪ
Nguyên tắc xây dựng bảng mục từ và biên soạn mục từ gồm những nội dung sau:
1 Nguyên tắc về tính cần yếu
Nguyên tắc cần yếu là quy định về cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô của
Bách khoa toàn thư Việt Nam cần thiết và hợp lý, để có hệ thống mục từ cũng
như hệ thống thông tin của mục từ một cách đầy đủ nhất Tính cần yếu gồm những nội dung sau:
Trang 17- Tính cần yếu xuất phát từ việc xem xét đối tượng sử dụng của Bách
khoa toàn thư Việt Nam để tiến hành xây dựng cấu trúc vĩ mô, tức là lập bảng
mục từ
- Tính cần yếu thể hiện ở việc xây dựng cấu trúc vi mô của Bách khoa
toàn thư Việt Nam để đáp ứng yêu cầu trong biên soạn, biên tập và nhu cầu
của đối tượng sử dụng Cấu trúc vi mô của mục từ Bách khoa toàn thư Việt
Nam gồm những thông tin hữu ích, cách sắp xếp hệ thống thông tin phải hợp
lý trong từng loại hình mục từ
Toàn thế giới đang hướng đến cuộc cách mạng khoa học lần thứ 4 Lập
bảng mục từ, biên soạn mục từ Bách khoa toàn thư Việt Nam phải tính đến
tính cần yếu trong việc kết nối, liên thông tri thức một cách toàn diện giữa các ngành và các chuyên ngành
2 Nguyên tắc về tính toàn diện, tính hệ thống
Tính toàn diện của bảng mục từ Bách khoa toàn thư Việt Nam thể hiện ở
những điểm sau đây:
+ Mục từ được lựa chọn đưa vào Bách khoa toàn thư Việt Nam phải thể
hiện những tri thức cơ bản nhất
+ Mục từ lựa chọn đưa vào Bách khoa toàn thư Việt Nam phải là những
tri thức mang tính khái quát, đại diện và có cơ cấu hoàn chỉnh, trọn vẹn
Tính toàn diện là nguyên tắc phổ quát, đặc trưng của bách khoa toàn thư
Mục từ, nội dung mục từ của Bách khoa toàn thư Việt Nam vừa phải mang
tính chuyên sâu, vừa phải cơ bản, vừa phải mang tính đại diện trong tất cả các ngành và các lĩnh vực
Tính hệ thống của bảng mục từ, trên đã nói, là một yêu cầu tất yếu, thể hiện cấu trúc, tầng bậc và các mối liên kết từ ngành, chuyên ngành cho đến các tầng, các nhánh nhỏ hơn Tính toàn diện đảm bảo cho bách khoa toàn thư
là một chỉnh thể đầy đủ, trọn vẹn; còn tính hệ thống đảm bảo cho bách khoa toàn thư một cấu trúc vững chắc, chặt chẽ
3 Nguyên tắc về tính chính xác, thống nhất
3.1 Tính chính xác và thống nhất về tư liệu
Tính chính xác của tư liệu căn cứ vào:
Trang 18+ Tư liệu phải được thu thập từ những nguồn chính thống thì mới đảm bảo tính chính xác Nguồn tư liệu chính thống gồm có:
Tư liệu giấy đã được phát hành theo đúng quy định: các công trình tra cứu (từ điển, bách khoa thư), sách, báo, tạp chí, v.v
Tư liệu online: tư liệu từ những trang website chính thống
Tư liệu chép tay cần ghi rõ xuất xứ, nguồn gốc, ký hiệu thư viện, địa chỉ tàng thư…
+ Quá trình sử dụng tư liệu: Bách khoa toàn thư Việt Nam là công trình
tập thể, huy động trí tuệ của các nhà khoa học trong cả nước Biên soạn Bộ
Bách khoa toàn thư Việt Nam phải được thực hiện theo một quy trình biên
soạn, qua nhiều công đoạn, số lượng người tham gia thực hiện lớn Quá trình
sử dụng tư liệu, qua các công đoạn khác nhau đòi hỏi độ chính xác và thống nhất giữa các công đoạn và toàn bộ các quy trình thực hiện
3.2 Tính chính xác và thống nhất về thuật ngữ
Thuật ngữ là một trong những loại mục từ chiếm số lượng khá lớn trong
bảng mục từ của các quyển chuyên ngành của bộ Bách khoa toàn thư Việt
Nam Theo khảo sát của Kiểm kê từ điển học Việt Nam từ năm 1651 đến 2005
có đến 330 cuốn từ điển thuật ngữ Đây cũng chính là các nguồn thuật ngữ có thể tạm coi là chính thống Nhưng thực tế, số lượng thuật ngữ thay đổi và tăng theo sự phát triển của các ngành khoa học kỹ thuật Trong tiếng Việt hiện nay,
dù nhiều thuật ngữ đã được Việt hóa, nhưng trong thực tế có thuật ngữ vẫn phải dùng nương theo cách phiên từ tiếng Anh, tiếng Pháp, Hán Việt Việc phiên chuyển thuật ngữ chuyên ngành vẫn chưa được giải quyết thấu đáo Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam trước đây đã
có ý tưởng “Xây dựng kho thuật ngữ chuẩn quốc gia”, nhưng thực tế đây cũng mới chỉ dừng lại ở đề tài nghiên cứu, chưa được thẩm định và phát hành Vấn đề một thuật ngữ sẽ xuất hiện tại các ngành khác nhau, với những cách
viết khác nhau trong bộ Bách khoa toàn thư Việt Nam là điều hoàn toàn có thể
Trang 193.3 Tính chính xác và thống nhất về tên riêng
Tên riêng là một chủ đề quan trọng để hình thành hệ thống mục từ của
Bách khoa toàn thư Việt Nam Mỗi tên riêng sẽ là một mục từ
Tên riêng gồm có:
- Tên riêng tiếng Việt
- Tên riêng tiếng nước ngoài
- Tên riêng tiếng các dân tộc thiểu số
Sự không thống nhất của tên riêng có thể xảy ra những trường hợp sau: Thứ nhất, tên riêng chỉ người thì sử dụng tên khai sinh hay tên tự, tên bút danh, tên thường dùng Trong trường hợp này, một tên riêng sẽ có nhiều tên
khác nhau, vấn đề tên riêng nào trở thành mục từ trong Bách khoa toàn thư
Việt Nam phải được thống nhất và chính xác trong tất cả các quyển bách khoa
toàn thư
Thứ hai, tên riêng tiếng nước ngoài Vấn đề chính xác và thống nhất tên
riêng tiếng nước ngoài trong Bách khoa toàn thư Việt Nam là một nội dung
quan trọng Tính trước được vấn đề này, như đã nói, Ban Chủ nhiệm Đề án đã giao cho Ban Thư ký Đề án thực hiện nhiệm vụ Xây dựng quy tắc phiên chuyển tiếng nước ngoài sang tiếng Việt, đây sẽ là công cụ hữu hiệu thực hiện
chuẩn xác và thống nhất tên riêng tiếng nước ngoài trong Bách khoa toàn thư
Việt Nam
Thứ ba, tên riêng tiếng các dân tộc thiểu số Cũng giống như tên riêng tiếng tiếng nước ngoài, tên riêng tiếng các dân tộc thiểu số cũng cần được chuẩn hóa, chính xác và thống nhất trong toàn bộ bảng mục từ và biên soạn
mục từ Bách khoa toàn thư Việt Nam
4 Nguyên tắc về tính chuẩn mực, súc tích, ngắn gọn
Bách khoa toàn thư là sách học tập, tra cứu, cung cấp thông tin mang tính
quyền uy Tính chuẩn mực là yếu tố thể hiện tính quyền uy của Bách khoa toàn
thư Việt Nam Tính chuẩn mực của Bách khoa toàn thư Việt Nam gồm:
- Chuẩn mực thể hiện ở việc triển khai thực hiện đúng theo cấu trúc vĩ
mô của Bách khoa toàn thư Việt Nam
Trang 20- Hệ thống mục từ phải là những tri thức mang cấu trúc khoa học, chuẩn mực, đồng cấp Mục từ phải đảm bảo sự cân đối giữa các ngành, tránh tình trạng mục từ ngành này chuyên sâu cấp độ 3, mục từ ngành khác lại chuyên sâu cấp độ 2, v.v
- Bách khoa toàn thư Việt Nam có một chức năng quan trọng là chuẩn
hóa ngôn ngữ, nên ngôn từ sử dụng phải trong sáng, chuẩn xác, ngắn gọn Không nên có những đầu mục từ quá dài, khi biên soạn cần giảm thiểu tối đa những hư từ, những dạng câu nghi vấn, cảm thán
Tính chuẩn mực của mục từ còn thể hiện ở việc tuân thủ các quy tắc chính tả, quy tắc phiên chuyển tiếng nước ngoài sang tiếng Việt và quy tắc phiên chuyển tiếng các dân tộc thiểu số sang tiếng Việt
5 Nguyên tắc về tính dân tộc
Bách khoa toàn thư Việt Nam là công trình tổng hợp văn minh, văn hiến,
văn hóa, khoa học, trí tuệ Việt Nam nên đương nhiên tính dân tộc cần được coi trọng, ở mức cao nhất, có thể Đối với việc xây dựng bảng mục từ và biên
soạn mục từ, tính dân tộc được thể hiện ở những nội dung sau:
- Xây dựng hệ thống thuật ngữ, khái niệm, từ ngữ nên sử dụng tối đa yếu tố thuần Việt Chỉ dùng các thuật ngữ, khái niệm, từ ngữ, sử dụng yếu
tố Hán Việt và mượn các thuật ngữ Âu - Mỹ khi không thể sử dụng được từ tiếng Việt
- Các mục từ đưa vào Bách khoa toàn thư Việt Nam thì tỉ lệ mục từ về
Việt Nam rất nên lớn hơn tỉ lệ mục từ của thế giới vì một trong những mục
đích của Bách khoa toàn thư Việt Nam là giới thiệu tri thức của Việt Nam
ra thế giới
- Để phục vụ đông đảo công chúng học tập, nghiên cứu, tra tìm, không nên đưa vào những tri thức quá hóc hiểm, quá chuyên biệt…
6 Nguyên tắc về tính quốc tế
Bách khoa toàn thư Việt Nam là công trình giới thiệu các tri thức của
Việt Nam và thế giới, tính quốc tế là một trong những nguyên tắc không thể
không tính đến
- Hệ thống thuật ngữ, khái niệm, từ ngữ sử dụng để trở thành đầu mục từ
và nội dung mục từ phải kế thừa, bao quát được những tri thức của nhân loại
Trang 21- Dùng các thuật ngữ, khái niệm, từ ngữ có tính liên thông với khu vực
và thế giới
- Tham khảo cách xây dựng bảng mục từ và biên soạn mục từ của một số
bộ bách khoa toàn thư trên thế giới
7 Nguyên tắc về tính cập nhật
Những tri thức đưa vào Bách khoa toàn thư Việt Nam phải mang tính kịp
thời, đảm bảo cho độc giả tiếp cận được các tri thức mới nhất, mang tính thời sự Ngày nay, trong thời đại công nghệ thông tin, toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế, những tri thức đưa vào Bách khoa toàn thư Việt Nam phải được cập
nhật thường xuyên, không lỗi thời, lạc hậu hoặc thiếu cơ sở khoa học
Đối với hệ thống mục từ Bách khoa toàn thư Việt Nam tính cập nhật là
vô cùng quan trọng, song đồng thời cũng phải sàng lọc, cân nhắc kỹ lưỡng,
bởi vì nhiều khi mới chưa chắc đã chuẩn
Thời gian biên soạn bộ Bách khoa toàn thư Việt Nam từ khâu lập Đề
cương biên soạn bảng mục từ đến khâu biên soạn, biên tập, rồi đọc duyệt bản thảo là một khoảng thời gian tương đối dài Việc cập nhật những tri thức mới xuất hiện, để đưa vào bảng mục từ và nội dung mục từ là một trong những phần việc cần phải tính đến trong suốt quá trình triển khai thực hiện công trình
Tiếp theo, khi Bách khoa toàn thư Việt Nam đã được biên soạn xong
cũng nên tính đến chế độ cập nhật, bổ sung mục từ hàng năm theo cách làm
niên giám của hầu hết các bộ bách khoa toàn thư trên thế giới Muốn thực
hiện được nội dung này phải xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện một cách chi tiết, cụ thể
8 Nguyên tắc về tính hiện đại
Các mục từ đưa vào Bách khoa toàn thư Việt Nam có mảng tri thức quan
trọng là những tri thức hiện đại, phù hợp với xã hội đương đại
Tính hiện đại trước hết ở việc xây dựng hệ thống mục từ phải là hệ thống thể hiện được các tri thức hiện đại, trong đó hệ thống các khái niệm, thuật ngữ, v.v lựa chọn trở thành đầu mục từ rất nên được xem trọng
Tư liệu sử dụng để lập bảng mục từ phải là những tri thức cập nhật mới nhất về các lĩnh vực, các ngành khoa học
Trang 22Mặt khác, tính hiện đại còn là nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình biên
soạn nội dung mục từ của Bách khoa toàn thư Việt Nam, đảm bảo cung cấp
những thông tin khoa học mới nhất, dưới ánh sáng của khoa học hiện đại
Như thế, căn cứ vào mục tiêu biên soạn, quy mô biên soạn của Bách
khoa toàn thư Việt Nam, xin được tạm thời đề ra 8 nguyên tắc cơ bản nhất khi
xây dựng Bảng mục từ và biên soạn mục từ cho các quyển Các nguyên tắc đó đều nên được quán triệt, thực hiện một cách đầy đủ, vừa nhất quán, vừa thông suốt trong cả quá trình làm việc
Trên đây là định nghĩa mục từ và xác định ra 7 loại mục từ cho Bách
khoa toàn thư Việt Nam, từ đó đề ra tiêu chí lựa chọn cho từng loại Có một số
điểm cần lưu ý thêm là: Thứ nhất, các loại mục từ ở các quyển chuyên ngành
rất có khả năng không đều nhau, có loại mục từ ở quyển này nhiều mà ở quyển khác ít hơn và ngược lại Lấy ví dụ: loại mục từ về nhân danh (tác giả) thì chắc không có quyển nào nhiều hơn quyển Văn học, bởi lẽ từ khi dựng nước hàng ngàn năm cho đến nay thì tác gia văn học vẫn là chiếm số lượng nhiều nhất trong cách loại tác gia Cũng vậy, với quyển Lịch sử Việt Nam thì nhân vật lịch sử cũng chiếm số nhiều… Đấy là chưa kể các tác gia vừa là tác gia văn học, vừa là tác gia sử học, lại vừa là tác gia Hán - Nôm… Vậy, rất cần tính số lượng đặc thù về mục từ cho một số quyển (có thể vượt số lượng 1500
mục) Thứ hai, nói về cách chọn mục từ một cách thông dụng và dễ hiểu nhất thì giới chuyên môn gọi nôm na là gạch sách, phương Tây dùng chữ
frequency count (đếm tần số xuất hiện), căn cứ vào các tiêu chí đã định mà
làm Thứ ba, cần chú ý đến tính liên thông và giao thoa giữa các loại mục từ
Mục từ về tác giả, tác phẩm nhiều khi cũng có thông tin ở mục từ về khuynh hướng, trường phái; mục từ về tổ chức, sự kiện nhiều khi cũng có liên quan đến mục từ về địa danh, tác giả, tác phẩm, v.v… và v.v… Điều đó thể hiện
“cầu tính” (toàn diện, trọn vẹn) của bách khoa toàn thư Với các mục từ trùng
khớp về nội dung thì cần có chỉ dẫn chuyển chú (mục từ nọ xem mục từ kia), với các mục từ có thông tin giao thoa thì dùng chữ xem thêm
Về lập bảng mục từ, thường trình tự các bước như sau: 1 Lập bảng
mục từ các chuyên ngành theo cấu trúc phân loại tri thức khoa học; và 2 Lập bảng mục từ tổng hợp theo thứ tự chữ cái Bước 1 thường làm theo hình cây,
cái mà người ta gọi là điều mục (mục từ cành, nhánh), sơ đồ chung nhất là:
Ngành các chuyên ngành các bộ môn các chuyên môn các nhánh chuyên sâu hơn, v.v… Ở bước này, lấy các chuyên ngành làm căn cứ Từ
Trang 23chuyên ngành lập bảng mục từ cho chuyên ngành mình, rồi cũng xếp theo thứ
tự chữ cái Bước 2 là lập bảng mục từ tổng hợp xếp theo thứ tự chữ cái từ các chuyên ngành Cần chú ý là xác định các mục từ trùng và mục từ liên ngành
để phân công biên soạn, biên tập về sau Lại nữa, 7 loại mục từ được xác định theo tiêu chí đều được đưa vào lựa chọn theo tầng bậc như vậy, làm thế sẽ không bao giờ sợ bị thiếu sót mục từ Và bảng mục từ cũng đảm bảo tính hệ thống và tính toàn diện
Về các nguyên tắc xây dựng bảng mục từ và biên soạn mục từ Bách
khoa toàn thư là công trình để học tập, tra cứu mang tính quyền uy, khẳng định vị thế của một kho tàng tri thức quốc gia Các nguyên tắc xây dựng bảng
mục từ và biên soạn mục từ cho từng quyển theo ngành và cho cả bộ Bách
khoa toàn thư Việt Nam được nêu ra đều dựa trên quan điểm như vậy Nguyên
tắc về tính chính xác và thống nhất là để đảm bảo sự đúng đắn, không sai lệch; nguyên tắc về tính toàn diện, tính hệ thống là để đảm bảo công trình được hoàn chỉnh, không thiếu sót; nguyên tắc về tính cập nhật là để đảm bảo kịp thời, không lạc hậu; nguyên tắc về tính hiện đại là đảm bảo công trình mang đậm dấu ấn thời đại; nguyên tắc về tính chuẩn mực là để đảm bảo sự nghiêm túc, cẩn trọng, không thiên lệch; nguyên tắc về tính dân tộc là để đảm bảo “màu cờ sắc áo”, bản sắc khoa học Việt Nam; nguyên tắc về tính quốc tế
là để đảm bảo tinh thần sẵn sàng hội nhập cao của Việt Nam với thế giới; nguyên tắc về tính cần yếu là để đáp ứng yêu cầu cần thiết nhất về mặt nội dung biên soạn, đồng thời cũng đáp ứng nhu cầu học tập và tra cứu của đông đảo công chúng
Tài liệu hướng dẫn này, hướng đến việc hình thành các nguyên tắc xây
dựng bảng mục từ và biên soạn mục từ, sau khi đã trình bày những hiểu biết căn bản nhất về mục từ và việc xác lập bảng mục từ cho các quyển chuyên
ngành của bộ Bách khoa toàn thư Việt Nam
Chú thích:
1 Lịch sử - Lý luận và thực tiễn biên soạn bách khoa toàn thư, Nxb Từ điển
Bách khoa, Hà Nội, 2004, tr.129-130
2 Xem Đỗ Văn Hoan, Phương pháp xác lập bảng mục từ Bách khoa thư
Công an nhân dân Việt Nam, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 6
(tháng 11-2012), tr.96
Trang 24PHẦN II
KHUNG CẤU TRÚC BIÊN SOẠN CÁC QUYỂN CHUYÊN NGÀNH
Trang 25I KHUNG CẤU TRÚC BIÊN SOẠN CỦA CÁC QUYỂN
Khảo sát khung cấu trúc (framing structure) biên soạn của hầu hết các bộ
bách khoa toàn thư lớn trên thế giới, từ Bách khoa toàn thư Điđơrô, Bách
khoa toàn thư Britannica đến Bách khoa toàn thư Americana, Đại Bách khoa toàn thư Xô Viết và Đại Bách khoa toàn thư Nga đều thấy biên soạn các mục
từ theo bảng chữ cái, chia tập, mỗi tập một hoặc một số vần gộp lại Tuy thế,
như đã nói ở trên, riêng có Đại Bách khoa toàn thư Trung Quốc là biên soạn
theo ngành, có ngành 1 quyển, có ngành 2-3 quyển; lại có quyển gồm nhiều ngành Đó cũng là cách mà chúng ta đang tiến hành, khi biên soạn các quyển
theo chuyên ngành của Bách khoa toàn thư Việt Nam ở giai đoạn 1 Theo đó,
có thể hình dung các quyển theo ngành của Bách khoa toàn thư Việt Nam cần
xác định một khung cấu trúc biên soạn chung như sau:
1 Danh mục tên người: thường để ngay đầu sách, gồm:
- Ban Biên tập kênh chữ
- Tác giả kênh hình, Ban Biên tập kênh hình
Lưu ý, trường hợp tên trùng nhau (họ, đệm, tên) thì cần có ký chú rõ ràng
2 Mục lục
- Cũng soạn và để ngay ở đầu sách sắp xếp theo vần chữ cái các mục từ của cả quyển và sắp xếp theo bảng mục từ của từng chuyên ngành
3 Lời giới thiệu
Hoặc Lời nói đầu, nêu rõ:
- Mục tiêu biên soạn
Trang 26- Phương châm biên soạn
- Quy mô biên soạn
- Đối tượng học tập, tra cứu
4 Quy cách, thể lệ biên soạn
- Quy cách về việc tra cứu
- Quy cách chính tả tiếng Việt
- Quy cách phiên chuyển tiếng các dân tộc và tiếng nước ngoài
- Quy cách về hệ thống chuyển chú
- Tiêu chí và nguyên tắc tuyển chọn mục từ
- Thể lệ, quy cách, cấu trúc biên soạn mục từ
- Thể lệ về biên tập nội dung, biên tập kỹ thuật, chọn lọc biên tập kênh hình và thẩm định bản thảo
Riêng Tiêu chí và nguyên tắc tuyển chọn mục từ cần nhấn mạnh đến vị trí, vai trò của ngành (quyển) trong tổng thể các ngành của 37 quyển Bách
khoa toàn thư Việt Nam: Không phải như tỉ lệ và số lượng mục từ khi biên
soạn Bách khoa toàn thư theo từng ngành riêng biệt
5 Tổng luận - Mục từ về lịch sử hình thành và phát triển của ngành
- Lược sử về cơ cấu tổ chức, quá trình thành lập và hoạt động
- Nội dung cơ bản của ngành
- Đóng góp chủ yếu của ngành
- Các trào lưu, khuynh hướng, trường phái cơ bản nhất
- Các tác giả, tác phẩm tiêu biểu nhất
- Theo cấu trúc vi mô của mục từ này ở phần sau
v.v
6 Biên soạn mục từ
Là phần quan trọng nhất, chiếm dung lượng lớn nhất của một quyển, quyết định sự thành bại của bộ Bách khoa toàn thư Qua tham khảo các bộ bách khoa toàn thư của thế giới, cùng với việc rút kinh nghiệm từ việc biên
Trang 27soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, có thể quy định trình tự biên soạn mục từ
Bách khoa toàn thư Việt Nam như sau:
a Tên đầu mục từ
Tên đầu mục từ biên soạn theo Bảng mục từ của ngành, chuyên ngành đã lập Đặc biệt, đối với những mục từ gốc, mục từ dài và rất dài của bách khoa toàn thư thường đặt tiêu đề cho các tầng bậc, cấp độ để phản ánh hệ thống tri thức, giúp việc tra cứu và học tập thuận tiện, có hiệu quả
Hình thức trình bày tên đầu mục từ thường có co chữ lớn, in hoa đậm
b Diễn giải, chú thích nghĩa
Xem phần cấu trúc vi mô cho từng loại mục từ ở phần sau và có thể cụ
thể hóa thêm như sau:
- Diễn giải, chú thích nghĩa (nhiều nơi gọi là chú thích) thường nằm trong ngoặc đơn sau tên đầu mục từ, giải thích nguồn gốc thuật ngữ, tên Latinh, tên gọi tắt, tên hiệu, tên gọi khác, năm sinh, năm mất, ngày thành lập, nơi thành lập,… Ngoài ra, ở phần này có thể ghi thêm tên ngành hoặc liên ngành có chung một khái niệm thuật ngữ hoặc chủ đề tri thức Ví dụ:
+ Những mục từ có gắn liền với tên riêng nước ngoài như: nhân danh, địa danh, định luật,… sau tên đầu mục từ có ghi tên nguyên ngữ trong ngoặc đơn + Những mục từ khoáng vật, hóa chất, sinh học, nông nghiệp (cây, con)… có ghi thêm tên La tinh
+ Những mục từ có chung một khái niệm, thuật ngữ thì ghi thêm tên liên ngành như: toán, kiến trúc, mỹ thuật, sử, quân sự, chính trị, văn, ngôn ngữ,…
- Phần này thường ngắn gọn, chính xác và có thể có cả ký hiệu chuyển chú, chuyển dẫn
c Nội dung mục từ
Đây là phần chính, chiếm dung lượng lớn nhất của một mục từ bách khoa toàn thư trình bày khái quát có trình tự một khái niệm, một học thuyết, một trường phái, một tổ chức, một sự kiện, một ngành hoặc phân ngành học thuật, một tác giả, một tác phẩm, một nhân danh, một địa danh… để người đọc có thể hiểu được một cách toàn diện và có hệ thống
Trang 28Nội dung mục từ thường có phần nói rõ xuất xứ, nguồn gốc và mở rộng sâu hơn những kiến thức liên quan, những vấn đề đang còn bỏ ngỏ hoặc tranh biện Nội dung của mục từ bách khoa toàn thư cũng có kết cấu chặt chẽ cho từng
loại hình mục từ, gồm những phần như sẽ thấy ở mục cấu trúc vi mô dưới đây
Đối với những mục từ gốc (mục từ dài) thường được phân chia thành tầng bậc Mỗi một tầng bậc đều có tên tiêu đề và mỗi tên tiêu đề đều có nội dung hoàn chỉnh, giúp cho việc tra tìm thuận tiện và hệ thống được kiến thức bao chứa mục từ gốc Sau nội dung, có thể chuyển dẫn xem thêm ở các mục
từ khác
Với Mục từ chuyển chú chỉ có tên đầu mục từ và được chuyển tới xem
nội dung của mục từ khác
d Kênh hình minh họa
Kênh hình minh họa là bộ phận cấu thành của mục từ bách khoa toàn thư, giúp tiết kiệm được văn bản, có tác dụng làm sáng tỏ phần kênh chữ trong nội dung mục từ Vì chính những hình ảnh minh họa đã mang tính tri thức Các loại hình minh họa như: sơ đồ, biểu đồ, công thức, bản đồ, tranh, ảnh,… giúp cho độc giả có thêm nhận thức về nội dung mục từ mà văn bản chưa lột tả hết được Hình ảnh minh họa cũng làm cho nội dung mục từ hấp dẫn, sinh động và khoa học hơn
Do hình minh họa là bộ phận cấu thành của mục từ, nên hình minh họa phải mang tính văn hóa, tính khoa học, tính tư tưởng và tính nghệ thuật Việc lựa chọn hình minh họa và chú thích hình minh họa phải đảm bảo phối hợp chặt chẽ, làm cho nội dung mục từ thêm rõ nghĩa Hình minh họa cho mục từ bách khoa toàn thư chủ yếu ở dạng ảnh, bản đồ (thế giới, châu lục, quốc gia, tỉnh, thành phố,…), bảng, biểu đồ, công thức và có thể có các phụ bản màu theo chủ đề
đ Tên người biên soạn
Ghi ở dưới nội dung mục từ để chỉ rõ uy tín, bản quyền và trách nhiệm biên soạn, cũng như sửa chữa bổ sung sau này Sau tên người có thể ký chú ngắn gọn về địa chỉ (nơi làm việc, công tác…) Tên người viết thường in bằng chữ in hoa, co chữ nhỏ hơn co chữ tên đầu mục từ
Trang 29e Tài liệu tham khảo
Phần được ghi sau nội dung mục từ, liệt kê các tên sách, tư liệu, báo chí,… được sử dụng để biên soạn mục từ Tài liệu tham khảo có tên và địa chỉ
rõ ràng giúp độc giả có thể tham khảo thêm để hiểu rộng hơn những khái niệm, chủ đề liên quan đến mục từ
Tài liệu tham khảo được sắp xếp theo quy định thống nhất, bao gồm: tên tác giả, dịch giả, tên sách, báo - tạp chí, nhà xuất bản, nơi xuất bản, năm xuất bản Tuy nhiên, không phải tất cả các mục từ bách khoa toàn thư đều có thư
mục tham khảo, như các bách khoa toàn thư Americana, Britannica, Grand
Larousse,… chỉ có thư mục tham khảo ở những loại hình mục từ sau:
- Mục từ về ngành, phân ngành học thuật, lý luận cơ bản và các học thuyết
- Mục từ về học phái, trường phải có ảnh hưởng, uy tín
- Mục từ về những phát minh quan trọng
- Mục từ về nhân vật, tác giả, tác phẩm quan trọng và có ảnh hưởng Với Việt Nam chúng ta, để đảm bảo tính chính xác và khoa học, rất nên mục từ nào cũng cần có tài liệu tham khảo Hình thức trình bày của tài liệu tham khảo co chữ nhỏ hơn so với co chữ của phần nội dung, xếp theo trật tự thời gian, trong nước, ngoài nước
7 Các phụ lục
- Bảng tra cứu niên đại lịch sử
- Bảng tra cứu niên biểu các sự kiện quan trọng
- Bảng tra cứu các Nhóm phái, Trào lưu (nếu có)
- Bảng tra cứu Tài liệu tham khảo
- Các loại bảng, biểu khác về nhân danh, địa danh, v.v…
8 Tranh ảnh, đồ họa
- Các minh họa thêm cho mục từ và nội dung biên soạn (ngoài kênh hình)
- Các sơ đồ, biểu đồ, bản đồ, công thức,…
- Các hình vẽ, tranh, ảnh,…
Trang 309 Index
Còn gọi là Sách dẫn, là phần rất cần thiết trong từng quyển chuyên ngành Bách khoa toàn thư Phần này, kết hợp với Mục lục sách, có tác dụng
giúp ích cho việc học tập và tra cứu được thuận tiện nhất
Có thể nói rằng khung cấu trúc biên soạn trên đây cho từng quyển
chuyên ngành của Bách khoa toàn thư Việt Nam là mô thức chắt lọc nhất từ
việc khảo sát các tài liệu vừa mang tính thực tiễn, vừa mang tính lý luận cơ bản về bách khoa toàn thư của thế giới áp dụng vào Việt Nam Khung cấu trúc biên soạn đó gồm 9 phần mục, trong đó phần quan trọng nhất chính là phần nội dung biên soạn mục từ
II CẤU TRÚC VI MÔ CỦA MỤC TỪ BÁCH KHOA TOÀN THƯ VIỆT NAM
Như vừa nói, trong khung cấu trúc biên soạn các quyển thì mục 6 là mục nội dung biên soạn mục từ Việc biên soạn có chuẩn hay không đều phụ thuộc vào việc xác lập cấu trúc vi mô của mục từ
Về đại thể, cấu trúc mục từ của bách khoa toàn thư gồm các phần sau:
Thứ nhất, gọi chung là định nghĩa khái niệm, cần nêu rõ định tính (là ai?
là cái gì? Nhóm phái nào? Vấn đề gì, v.v…)
- Dẫn giải, chú thích nghĩa một cách khái quát về xuất xứ, nguồn gốc của mục từ
- Khái lược về “lịch sử vấn đề” của mục từ
Thứ hai, nội dung chính của mục từ, đây là phần viết chính, dài nhất của
mục từ, có thể nói là phần định lượng, định chất
Thứ ba, kênh hình minh họa (tranh, ảnh, bảng biểu, công thức, phụ bản,
đồ bản…)
Thứ tư, tên người biên soạn
Thứ năm, tài liệu tham khảo
Đó là mẫu cấu trúc chung nhất Đi vào cụ thể, có thể chi tiết hóa cấu trúc
vi mô của từng loại mục từ như sau:
Trang 311 Mục từ khái quát lịch sử hình thành, phát triển ngành và chuyên ngành, ngành của một quốc gia, gồm:
- Tên người biên soạn: riêng mục từ về lịch sử hình thành, phát triển ngành thường tên người hoặc tập thể biên soạn đặt ngay ở dưới đề mục
- Ngành gì?
- Gồm những chuyên ngành nào?
- Xuất xứ, nguồn gốc của ngành, các chuyên ngành, ngành của một quốc gia
- Nội dung: cơ sở tổ chức, quá trình thành lập, công tác học tập đào tạo, quá trình phát triển, các thành tựu và kết quả đạt được, v.v…
- Ý nghĩa, tác dụng, ảnh hưởng
- Hình ảnh minh họa
- Tên người biên soạn: với mục từ chuyên ngành và ngành của một quốc gia
- Tài liệu tham khảo
2 Mục từ là khái niệm, thuật ngữ, sự vật hiện tượng, gồm:
- Tên khái niệm, thuật ngữ, sự vật hiện tượng (tiếng Latinh, tiếng nước ngoài) (nếu có)
- Định nghĩa khái niệm, thuật ngữ, sự vật hiện tượng
- Xuất xứ, nguồn gốc, lịch sử hình thành
- Nội dung (vai trò, công dụng, ảnh hưởng)
- Các cách hiểu khác, các tranh luận, bàn thảo (nếu có)
- Hình ảnh minh họa (nếu có)
- Tên người biên soạn
- Tài liệu tham khảo
3 Mục từ về trường phái, trào lưu, khuynh hướng, gồm:
- Tên gốc (tiếng nước ngoài, nếu có)
- Các tên gọi khác, vì sao?
- Định nghĩa: trường phái gì? trào lưu gì? khuynh hướng gì?