Chính vì vậy để năng cao chất lượng giáo dục trong nhàtrường, hiện nay vấn đề đởi mới phương pháp giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin và dạy học không phải là mối quan tâm của mỗi cá
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
Trang 2MỤC LỤC
1: PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
2: NỘI DUNG 2.1.1 Cơ sở lý luận 3
2.1.2 Vai trò của công nghệ thông tin trong lĩnh vực giáo dục 4
2 Ứng dụng CNTT trong giảng dạy bài “Tế bào nhân sơ” 4
2.2 Thực trạng: 5
2.2.1 Thuận lợi và khó khăn 5
2.2.2.Thành công và hạn chế 6
2.2.3 Mặt mạnh, mặt yếu 6
2.2.4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động 6
2.2.5 Phân tích các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra 6
2.3 Giải pháp, biện pháp 7
2.3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp 7
2.3.2 Nội dung và cách thực hiện giải pháp, biện pháp 7
a Lựa chọn nội dung cần ứng dụng công nghệ thông tin 7
b Lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp 8
c Một số vấn đề cần lưu ý khi lên lớp 9
d Một số phần mềm được sử dụng: 9
e Minh họa thiết kế bài học “Tế bào nhân sơ” chương trình sinh học 10 10
2.4 Hiêu quả của sáng kiến kinh nghiệm 19
3: PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 3.1 Kết luận: 21
3.2 Kiến nghị 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO .22
Danh mục đã đạtgiải 23
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài:
Mục tiêu đào tạo trong giáo dục là giúp các em học sinh phát triển toàn diện, hìnhthành những phẩm chất cơ bản của con người, là một giáo viên cần phải làm gì? Làmthế nào trong các giờ dạy của mình có chất lượng để “sản phẩm” do mình tạo ra cómột nền móng thật vững chắc Chính vì vậy để năng cao chất lượng giáo dục trong nhàtrường, hiện nay vấn đề đởi mới phương pháp giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin
và dạy học không phải là mối quan tâm của mỗi cá nhân nào mà là nhiệm vụ chungcủa toàn ngành Giáo dục và toàn xã hội
Những năm gần đây, công nghệ thông tin có bước phát triển mạnh mẽ, nó tácđộng đến nhiều mặt của đời sống xã hội bằng những ứng dụng rộng rãi của mình, nó
có mặt ở mọi ngành, trong đó có ngành Giáo dục và đào tạo Mặt khác, ngành Giáodục và đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho Côngnghệ thông tin Công nghệ thông tin là phương tiện để giúp chúng ta hòa nhập toàn thếgiới trong mọi lĩnh vực Việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào trường học là việclàm cần thiết và đúng đắn Trong giảng dạy, Công nghệ thông tin có tác dụng mạnh
mẽ, giúp cho việc dạy và học linh hoạt và sinh động Nó còn giúp học sinh hứng thúhọc tập, tiếp thu bài tốt hơn thông qua hình ảnh trực quan sinh động, từ quan sát trựctiếp đến lĩnh hội kiến thức
Môn Sinh học là một môn học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn đời sống, kiếnthức của môn Sinh học phục vụ cho nhiều chuyên ngành khác nhau như: Y học- Chănnuôi- Nông- Lâm- Ngư nghiệp- Công nghệ sinh học Vì vậy, một việc rất cần thiết làgiáo viên phải nghiên cứu, tìm tòi phương pháp và hình thức dạy học thích hợp nhằmgây hứng thú trong học tập của học sinh, từ đó các em say mê, ham học bộ môn sinhhơn, tiếp thu và nắm vững kiến thức hơn
Công nghệ thông tin mở ra triển vọng lớn trong việc đổi mới các phương pháp vàhình thức dạy học người Giáo viên ngày nay không thể tiếp tục giảng dạy chỉ bằngphương pháp dạy học truyền thống mà cần phải đổi mới phương pháp dạy học, kết hợphài hòa giữa các phương pháp để phù hợp với sự phát triển chung của xã hội
Trang 4Từ thực tế đó tôi nhận thấy để tăng cường sự chủ động sáng tạo của người học,tạo cho học sinh niềm say mê học tập môn Sinh học hơn nên tôi mạnh dạn chọn đề tài
Sáng kiến kinh nghiệm: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tổ chức các hoạt
động dạy học Bài: Tế bào nhân sơ” (Bài 7- Tiết 8 Sinh học cơ bản lớp 10) Sáng
kiến kinh nghiệm này có thể chưa được hoàn chỉnh vì bản thân cá nhân cũng chưa thật
sự thành thạo Công nghệ thông tin, mong được Quí đồng nghiệp góp ý để hoàn chỉnhhơn, sớm đưa vào thực tế giảng dạy để đạt hiệu quả cao hơn
1.2 Mục đích nghiên cứu:
+ Ứng dụng Công nghệ thông tin trong giảng dạy bộ môn Sinh học
+ Nhằm thu hút sự chú ý, kích thích sự say mê và hứng thú lĩnh hội kiến thức củacác em
+ Tạo cho học sinh niềm đam mê trong học tập bộ môn, học sinh làm quen vớicách học tập trong đó đòi hỏi sự sáng tạo, biết học một cách chủ động, tự giác và tíchcực
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Khai thác, ứng dụng công nghệ thông tin để tổ chức hoạt động giảng dạy Bài 7-
Tiết 8 “ Tế bào nhân sơ” chương trình sinh học 10 cơ bản đạt hiệu quả cao nhất
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Tiến hành nghiên cứu các văn bản, các bài viết có nội dung về ứng dụng công nghệ thông tin
- Thực hiện các phương pháp: thực nghiệm, quan sát, điều tra, đối chiếu với các tiết học không sử dụng công nghệ thông tin
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận:
2.1.1 Vai trò của công nghệ thông tin trong lĩnh vực giáo dục:
Từ khi Internet xuất hiện tại Việt Nam đã và đang có tác động đáng kể đến đờisống và văn hóa của người Việt Nam Có thể nhận thấy rằng Internet ngày càng thểhiện được vai trò to lớn của mình trong mọi mặt đời sống, đặc biệt là trong lĩnh vựcGiáo dục- Đào tạo
Công nghệ thông tin (CNTT) mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới cácphương pháp và hình thức dạy học theo cách tiếp cận, phương pháp dạy học theo dự
án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộngrãi Các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy học theo nhóm, dạy cá nhâncũng có những đổi mới trong môi trường CNTT Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tớiphương pháp dạy học truyền thống chủ yếu là thuyết trình( đọc - chép) với mục đíchhọc sinh phải ghi và học thuộc kiến thức, hiện nay mục tiêu là phải đặt học sinh làmtrung tâm trong quá trình lĩnh hội kiến thức, học sinh phải phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo trong việc tiếp thu và lĩnh hội kiến thức [6] Như vậy dạy học ngày nay
đã xác định rõ ràng chuyển từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang “ lấy học sinh
Trang 5làm trung tâm” Nhờ sử dụng các phần mềm dạy học mà học sinh trung bình, thậm
chí học sinh yếu cũng có thể hoạt động trong môi trường học tập Nhờ có máy tính màviệc thiết kế giáo án và giảng dạy trở nên sinh động hơn tiết kiệm được nhiều thời gianhơn so với phương pháp truyền thống Chỉ cần bấm chuột thì sau vài giây trên mànhình hiện ra ngay nội dung của bài giảng với những hình ảnh và âm thanh sống độngthu hút được sự chú ý và hứng thú đối với học sinh Thông qua giáo án điện tử, giáoviên cũng có thời gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho học sinh hoạt độngnhiều hơn trong giờ học Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của CNTT đã nhanhchóng thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy của con người
Do đó, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học là nâng caochất lượng học tập cho học sinh Tạo ra một môi trường mang tính tương tác cao chứkhông đơn thuần là “Thầy đọc, trò chép” theo kiểu truyền thống Học sinh đượckhuyến khích, tạo mọi điều kiện có thể để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lýquá trình tự học tập, rèn luyện của bản thân mình.[3].[4].[5]
2.1.2 Ứng dụng CNTT trong giảng dạy bài “Tế bào nhân sơ”:
Sinh học là ngành khoa học tự nhiên chuyên nghiên cứu sự sống Nhiệm vụ củasinh học nói chung và sinh học lớp 10 nói riêng là xem xét các hiện tượng và quá trình
từ đó rút ra các quy luật vận động của thế giới sống Giúp con người nhận thức đúng từ
đó điều khiển sự phát triển của nó Khi đó con người chưa biết về tế bào nhân sơ, vikhuẩn, vi sinh vật là gì? Vậy mà con người đã khai thác theo hướng có lợi cho nhu cầucuộc sống của mình về sinh vật, như: Lên men rượu, làm tương, sản xuất nướcmắm Vấn đề đặt ra là nhiều hiện tượng và quá trình lại xảy ra bên trong tế bào mà
ta không thể quan sát được trên thực tế bằng mắt thường, thậm chí là có sự hỗ trợ của
kính hiển vi điện tử với độ phóng đại cực lớn cũng khó mà quan sát được Bài “Tế bào
nhân sơ” là một trong những bài trọng tâm của chương trình sinh học 10, khối lượng
kiến thức lớn Làm thế nào để trong thời lượng chương trình bó hẹp chỉ một tiết dạy,giáo viên có thể vừa kiểm tra bài cũ, vừa khai thác xây dựng, hình thành các kiến thứcmới, không những thế còn phải khắc sâu, mở rộng kiến thức mới cho học sinh, giúpcác em vận dụng tốt các kiến thức mới khi giải thích các sự vật, hiện tượng thực tiễntrong cuộc sống và có thể hoàn thành tốt mọi bài tập có liên quan, giúp học sinh cóthêm hào hứng, hứng thú khi học tập để rồi ngày một yêu thích môn sinh học hơn Đâycũng chính là một trong những yếu tố góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả giờ lênlớp
Phương pháp truyền thống thường được áp dụng khi giảng dạy là thuyết trình.Giáo viên sử dụng các bức tranh in sẵn hoặc trực tiếp vẽ hình lên bảng, cho các emquan sát, diễn giải rồi yêu cầu các em ghi chép lại các ý cơ bản Các câu hỏi, nhữngtình huống, vấn đề tuy có được đặt ra nhưng rất hạn chế vì khối lượng kiến thức củacác bài trong chương này khá lớn lại rất trừu tượng, phải mất nhiều thời gian chothuyết trình và ghi chép Nếu sử dụng các tranh vẽ để dạy thì các tranh vẽ lại quá nhỏ,không phải tất cả các học sinh đều quan sát được, nhất là với những em ngồi cuối lớp
Trang 6hoặc những em có thị lực không tốt Sử dụng mô hình lắp ghép thì khá cồng kềnh, mấtthời gian trong khi khối lượng kiến thức cần truyền đạt trong bài lại rất nhiều Cả haicách sử dụng tranh vẽ hay mô hình lắp ghép đều có một nhược điểm là các hình ảnhkhông diễn tả hết được các quá trình, sự kiện diễn ra Với cách làm này thường khôngphát huy được cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập, học trò khi họcthường thụ động, dễ nhàm chán, hiệu quả giờ dạy không cao.
Với những băn khoăn, trăn trở trên, tôi bắt đầu tăng cường việc ứng dụng CNTTtrong dạy học Thiết kế các bài giảng bằng phần mềm powerpoint có hỗ trợ của cácứng dụng CNTT với các hình ảnh đẹp mắt, các đoạn video clip cùng các hiệu ứng sinhđộng đã thu hút sự chú ý của học sinh Cộng thêm với các phương pháp dạy học tíchcực như mô tả, nêu vấn đề, thảo luận nhóm giải quyết tình huống…, các bài giảng cóứng dụng CNTT đã thực sự đem lại hiệu quả cao trong giảng dạy góp phần phát huytính tích cực của học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục.[5]
Phong trào nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường được đẩymạnh, nhiều thầy cô giáo đã mạnh dạn soạn giáo án điện tử trình chiếu trong các tiếtthao giảng, báo cáo chuyên đề các cấp Các tổ chuyên môn coi việc bồi dưỡng kĩ năng
vi tính, kĩ năng thiết kế bài giảng điện tử là một nhiệm vụ trọng tâm trong sinh hoạtchuyên môn hàng tháng
Quan trọng hơn là qua một số tiết dạy có ứng dụng CNTT tôi nhận thấy ở các em
có sự chuyển biến rõ nét về mức độ tập trung, hứng thú, các em học sôi nổi hơn, giờhọc sinh động hơn, tham gia vào tiết học tích cực hơn trở thành động lực thúc đẩy quátrình tự học, tự sáng tạo của thầy cô giáo ngày càng mạnh mẽ hơn
Xuất phát từ thực tế như vậy, được sự giúp đỡ, chỉ đạo của nhà trường, tổ chuyênmôn, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và áp dụng công nghệ thông tin vào dạy - học bài
“Tế bào nhân sơ” Bài 7- Tiết 8 Sinh học lớp 10 cơ bản.
b Khó khăn:
Trường THPT Lang hánh là một trong những huyện miền núi cao của tỉnh Thanhhóa, có địa bàn rất khó khăn và phức tạp Tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số chiếm sốlượng rất cao (gần 90%) chủ yếu thuộc hai Dân tộc Thái và Mường Đa số các emchưa thật sự ham học, ý thức và tư duy của các em còn hạn chế Chưa có kĩ năng vậndụng những kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề có liên quan đến thực tiễn
Trang 7cuộc sống Chưa có kĩ năng vận dụng hài hòa giữa lí thuyết và thực tiễn cuộc sống.Học sinh thường chỉ nghe thầy cô thông báo kiến thức dưới dạng có sẵn thì dễ có cảmgiác nhàm chán và như vậy không kích thích hoạt động trí tuệ của học sinh, dẫn đếnhọc sinh lười tư duy Với những khó khăn trên, giáo viên cần chú ý tới đối tượng họcsinh để lựa chọn nội dung, phương pháp phù hợp nhất nhằm phát huy tính tích cực củahọc sinh trong giờ học Có như vậy mới nâng cao hiệu quả bài học, từng bước nângcao chất lượng bộ môn [8].
2.2.2.Thành công và hạn chế:
Thành công là: Khi lên lớp giáo viên làm chủ kiến thức, hạn chế những nhầm lẫnđáng tiếc xảy ra, nội dung bài học được truyền tải một cách đầy đủ thao tác giảng bàiđơn giản Học sinh say mê, hứng thú trong giờ học hơn
Hạn chế là: Giờ học còn phụ thuộc vào nguồn điện, phòng học, ánh sáng, đènchiếu Mặt khác một số em vẫn chưa có ý thức học tốt
2.2.3 Mặt mạnh, mặt yếu:
a Mặt mạnh:
- Đã tạo ra được môi trường học tập sôi nổi, hào hứng, tạo cho học sinh chủ động
tư duy, tìm tòi học tập thêm các kiến thức thực tế ngoài sách giáo khoa Tạo sự tươngtác tích cực giữa giáo viên và học sinh
- Tạo cho học sinh tính chủ động, độc lập trong suy nghĩ, Giáo viên chỉ gợi mở
2.2.4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:
- Hiện nay trên Internet có rất nhiều thông tin, hình ảnh phù hợp với nội dung bàigiảng Đây là nguồn tư liệu vô tận giúp cho giáo viên tảng cường hiệu quả giáo dục vàchất lương giảng dạy
- Điều kiện kinh tế của đa số gia đình phụ huynh học sinh còn khó khăn nên họcsinh chưa có điều kiện để tiếp cận công nghệ thông tin
- Học lực của học sinh không đồng đều nên ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiếnthức theo phương pháp mới
2.2.5 Phân tích các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra:
Học sinh yếu môn sinh là những học sinh có kết quả học tập thường xuyên ởmức độ thấp, điểm kiểm tra thường xuyên dưới trung bình Sự yếu kém có nhiều biểuhiện, nhiều vẻ nhưng nhìn chung học sinh học yếu sinh có những đặc điểm sau đây:
- Các em học yếu là những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý chuyêntâm vào việc học, về nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài, không làm bài tập, cứđến giờ học thì cắp sách đến trường Còn một bộ phận nhỏ thì các em không xác định
Trang 8được mục đích của việc học Các em chỉ đợi khi đến lớp nghe giáo viên giảng bào rồighi vào những nội dung đã học sau đó lấy tập ra học vẹt mà không hiểu được nội dung
đó nói lên điều gì
- Nhiều em học sinh chưa tự giác học tập, chưa có động cơ học tập nên họckhông tốt Tâm lý chung của học sinh là rất sợ các môn tự nhiên Các em học yếuthường không có sự cố gắng liên tục, trong giờ học thường thiếu sự tập trung, khôngchú ý, hay tìm cách vắng học Có thái độ rất thụ động và thờ ơ với việc học tập Bàitập giao về nhà các em chỉ làm cho có trong tư thế đối phó Tệ hơn có em còn chépnguyên văn trong sách giải hay của bạn bè mà không hiểu gì, thậm chí có những họcsinh cá biệt không bao giờ làm bài tập ở nhà, thái độ thiếu hợp tác trong giờ học,không mang sách vở đầy đủ, có khi còn không chịu ghi bài
- Trong thực tế hiện nay, việc học tập của một số không ít học sinh còn thiếunghiêm túc, các em có thái đô chán nản trong học tập nhất là ở các môn học có tính tưduy cao
- Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với Internet, các dịch vụvui chơi, giải trí hấp dẫn lôi cuốn các em hơn là nhiệm vụ học tập Thực tế dạy họcmôn Sinh học ở nhiều trường hiện nay cho thấy vẫn còn học sinh chán học, lười học
và có khuynh hướng “ham chơi hơn ham học”, tình trạng học tập của các em là “rấtkhó nhớ nhưng lại mau quên” càng trở nên phổ biến
- Sinh học là môn học lý thuyết nhiều, khái niệm trừu tượng, do đó học sinh khónắm bắt bài học, để học sinh chú ý học thì cần làm một cái gì đó mới mẻ, gây sự hứngthú học tập của học sinh Áp dụng công nghệ thông tin là một trong các cách tạo ra sựmới mẻ đó
2.3 Một số giải pháp ứng dụng CNTT trong giảng dạy bài “Tế bào nhân sơ”:
2.3.2 Nội dung và cách thực hiện giải pháp:
Từ thực tế giảng dạy tôi xin đưa ra một số đề xuất trong việc ứng dụng CNTTtrong dạy học như sau:
a Lựa chọn nội dung cần ứng dụng công nghệ thông tin:
- Việc chuẩn bị bài giảng có ứng dụng CNTT đổi mới phương pháp dạy học, giáoviên cần lưu ý là việc ứng dụng CNTT vào dạy học cần kết hợp một cách hài hòa giữa
ý tưởng thiết kế nội dung bài giảng và kỹ thuật vi tính Một mặt phải đảm bảo đặctrưng bộ môn, chuyên tải được các đơn vị kiến thức cơ bản cần thiết, mặt khác phải
Trang 9đảm bảo tính thẩm mỹ, khoa học và thuận tiện trong việc sử dụng Điều này đòi hỏikhi thiết kế giáo án điện tử cần nắm bắt tính hệ thống và kết cấu của một bài giảngđiện tử, những thông tin, hình ảnh, đoạn phim phải được chọn lọc, phải thiết thực vớiphù hợp với nội dung bài giảng.
- Xem xét nội dung bài học, có những nội dung nào cần sự hỗ trợ của CNTT Chỉnên ứng dụng khi dạy các quá trình khó mô tả bằng lời, các đồ thị, biểu đồ, phim, hìnhảnh minh họa…
b Lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp:
- Trong ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học, phải chú ý CNTTchỉ là phương tiện hỗ trợ đối với phương pháp và học chứ không phải là tất cả Máytính không hề thủ tiêu vai trò của người thầy mà trái lại cần phát huy hiệu quả hoạtđộng của giáo viên trong quá trình dạy học Vì vậy trong bài giảng nên kết hợp sửdụng phương pháp truyền thống và CNTT Không nhất thiết phải soạn giảng hoàn toàntrên máy tính mà có thể ứng dụng ở một số nội dung cần thiết như trình chiếu hìnhảnh, phim, bài tập, thí nghiệm sinh lý…, còn phần nội dung kiến thức cơ bản vẫn ghi ởbảng như tiết dạy thông thường
- Một số phương pháp kết hợp với CNTT nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy
và học:
+ Phương pháp gây hứng thú cho học sinh thông qua trình chiếu hình ảnh
Việc trình chiếu hình ảnh, phim,… là phương pháp gây hứng thú cho học sinhhiệu quả nhất trong giảng dạy vì:
Giúp cho việc dạy học được cụ thể hơn, vì vậy tăng khả năng tiếp thu kiến thức
về các sự vật, hiện tượng, các quá trình phức tạp mà học sinh khó nắm vững
Giúp giáo viên có nhiều thời gian và cơ hội thuận lợi để tổ chức hưỡng dẫn họcsinh tự chiếm lĩnh tri thức mới
Gây được sự chú ý, khơi dậy tình cảm và gây được sự cuốn hút đối với học sinh.Giáo viên có thể kiễm tra một cách khách quan khả năng tiếp thu kiến thức củahọc sinh
Là công cụ trợ giúp đắc lực cho giáo viên trong quá trình tổ chức hoạt động họctập ở tất cả các khâu của quá trình dạy học như: Tạo động cơ học tập và kích thíchhứng thú nhận thức, hình thành kiến thức mới, cũng cố hoặc kiễm tra kiến thức củahọc sinh
+ Phương pháp thúc đẩy động cơ học tập của học sinh thông qua hoat động nhóm.
Khi chia nhóm ra để hoạt động, học sinh có cơ hội tương tác hay nói cách khác làhọc từ bạn mình, từ đó rút ra được những kiến thức mà vì nhiều lý do các em chưa thểlĩnh hội được Phương pháp này sẽ phát này sẽ phát huy được tính tự lập của học sinh.Các em sẽ tự suy nghĩ, suy luận, thảo luận để cùng tìm ra phương án tôt nhất Đâychính là điều người giáo viên cần Dù phương án các em đưa ra có đúng hay không thì
Trang 10những kiến thức các em vừa thảo luận sẽ hằn sâu vào bộ nhớ của các em, giúp các emhiểu bài và nhớ lâu hơn.
Tất cả các học sinh đều hoạt động kễ cả học sinh yếu và các em sẽ bị lôi cuốnvào những hoạt động sôi nổ của bạn ngay trước mắt mình Điều này càng giúp các emnhút nhát trở nên mạnh dạn hơn
Như đã nói ở trên, học sinh chỉ có được động cơ học tập khi các em cảm thấyhứng thú đối với môn học và thấy được sự tiến bộ của mình Do vậy, ngoài việc sữdụng các tình huống lôi cuốn học sinh và những hoạt động trên lớp, giáo viên còn cầnphải biết khích lệ, động viên các em trong học tập
Để các em thấy được sự tiến bộ trong học tập, giáo viên cần phải chú ý đến tínhvừa sức trong dạy học, tránh không nên đưa ra những yêu cầu qua cao đối với họcsinh Ngoài ra giáo viên cần khuyến khích học sinh bằng cách thưởng điểm khí các emlàm đúng
+ Phương pháp sử dụng các trò chơi trong giảng dạy.
Ở phần cũng cố bài học giáo viên thiết kế trò chơi ô chữ để thu hút sự chú ý củahọc sinh, sinh động hóa giờ học Nội dung của các từ hàng ngang, hàng dọc trong ôchữ lag nội dung kiến thức học sinh đã tìm hiểu trong hoạt động dạy học trước đó.Kiến thức phải trọng tâm Tốt nhất là các kiến thức có trong sách giáo khoa
c Một số vấn đề cần lưu ý khi lên lớp:
- Khó khăn của học sinh trong tiết học CNTT là việc ghi bài do đó giáo viên nênghi bảng như những tiết dạy bình thường để học sinh có thể ghi chép được
- Việc sử dụng kênh màu, kênh chữ phải hài hòa, hợp lý, rõ ràng
- Do thời gian dành cho các thao tác thực hành của giáo viên được rút ngắn nêncần lưu ý tiến độ thực hiện bài dạy phải phù hợp với tốc độ thao tác của học sinh
d Một số phần mềm được sử dụng:
- Phần mềm PowerPoint:
+ PowerPoint là một phần mềm trình diễn, có thể sử dụng tiện lợi trong dạy học
Ưu điểm là phần mềm này là:
+ Hiệu ứng hình ảnh, màu sắc, âm thanh phong phú, có tác dụng làm giờ họcsinh động, hấp dẫn học sinh
+ Có thể chèn ảnh, sơ đồ, lát cắt, bảng số liệu thống kê, hay video, clip trên mộtphông nền có màu sắc hài hòa, giúp GV trong giải thích, mở rộng kiến thức
+ Cho phép kết nối nội dung dạy học để tạo thành một chương trình logic, mởrộng, liên kết kiền thức
+ Cho phép kết nối với trang web, một file bất kỳ trong tệp dữ liệu để tìm kiếmthông tin Đồng thời, tạo cơ sở xây dựng các nhiệm vụ hướng dẫn HS tự học
+ Cho phép kết nối các phần mềm dạy học khác có ích nhiều trong dạy học Sinhhọc
Trang 11- Phần mềm “VIOLET”:
+ Violet là phần mềm công cụ giúp cho GV có thể tự xây dựng được các bàigiảng trên máy tính một cách nhanh chóng và hiệu quả So với các công cụ khác,Violet chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài giảng có âm thanh, hình ảnh, chuyểnđộng và tương tác… rất phù hợp với HS từ tiể u học đến THPT
+ Tương tự phần mềm PowerPoint, Violet có đầy đủ các chức năng dùng để tạocác trang nội dung bài giảng như: Cho phép nhập các dữ liệu văn bản, công thức, cácfile dữ liệu multimedia (hình ảnh, âm thanh, phim, hoạt hình Flash…), sau đó lắp ghépcác dữ liệu, sắp xếp thứ tự, căn chỉnh hình ảnh, tạo các hiệu ứng chuyển độngvà biếnđổi, thực hiện các tương tác với người dùng…
e Minh hoạ kế hoạch dạy học Bài 7 “Tế bào nhân sơ” chương trình sinh học 10 [1], [2], [6], [7].
I Mục tiêu
Sau khi học xong bài này học sinh có khả năng:
1 Về kiến thức
- Mô tả được thành phần chủ yếu của một tế bào
- Mô tả được cấu trúc tế bào vi khuẩn
- Phân tích được lợi thế về kích thước nhỏ mang lại lợi thế cho vi khuẩn
2 Về kỹ năng.
- Rèn luyện kỹ năng quan sát, phân tích kênh hình
- Phát triển kỹ năng làm việc theo nhóm nhỏ
3 Về thái độ: Giáo dục ý thức hợp tác trong nhóm nhỏ.
II Phương pháp: Đặt vấn đề, vấn đáp, thảo luận nhóm, trực quan
III Phương tiện dạy học:
- Máy vi tính có giáo án điện tử (hình ảnh) do tác giả thiết kế
- Máy chiếu, bảng chiếu
IV Nội dung bài giảng.
1 Ổn định tổ chức:
2 Kiễm tra bài cũ:
- GV: Trình bày cấu trúc và chức năng của ARN ?
- Có cấu trúc với 3 thuỳ, 1 thuỳ mang bộ 3 đối mã, 1 đầu đối diện là vị trí gắn kết
a.a -> giúp liên kết với mARN và ribôxôm
-Vận chuyển a.a đến ribôxôm để tổng hợp prôtein
ARN ribôxôm(rARN)
Trang 12- Chỉ có một mạch, nhiều vùng các nu liên kết bổ sung với nhau tạo nên cácvùng xoắn cục bộ Cùng prôtein tạo nên ribôxôm.
- Là nơi tổng hợp prôtein
3 Dẫn nhập:
Gv: Em hãy nhớ lại kiến thức bài 2 và cho biết thế giới sống được cấu tao từ
những loại tế bào nào?
Hs: Được cấu tạo từ 2 loại tế bào là: Tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực.
Gv: 2 loại tế bào này được cấu tạo như thế nào chứng ta sẽ nghiên cứu trong
chương II: Cấu trúc của tế bào
Gv : Hãy quan sát trên màn hình và cho biết tế bào nhân sơ
HS: quan sát hình và trả lời được:
Tế bào được cấu tạo gồm 3 thành phần chính: + Màng sinh chất
+ Tế bào chất + Nhân hoặc vùng nhân
Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu cấu tạo tế bào nhân sơ
4 Bài mới
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung ghi bảng
Hoạt động I: Tìm hiểu đặc điểm chung của tế bào nhân sơ