SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁTRƯỜNG THPT LANG CHÁNH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI: NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 TRƯỜNG THPT LANG CHANH QUA
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT LANG CHÁNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 TRƯỜNG THPT LANG CHANH QUA VIỆC RÈN LUYỆN
KỸ NĂNG GIẢI THÍCH TRONG VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Người thực hiện: Lê Diệu Lan
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2020
Trang 2MỤC LỤC
a Vai trò của kĩ năng giải thích trong bài văn nghị luận của
học sinh giỏi
b Thực tế bài làm của học sinh
a Quan niệm về kĩ năng giải thích
b Phạm vi sử dụng thao tác giải thích
c Các phương pháp giải thích
2.3.Giải pháp vận dụng kĩ năng giải thích trong bài văn nghị
luận xã hội
3-11
a Cách thức chung
b Vận dụng kĩ năng giải thích trong bài văn nghị luận xã hội
2.4 Hiệu quả của việc rèn thao tác giải thích cho đối tượng
học sinh giỏi Ngữ văn lớp 11
11
Trang 3
1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài:
a Vai trò của kĩ năng giải thích trong bài văn nghị luận của học sinh giỏi:
Đối với bài làm văn nghị luận xã hội của học sinh giỏi, kĩ năng giải thích có vai trò hết sức quan trọng Giải thích đúng là điều kiện cơ bản, tiên quyết để xác định trúng vấn đề nghị luận, từ đó có định hướng chính xác để phân tích các khía cạnh của vấn đề, sử dụng lí lẽ, dẫn chứng phù hợp Kĩ năng giải thích cũng giúp người viết có thể lí giải nguyên nhân các đặc điểm giống, khác nhau của các đối tượng nghị luận từ đó có những bình luận sâu sắc về vấn đề, thể hiện tư duy của học sinh giỏi Như vậy có thể coi giải thích là khâu đầu tiên và cũng là chiếc chìa khóa quyết định thành công bài văn của học sinh giỏi
b Thực tế bài làm của học sinh:
Mặc dù kĩ năng giải thích có vai trò quan trọng như vậy, nhưng thực tế, không phải học sinh nào trong qúa trình làm bài cũng chú ý đến thao tác này Nhiều trường hợp khi làm bài nghị luận xã hội, các em bỏ qua thao tác giải thích hoặc giải thích sơ sài dẫn đến việc lạc đề, xa đề, khi đánh giá vấn đề cũng không hoàn toàn chính xác, không có cái nhìn thấu đáo về vấn đề cần nghị luận
Từ việc nhìn nhận vai trò của kĩ năng giải thích trong bài văn của học sinh
giỏi cũng như thực tế bài làm của học sinh, tôi đã chọn đề tài “Nâng cao hiệu
quả công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 11 trường THPT Lang Chanh qua việc rèn luyện kỹ năng giải thích trong văn nghị luận xã hội”.
1.2 Mục đích của đề tài:
Với đối tượng học sinh giỏi, việc rèn kĩ năng giải thích lại càng cần thiết Vì vậy, thực hiện đề tài này, tôi hướng tới mục đích đưa ra cái nhìn tương đối hệ thống về việc rèn học sinh cách vận dụng thao tác giải thích, hình thành cho các
em kĩ năng giải thích vấn đề để từ đó linh hoạt, chủ động trong từng tình huống cụ thể, đáp ứng nhiệm vụ học tập của một học sinh giỏi
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Sử dụng thao tác giải thích trong kiểu bài Nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lý và Nghị luận về một vấn đề, một hiện tượng của đời sống cho đối tượng học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 11 Từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn trường THPT Lang Chánh Thời gian nghiên cứu đề tài từ tháng 1/2019 đến nay
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Tiến hành nghiên cứu các văn bản, các bài viết có nội dung về kỹ năng viết văn nghị luận xã hội
Trang 4- Thực hiện các phương pháp: thực nghiệm, quan sát, điều tra, đối chiếu với các tiết học không vận dụng giải pháp
1.5 Một số vấn đề cần lưu ý khi rèn kĩ năng giải thích cho học sinh giỏi Văn:
Thứ nhất, cần lưu ý, khi rèn kĩ năng giải thích cho học sinh, cần gắn với việc ôn lại thao tác lập luận giải thích Trong chương trình Ngữ văn, các em được học các thao tác lập luận phân tích, giải thích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận Tuy nhiên thời lượng chương trình dành cho bài học và luyện tập về các thao tác lập luận không nhiều Hơn nữa, học sinh đã được học về thao tác lập luận giải thích từ THCS, ở cấp THPT các em chỉ ôn lại thao tác này Trong khi đó, thực tế là thao tác giải thích lại cần được vận dụng thường xuyên trong suốt quá trình học tập Ngữ văn của học sinh, từ việc giải thích từ ngữ, hình ảnh trong văn bản, đến việc giải thích ý kiến, vấn đề trong các giờ học Làm văn và cuối cùng là ở khâu viết bài Vì vậy, giáo viên cần thường xuyên rèn cho các em kĩ năng này Hình thức thực hiện cũng linh hoạt: trong các giờ đọc hiểu văn bản, trong giờ học Làm văn, đặc biệt khi học sinh viết bài kiểm tra, giáo viên cần chấm, chữa kĩ, giúp các em hình dung cụ thể thông qua bài làm của mình chỗ nào cần sử dụng thao tác giải thích, cách giải thích vấn đề như thế nào
Điểm lưu ý thứ hai khi rèn kĩ năng giải thích cho học sinh giỏi đó là trong bài văn nghị luận xã hội, thông thường người viết không sử dụng một, hai thao tác lập luận mà vận dụng kết hợp các các thao tác Giáo viên cần hướng dẫn học sinh xác định các thao tác lập luận cần vận dụng ở từng đề bài ngay từ khâu phân tích đề, sau xác định mức độ vận dụng từng thao tác, thao tác nào là chính, vị trí sử dụng các thao tác trong bài văn Để rèn kĩ năng giải thích cho học sinh giỏi, bước đầu giáo viên giúp học sinh xác định cụ thể từng phần, mục cần giải thích; hướng dẫn cách giải thích từng phần, mục đó; sau cùng là luyện viết đoạn văn giải thích, cách đưa đoạn giải thích vào bài văn thật tự nhiên, nhuần nhuyễn
2 PHẦN NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận:
a Quan niệm về kĩ năng giải thích:
Giải thích được hiểu là cắt nghĩa một sự vật, hiện tượng, khái niệm để người khác hiểu rõ, hiểu đúng vấn đề Nói khác đi, trong đời sống, giải thích là làm cho hiểu rõ những điều chưa biết trong mọi lĩnh vực Trong văn nghị luận,
giải thích là “dùng lí lẽ để giảng giải, cắt nghĩa giúp người đọc, người nghe
hiểu rõ một hiện tượng, một vấn đề nào đó” [5] Nhờ vậy, giải thích giúp nâng
cao nhận thức, trí tuệ, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho con người Như vậy rèn kĩ năng giải thích là giúp học sinh biết cách vận dụng thao tác lập luận giải thích trong quá trình học tập bộ môn Ngữ văn, đặc biệt là trong các bài viết nghị luận
xã hội của học sinh giỏi
b Phạm vi sử dụng thao tác giải thích:
Trang 5Trong bài văn nghị luận xã hội, học sinh vận dụng thao tác giải thích chủ yếu ở phần thân bài Học sinh giải thích các khái niệm khó, các ý kiến để rút ra vấn đề cần nghị luận
c Các phương pháp giải thích:
- Phương pháp nêu định nghĩa
- Phương pháp liệt kê các biểu hiện
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp chỉ ra nguyên nhân
- Phương pháp nêu các mặt lợi, hại của vấn đề [1]
2.2 Thực trạng của vấn đề:
Như đã trình bày ở phần lí do chọn đề tài, mặc dù kĩ năng giải thích có vai trò quan trọng trong quá trình viết bài văn nghị luận xã hội, nhưng thực tế, không phải học sinh nào trong quá trình làm bài cũng chú ý đến thao tác này, thực hiện thao tác giải thích một cách thành thạo, linh hoạt, đa dạng Thậm chí, có trường hợp khi làm bài nghị luận xã hội, các em bỏ qua thao tác giải thích hoặc giải thích sơ sài dẫn đến việc lạc đề, xa đề, khi đánh giá vấn đề cũng không hoàn toàn chính xác, không có cái nhìn thấu đáo về vấn đề cần nghị luận Cho nên trong phạm vi đề tài này, tôi đưa ra những giải pháp để giúp đỡ học sinh rèn luyện tốt kĩ năng giải thích để đạt hiệu quả tốt trong viết văn nghị luận xã hội Kết quả điều tra, khảo sát trong những năm gần đây:
Cấp trường Cấp tỉnh
2.3 Giải pháp vận dụng kĩ năng giải thích trong bài văn nghị luận xã hội:
a Cách thức chung:
Trong bài văn nghị luận, học sinh cần xác định được vấn đề cần giải thích, sau đó là các phương pháp giải thích phù hợp cần vận dụng để giải thích vấn đề Muốn vậy học sinh cần có cách thức chung để giải thích Các em phải đọc kĩ đề bài, gạch chân các từ ngữ quan trọng, các khái niệm cần giải thích Thông thường, cách giải thích hữu hiệu nhất đó là các em biết đặt ra các câu hỏi và trả lời các câu hỏi đó Ở đây, tôi chia ra cách vận dụng kĩ năng giải thích gắn với từng dạng đề nghị luận xã hội [1]
b Vận dụng kĩ năng giải thích trong bài văn nghị luận xã hội:
Trong bài văn nghị luận xã hội, giải thích là kĩ năng cực kì quan trọng Ở bất cứ đề nghị luận xã hội nào học sinh cũng cần vận dụng thao tác này Với học sinh giỏi, để bộc lộ ý kiến của mình về các vấn đề xã hội một cách sâu sắc, chân
Trang 6thành, thể hiện quan điểm, lập trường riêng phù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hóa, thì giải thích là khâu không thể thiếu Tôi hướng dẫn học sinh luôn tự đặt ra cho mình các câu hỏi trong đầu và bài làm chính là sự hiện thực hóa việc trả lời các câu hỏi đó Kĩ năng giải thích cũng được vận dụng trong từng phần, mục ở thân bài của bài văn nghị luận xã hội
* Vận dụng kĩ năng giải thích để xác định vấn đề xã hội cần nghị luận:
Thông thường, với đề nghị luận xã hội, người ra đề thường đưa ra một ý kiến hoặc một vấn đề, một câu chuyện và yêu cầu học sinh bày tỏ suy nghĩ Muốn xác định đúng vấn đề xã hội cần nghị luận, tôi hướng dẫn học sinh tự đặt cho mình các câu hỏi: Trong đề bài có từ ngữ, hình ảnh nào đáng chú ý, cần giải thích? Nghĩa đen, nghĩa bóng của các từ ngữ, hình ảnh, cách diễn đạt đó là gì? Thực chất ý kiến đặt ra vấn đề gì, khuyên ta điều gì? Tùy từng đề bài, học sinh phải biết cách linh hoạt tự đặt ra các câu hỏi phù hợp Trả lời những câu hỏi đó, các em sẽ xác định được vấn đề cần bàn luận Vì vậy có thể nói giải thích là khâu đầu tiên nhưng vô cùng quan trọng bởi lẽ học sinh xác định đúng hay sai, bàn luận trúng vấn đề hay xa đề, lạc đề cũng do khâu giải thích ban đầu này quyết định
Phương pháp giải thích được vận dụng phổ biến nhất ở đây là nêu định nghĩa Chẳng hạn, với một số đề bài sau:
Đề : Thomas Fuller cho rằng: "Đừng để ý chí của mình gầm lên khi năng lực chỉ đủ sức thì thầm"Bằng bài văn có độ dài khoảng 400 chữ, anh/chị hãy bày
tỏ suy nghĩ của mình về ý kiến trên.
Với đề này, học sinh cần vận dụng thao tác giải thích để giải mã thông điệp mà ý kiến muốn nhắn gửi đến mỗi chúng ta, cũng chính là xác định vấn đề nghị
luận Trước hết các em phải giải thích ý nghĩa các từ ngữ quan trọng: ý chí gầm
lên,năng lực chỉ đủ sức thì thầm thì thầm, phát hiện cách nói đối lập rồi rút ra
vấn đề cần bàn luận Ý kiến có thể được giải thích như sau: Ý chí gầm lên:
những suy nghĩ, cảm xúc, ý muốn chủ quan quá lớn, chi phối, lấn át con người
một cách không kiểm soát được, thiếu bình tĩnh, sáng suốt Năng lực chỉ đủ
sức thì thầm: Là khả năng thực tế của bản thân nhỏ bé, yếu ớt Nội dung ý
kiến: Đây là lời khuyên, lời nhắc nhở với mọi người cần biết kiểm soát suy nghĩ,
ý muốn của mình cho phù hợp với năng lực của bản thân Vấn đề cần bàn luận ở đây là mối quan hệ giữa ý muốn chủ quan và năng lực cá nhân
Đề: Từ các ý kiến sau:
"Im lặng là cấp độ cao nhất của sự khôn ngoan Ai không biết im lặng là không biết nói" ( Pythagos)
"Nghe nhiều thêm khôn ngoan, nói nhiều thêm hối hận, im lặng là nghệ thuật lớn lao của cuộc đàm thoại." ( Tuân Tử)
Trang 7"Trong thế giới này, chúng ta không chỉ xót xa vì những hành động và lời nói của người xấu mà còn cả vì sự im lặng đáng sợ của người tốt"(Matin Luther King)
Anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Muôn kiểu im lặng.
Đầu tiên, giáo viên hướng dẫn học sinh giải thích khái niệm im lặng.Dưới phương diện giao tiếp thì ta có thể định nghĩa cụm từ im lặng như sau: “Im lặng
là sự nín nhịn, chịu đựng trong những tình huống giao tiếp căng thẳng, không tham gia vào những cuộc cãi vã không cần thiết” Hoặc thông thường, chúng ta
hiểu người im lặng đơn thuần là người không nói, không gian im lặng, hay tĩnh lặng là không gian không có âm thanh, không có tiếng động – những khái niệm ngược lại với nói, với ồn ào…
Bám vào những câu trích dẫn ở đề bài, đặt ra câu hỏi: trong cuộc sống có
những kiểu im lặng nào? Ta thấy các kiểu im lặng " Im lặng là cấp độ cao nhất
của sự khôn ngoan"; " im lặng là nghệ thuật lớn lao của cuộc đàm thoại", "sự im lặng đáng sợ của người tốt Sau đây là phần tham khảo:
Các cụ dạy: con người cần ba năm để học nói nhưng cần tới 60 năm để học
im lặng – nhưng đó là sự im lặng của lí trí, của chiêm nghiệm, trải nghiệm khôn ngoan, sự im lặng của thái độ chín chắn, điềm đạm, trái ngược với sự bộp chộp, nông nổi, nóng vội… Sự im lặng ấy đáng trọng vì độ chín của trí tuệ, độ đằm của tính cách, nhưng nhiều khi khiến người bên cạnh ngần ngại kính nhi viễn chi bởi có thể sẽ nhận ra sự thiếu hụt của tri thức và sự bồng bột non nớt của chính mình, nhất là nhận ra sự im lặng ấy nhiều khi còn là phiên bản của tính toán, cẩn trọng, của thái độ cao đạo, ngạo mạn Đó là sự im lặng khôn ngoan!
"Trong thế giới này, chúng ta không chỉ xót xa vì những hành động và lời nói của người xấu mà còn cả vì sự im lặng đáng sợ của người tốt" Sự im lặng
này lại là thái độ, là cách sống, có khi hiểu theo nghĩa đen, khi những người được coi là người tốt, lương thiện nhưng hèn nhát, không dám nói ra những điều khiến họ bất bình, thậm chí căm phẫn, cứ ngậm bồ hòn tự khen là ngọt, họ cứ im lặng, tự nhủ im lặng là vàng, tự đắc ngậm miệng ăn tiền… Đó là sự im lặng hèn hạ
Nhưng khái niệm “im lặng” trong câu nói của Luther King không chỉ là
nghĩa đen của sự không nói, có người nói rất nhiều, rất hăng và rất hay, rất hùng
biện tựa lưu thủy hành vân với trường ngôn tráng ngữ, nhưng vẫn là đang “im
lặng” khi họ lảng tránh việc bộc lộ thái độ với cái sai, cái xấu, cái ác… họ nói
ngoài đề, họ nói chung chung, thậm chí họ ngợi ca đổi trắng thay đen, đánh tráo khái niệm… Khi cả cộng đồng, dù xã hội hay mạng xã hội lên án sự độc ác, bất công, hoặc xót thương những khốn khổ, bất hạnh bởi thiên tai, nhân tai…, họ vô
vi an nhiên hồn nhiên mặc nhiên ngắm hoa thưởng trà, thích thú chia sẻ những phần mềm vô bổ, tuyệt đối tránh bộc lộ chính kiến hoặc xúc cảm mang chút xíu đặc thù nhân tính… Đó là sự im lặng vô cảm!
Trang 8Cũng có những sự im lặng của lưỡng lự, phân vân, của tự ti mặc cảm, của bối rối đắn đo…, sự im lặng trong khoảnh khắc để rồi, khoảnh khắc ấy qua đi, cơn mưa tạnh, làn gió qua, bóng trăng khuất, đầm sen tàn…, không còn cái không gian khả dĩ cất lời, người ta trống trải heo hút trong suốt cả cuộc đời,
“Chỉ có một lần thôi/ Em hỏi, anh im lặng/ Thế là em hờn giận/ Để chúng mình
xa nhau…” Khi ấy, có thể họ vẫn nói, thậm chí nói nhiều, ngoại trừ điều duy
nhất người khao khát muốn nói, người hồi hộp muốn nghe, lại ngập ngừng giấu kín trong lòng… Đó là sự im lặng lỡ làng!
Một trong những điều gây phản cảm nhất trong giao tiếp thông thường, đó là khi hai bên thấy nhạt nhẽo, gượng gạo, thấy hết chuyện, cạn lời; khi người ta vì tiếc nuối nên cố gắng níu giữ mối quan hệ như một thói quen khó bỏ, khi mỗi người, nhìn chấm xanh từ trang nhà bạn, rụt rè type một lời chào, vừa hồi hộp, vừa ngại ngần, gắng nghĩ trước chủ đề nói chuyện, mà càng nghĩ, càng thấy khách sáo, xa xôi… Có thể cuộc hội thoại hầu như không gián đoạn, nhưng họ đều có thể đã nhận ra sự gián đoạn trong lòng mình, không thể chắp nối Sự im lặng trong những lúc đó khiến ta ngượng ngập hoặc buồn bã hiểu rằng: đây là sự
im lặng trống rỗng!
Nhưng hình như trong cuộc đời này vẫn còn những sự im lặng khác Không duy lí mà duy cảm Không trống rỗng mà tràn đầy Không vô cảm mà chan chứa… Đó là sự im lặng tự nó chứa ngôn từ của tình yêu, của sự bày tỏ khi một
người ngần ngại với một người, và quyết định “sẽ lặng im để nói”! Đây là câu
thơ tôi đọc được đâu đó từ một trang vở thuở xa xôi, xa xôi tới mức tôi đã quên cả bài thơ lẫn tác giả, chỉ còn nhớ câu cuối – câu thơ khiến tôi liên tưởng tới nhan đề bài hát The sound of silence, nhưng ngẫm ra vẫn không phải, không phải đi tìm thanh âm của sự im lặng mà là mượn sự im lặng huyền diệu để nói ra điều kì diệu không dễ nói bằng lời Tất nhiên, chỉ nói được với người biết nghe thấu thanh âm của sự im lặng Đó là sự im lặng chứa lời!
Nhưng sự im lặng chứa lời thực chất vẫn còn hàm chứa một nỗ lực bộc lộ, tỏ bày, chia sẻ, còn có một sự im lặng khác, khi hai người ngồi bên nhau, lặng lẽ, giống như thờ ơ…! Đó là khi quan hệ giữa họ đã đủ cho sự thấu hiểu, họ không cần bày tỏ, khi mỗi người tự thấy lòng mình tràn đầy cảm xúc và sự bình yên, họ không cần lắng nghe những âm thanh tựa như tạp âm bên ngoài, họ đã đi qua cảnh giới phải tạo dựng một hội thoại khả dĩ lấp đầy cái im lặng trống rỗng bên trong, khi ấy, điều họ cần chỉ là ngồi bên nhau, người này cảm nhận sự hiện diện đầy thấu hiểu và ấm áp của người kia – đó là lúc họ không cần nhiều lời, không cần cố gắng, không cần bày tỏ, sự im lặng khi ấy là không gian bình yên thanh thản chỉ có thể xuất hiện khi ta ở bên người tri kỉ, tri âm Đó là sự im lặng
êm đềm! [3]
Bên cạnh phương pháp giải thích khái niệm thì tôi hướng dẫn học sinh giải thích vấn đề theo cách gián tiếp Thay vì trình bày A là: , tôi hướng dẫn
Trang 9học sinh kể ngắn gọn một câu chuyện hoặc những dẫn chứng có liên quan tới
vấn đề nghị luận sau đó chốt lại vấn đề Chẳng hạn với đề bài về Căn bệnh vô
cảm của giới trẻ hiện nay, tôi hướng dẫn học sinh theo hai cách:
- Cách 1: Nêu khái niệm: Vô cảm là không có cảm xúc, thờ ở, lãnh đạm với mọi việc xảy ra xung quanh Bệnh này thể hiện ở chỗ không hề động lòng trước những nỗi đau của người khác, cũng như không hề phẫn nộ trước những tệ nạn
xã hội xảy ra trước mắt Con người hầu như trở nên vô tình trước cuộc sống của người khác, thậm chí thờ ơ với cả những vấn đề của chính mình
- Cách 2: Nêu dẫn chứng sau đó rút ra kết luận:
+ Mới đây, cư dân mạng lại giật mình trước hành vi côn đồ của một nhóm
nữ sinh ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội… với những màn đánh đập, xé áo, cắt tóc “Người quay lại những hình ảnh đó là một nam sinh Kèm theo những lời chửi bới của những cô gái hành hung, còn cổ vũ nhiệt tình, hứng khởi của anh chàng này: “Cởi áo đi, cởi áo đi, xé áo đi…!!!”
+ Trong thời gian gần đây, tình trạng tội phạm giết người càng được trẻ hóa Rất nhiều tội phạm đang ở thế hệ 8x, 9x Chẳng hạn mới đây, dư luận xôn xao về vụ thảm sát, cướp tiệm vàng Ngọc Bích (phố Sàn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang) “Kẻ vô cảm” đã giết ba mạng người, đó là thanh niên Lê Văn Luyện, 17 tuổi Ngoài ra, còn có Hồ Nhật Linh,18 tuổi, ngụ tại Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã đâm 95 nhát dao vào thai phụ có bầu 8 tháng tuổi, sau đó vứt xác nạn nhân xuống mương…
Đó chẳng phải là những biểu hiện, những hành vi của căn bệnh vô cảm đang diễn biến rất phức tạp trong xã hội, nhất là ở một bộ phận giới trẻ.Vô cảm
đã trở thành một căn bệnh nguy hiểm Nó biến con người thành sỏi đá Những học sinh đánh bạn không cảm nhận được nỗi đau đớn về thể xác và tinh thần của bạn, thậm chí thấy hả hê, sung sướng khi bạn bị hành hạ, sỉ nhục Còn những sát nhân tuổi 17,18 có những hành vi máu lạnh thật đáng sợ
* Vận dụng kĩ năng giải thích để bàn luận về vấn đề xã hội:
Trọng tâm của bài văn nghị luận xã hội nằm ở phần bàn luận Ở phần này, học sinh vận dụng tổng hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh Thao tác giải thích giúp học sinh bàn luận, lí giải về vấn đề sâu sắc, có sức thuyết phục hơn Sau khi đã xác định được chính xác vấn đề xã hội cần nghị luận, học sinh có thể tự đặt ra cho mình các câu hỏi như: Ý kiến có đúng không? Tại sao lại nói như vậy? Nguyên nhân của vấn đề là gì? Kĩ năng giải thích sẽ giúp các em trả lời các câu hỏi đó
Chẳng hạn, cũng với đề "Đừng để ý chí của mình gầm lên khi năng lực chỉ
đủ sức thì thầm", học sinh có thể khẳng định ý kiến đưa ra là đúng Nhiệm vụ tiếp
theo của các em là lí giải vì sao nó đúng Học sinh có thể tự đặt câu hỏi: Vì sao nói đừng để ý chí gầm lên khi năng lực chỉ đủ sức thì thầm? Và đây là một hướng giải thích với các ý chính như sau:
Trang 10- Sống có ý chí, có khát khao lớn là điều tốt: giúp ta dám ước mơ, dám đặt
ra những mục tiêu lớn; thôi thúc ta nỗ lực thực hiện khát vọng, tạo nên tính tự chủ, độc lập, sáng tạo,
- Tuy nhiên cần phải làm chủ, tỉnh táo kiểm soát cảm xúc, khát vọng của mình cho phù hợp với năng lực thực tế của bản thân Nhằm:
+ Tránh chủ quan duy ý chí, không lượng đúng sức mình, đặt ra mục tiêu quá lớn sẽ dẫn đến thất bại Từ đó dẫn tới những hậu quả đáng tiếc: tổn thất thời gian, tiền bạc, sức lực,
+ Không ảo tưởng về bản thân Biết mình, hiểu đúng năng lực, giá trị của mình khiến ta tựu tin nhưng không kiêu ngạo, khiêm nhường chứ không tự ti, Với đề nghị luận về một hiện tượng đời sống, sau khi nêu ra thực trạng, hậu quả, học sinh còn phải lí giải nguyên nhân của hiện tượng, cả nguyên nhân khách quan và chủ quan
Chẳng hạn cũng với đề: bệnh vô cảm ở giới trẻ hiện nay Có rất nhiều
nguyên nhân dẫn đến tình trạng vô cảm và tha hoá đạo đức của giới trẻ, nhưng tựu chung, cái gốc chính là cách sống của giới trẻ ngày nay, và cách giáo dục nhân bản từ trong gia đình cho đến nhà trường và ngoài xã hội còn quá thờ ơ, hời hợt
- Do bản thân sự vô cảm bắt nguồn từ lối sống ích kỷ, thực dụng, hưởng thụ là nguyên nhân khiến người ta cảm thấy cuộc sống nhàm chán, đơn điệu, vô nghĩa Hậu quả là, những xúc cảm đạo đức bị hạn chế, thậm chí bị triệt tiêu
- “Gia đình chính là tế bào của xã hội, gia đình mà tốt đẹp thì xã hội mới tốt đẹp được” Nhưng dường như nhiều gia đình ngày nay không coi trọng điều này, không quan tâm đến việc dạy con phải có sự đồng cảm, yêu thương, giúp
đỡ và biết tha thứ cho người khác Bởi lẽ, cha mẹ thiếu gương mẫu về đạo đức, về lối sống, cũng không quan tâm dạy bảo con cái Hiện nay, có bao nhiêu bậc cha mẹ chịu bỏ thời gian dạy con cái biết cách đối nhân xử thế, biết tôn trọng mình và tôn trọng người khác, dạy con có lòng khoan dung, độ lượng, vị tha và những chuẩn mực giá trị đạo đức mà con người phải sống theo và tôn trọng với
tư cách là một con người? Hơn nữa, nhiều phụ huynh vì cưng chiều con nên đáp ứng tất cả những yêu cầu vô lối của con một cách vô điều kiện Thế nhưng, họ lại không dạy con phải biết chia sẻ, quan tâm và có trách nhiệm với người thân, với bạn bè Một đứa trẻ chỉ biết "nhận" chứ không biết "cho" sẽ nghèo nàn về cảm xúc, vô tâm trước đòi hỏi của tình người, và bàng quan trước nỗi đau của kẻ khác
- Nhà trường là nơi đào tạo ra những con người có tài đức, biết quan tâm đến mọi người và tích cực phục vụ cho nhân quần xã hội Thế mà ngày nay, trong một số trường học, người ta chỉ chú tâm đến việc nhồi nhét tri thức, còn vấn đề đạo đức dường như đang bị bỏ ngỏ, thậm chí có những trường chỉ dạy môn giáo dục công dân cho qua lần chiếu lệ Bên cạnh một số thầy cô mẫu mực,